Saturday, July 27, 2013

DHAMMACAKKAPPAVATTANASUTTA - KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Bài kinh do cậu Dhammaruwan lúc mới hai tuổi tụng đọc:
http://namtong.org/mp3/Dhammaruban/Dhammachakka.mp3

Mr. Chandrasiri Seneviratne (Dhammaruwan) was born in a small village near Kandy, Sri Lanka in November, 1968. From the age of about two, before he could read or write, he spontaneously started to chant the ancient Buddhist scriptures in the original pali language, known only a two few scholar monks.
Each day, somewhere around two o'clock in the morning, after sitting in meditation with his adopted and devoutly Buddhist foster father for about twenty to forty munits, he would spontaneously start to chant pali suttas. On the special Poya or lunar Observance day, he would sometimes chant for two hours.
Dhammaruwan's foster father starting making amateur recording of the chanting and invited prominent scholar monk to listen. The monk verified that it was indeed the ancient pali language and the boy was chanting it in an ancient style.
http://www.nirodhatrust.org/NT/Home.html
http://www.sobhana.net/audio/chants/dhammaruwan/

Evamme suttaṃ.
Tôi (tên là A-NAN-ĐA) được nghe lại như vầy:

Ekaṃ samayaṃ Bhagavā Bārāṇasiyaṃ viharati Isipatane migadāye.
Thuở đức Thế Tôn ngự tại rừng Hưu (Isipatanamigadāyavana) gần thành Bārāṇasī.

Tatra kho Bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi.
Đức Thế Tôn một hôm gọi 5 Thầy Tỳ khưu, ngụ nơi ấy, dạy rằng:

Dveme bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! 2 Pháp thái quá, là Pháp tu thấp thỏi. Những bậc xuất gia, chẳng nên xu hướng theo, chẳng nên hành theo.

Katame dve?
Hai Pháp thái quá ấy, thế nào?

Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno, gammo.
Một là, Pháp làm cho thân tâm quyến-quyến theo tình dục, Pháp hèn hạ.

Pothujjaniko, anariyo.
Pháp của kẻ thế, Pháp của Phàm nhơn, chẳng phải của bậc cao nhơn.

Anatthasañhito.
Chẳng có lợi ích chi.

Yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho.
Hai là, Pháp làm cho khổ khắc thân tâm, nhân làm cho thân hình đau đớn.

Anariyo.
Chẳng phải là Pháp của bậc cao nhơn.

Anatthasañhito.
Chẳng có lợi ích chi.

Ete te [kho] bhikkhave ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự tu hành theo con đường giữa, không thiên theo 2 điều thái quá ấy, mà Như Lai đã được đại ngộ, là Pháp làm cho phát sanh, sự thấy biết phân minh, sự an tịnh có Trí tuệ, sự hiểu biết chơn chánh, sự dứt khổ.

Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự tu hành theo con đường giữa, mà Như Lai đã được đại ngộ, là sự tu hành cho phát sanh Tuệ Nhãn, sự hiểu biết phân minh đích xác, sự an tịnh có Trí tuệ, sự hiểu biết chơn chánh, sự dứt khổ ấy là thế nào?

Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Là Bát Chánh đạo, Pháp như con đường có 8 nẻo cao thượng.

Seyyathidaṃ?
Bát Chánh đạo ấy thế nào?

Sammādiṭṭhi.
Thấy hiểu chơn chánh.

Sammāsaṅkappo.
Suy nghĩ chơn chánh

Sammāvācā
Nói lời chơn chánh.

Sammākammanto.
Nghề nghiệp chơn chánh.

Sammāājīvo
Nuôi mạng chơn chánh.

Sammāvāyāmo.
Tinh tấn chơn chánh.

Sammāsati
Tư tưởng chơn chánh

Sammāsamādhi.
Định tâm chơn chánh.

Ayaṃ kho sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bát chánh đạo, là con đường giữa, mà Như Lai đã đi và đã được đại ngộ, là sự tu hành theo, cho đặng phát sanh Tuệ Nhãn, sự hiểu biết phân minh thật tướng, tu cho đặng sự an tịnh, cho có Trí tuệ, cho đặng hiểu biết chơn chánh, cho đặng dứt khổ.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ jātipi dukkhā jarāpi dukkhā byādhipi dukkhā maraṇampi dukkhaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā appiyehi sampayogo dukkho piyehi vippayogo dukkho yampicchaṃ na labhati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sanh, là sự hội họp ngũ uẩn, là nhân đem đến sự khổ; Lão, là già cả yếu đuối, cũng là nhân đem đến sự khổ; Bịnh, là sự đau ốm cũng là nhân đem đến sự khổ; Tử, là sự tan rã ngũ uẩn, cũng là nhân đem đến sự khổ; Uất ức, bực tức trong lòng không bày tỏ ra được, cũng là nhân đem đến sự khổ; Không ưa mà họp, cũng là nhân đem đến sự khổ; Ưa mà phải lìa, cũng là nhân đem đến sự khổ.

Tampi dukkhaṃ saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Các sự thống khổ hầu hết có nhân sanh khổ ấy, gọi là Khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhasamudayo ariyasaccaṃ yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā nandirāgasahagatā.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự thương muốn nào hằng tạo ra kiếp thoát sanh mới, do bởi tình dục là mối ham muốn trong lòng, thường thường ưa thích điều vui sướng theo các cảnh giới; Sự thương muốn ấy là thế nào?

Tatra tatrābhinandinī seyyathidaṃ kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
Sự thương muốn ấy là:
- Ca-má-tanh-ha (Kāmataṇhā) [1].- Phá-quá-tanh-ha (Bhavataṇhā) [2].- Quí-phá-quá-tanh-ha (Vibhavataṇhā) [3].
Cả 3 sự thương muốn ấy gọi là Tập khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodho ariyasaccaṃ yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Cách dứt khỏi sự thương muốn, chẳng còn dư sót, do nhờ Bát-Chánh-Đạo, cách tránh khỏi ái dục, cách dứt bỏ ái dục, cách thoát khỏi ái dục chẳng còn dư sót, do nhờ Bát-Chánh-Đạo ấy, gọi là Diệt khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṃ sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājivo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bát-Chánh-Đạo cao thượng ấy là thế nào? Là: Hiểu biết chơn chánh; Suy nghĩ chơn chánh; Nói lời chơn chánh; Nghề nghiệp chơn chánh; Nuôi mạng chơn chánh; Tinh tấn chơn chánh; Tư tưởng chơn chánh;Định tâm chơn chánh; Bát-Chánh-Đạo ấy gọi là: Diệt khổ Đạo Diệu-đế.

Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Khổ Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng Khổ Diệu-đế nầy, nên ghi nhớ bằng Trí tuệ như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññātanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Khổ Diệu-đế nầy, Như Lai đã ghi nhớ được rồi như thế.

Idaṃ dukkhasamudayo ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Tập khổ Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy được hiểu rằng: Tập khổ Diệu-đế nầy, phải dứt trừ như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahīnanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Tập khổ Diệu-đế nầy, Như Lai đã hành được phân minh như thế.

Idaṃ dukkhanirodho ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Đây là Diệt-khổ Diệu-đế như thế .

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Diệt-khổ Diệu-đế nầy phải hành cho phân minh như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikatanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Diệt-khổ Diệu-đế nầy Như Lai đã hành được phân minh như thế.

Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Diệt-khổ Đạo Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Diệt-khổ Đạo Diệu-đế nầy phải hành cho tăng tiến như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Diệt-khổ Đạo Diệu-đế nầy, Như Lai đã hành được tăng tiến rồi như thế.

Yāvakīvañca me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bao giờ Tuệ biết rõ, thấy rõ theo lẽ chánh: Có 3 Luân [4], 12 Thể [5] vận chuyển trong Tứ Diệu-Đế ấy chưa phát sanh trong sạch đến Như Lai.

Neva tāvāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇa brāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Trong khi Như Lai chưa có sự hiểu biết cao siêu hơn trong các thế giới luôn cả cõi Trời, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, trong vòng nhứt thiết chúng sanh, luôn cả bậc Sa-Môn và Bà-La-Môn, cùng chư nhơn và ngoài hạng người ra nữa, thì Như Lai cũng chưa gọi mình là bậc chứng quả Chánh-Biến-Tri vậy.

Yato ca kho me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Khi nào Tuệ biết rõ, thấy rõ theo lẽ Chánh, có 3 luân và 12 thể, theo trong Tứ Diệu-Đế ấy đã phát sanh trong sạch đến Như Lai.

Athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇa brāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Thì Như Lai được gọi là bậc Vô thượng Chánh-Biến-Tri, vì trong các thế giới, những cõi Trời, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên trong vòng nhứt thiết chúng sanh, luôn cả bậc Sa-Môn, và Bà-La-Môn, cùng chư nhơn và ngoài hạng người ra nữa, chẳng có sự hiểu biết nào, cao siêu hơn sự hiểu biết của Như Lai.

Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni punabbhavoti.
Tuệ biết rõ, thấy rõ đã phát sanh cho nên Như Lai biết rằng sự giải thoát phiền não của Như Lai chẳng còn lay động, biến đổi nữa, kiếp nầy là kiếp chót, từ đây Như Lai chẳng còn thọ sanh kiếp khác nữa.

Idamavoca Bhagavā attamanā pañca vaggiyā bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn giảng giải kinh “Chuyển Pháp-Luân” rồi, 5 Thầy Tỳ khưu phát lòng hoan hỷ vô hạn.

Imasmiñca pana veyyākaraṇasmim bhaññamāne āyasmato Koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi yaṃkiñci samudayadhammaṃ sabbantaṃ nirodhadhammanti.
Trong khi đức Như Lai giảng giải kinh vô kệ này, thì Pháp Nhãn là đạo Tu-Đà-Hườn, đạo diệt trừ bụi nhơ là tình dục, phát sanh đến Kiều-Trần-Như, Ngài đã biết rõ: Cái chi có tánh cách sanh tự nhiên, đều có tánh cách diệt tự nhiên.

Pavattite ca Bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuṃ etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaneṇa vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Khi đức Như Lai giảng giải kinh “Pháp-Luân” vừa dứt, tất cả Chư Thiên ngự trên địa cầu bèn ca tụng rằng: Bánh xe Pháp này là bánh xe vô thượng, những Sa-Môn, Bà-La-Môn, Chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên hoặc một bậc nào trong thế giới, đều không diễn giải được. Chỉ có đức Như Lai Ngài giảng giải rồi, trong rừng Isipatanamigadāya, gần thành Bārāṇasī.

Bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Cātummahārājikā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Tứ Đại Thiên-Vương được nghe tiếng ca tụng của Chư Thiên ngự trên địa cầu, rồi bèn đồng nhau ca tụng theo lời ngợi khen ấy.

Cātummahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Đạo-Lợi được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Tứ Đại Thiên-Vương, rồi liền ca tụng y như thế ấy.

Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Yāmā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Dạ-Ma được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Đạo-Lợi, cũng đều ca tụng lời ngợi khen ấy.

Yāmānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Tusitā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Đâu-Xuất-Đà được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Dạ-Ma, rồi cũng rập nhau ca tụng theo nữa.

Tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Nimmānaratī devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Hóa Lạc Thiên, được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Đâu-Xuất-Đà rồi, đồng thinh ca tụng tiếp theo.

Nimmānaratīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Paranimmitavasavattī devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Tha Hóa Tự Tại được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Hóa Lạc Thiên, rồi cũng đồng nhau ca tụng lời ngợi khen ấy.

Paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṃ etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Chư Thiên trong hàng Phạm Thiên, được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi trời Tha Hóa Tự Tại, rồi cũng lập lại mà ca tụng như vầy: Chẳng có Pháp-Luân nào cao siêu hơn Pháp-Luân nầy. Chư Sa-Môn, Bà-La-Môn, Chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc một người nào trong các thế giới cũng chẳng diễn giải được, chỉ có đức Thế Tôn Ngài đã giảng giải rồi, trong rừng Isipatanamigadāyavana, gần thành Bārāṇasī.

Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva Brahmalokā saddo abbhuggacchi ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi.
Tiếng ca tụng liên tiếp vang dội đến cõi Phạm Thiên chỉ trong nháy mắt. Do sự truyền báo ca tụng mà cả 10.000 thế giới thảy đều rung động, luôn cả trên dưới và các phương.

Appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkamma devānaṃ devānubhāvanti.
Có cả hào quang rực rỡ vô cùng vô tận, cao siêu hơn hào quang của tất cả Chư Thiên, chiếu diệu trong thế giới.

Atha kho Bhagavā udānaṃ udānesi aññāsi vata bho Koṇḍañño aññāsi vata bho Koṇḍaññoti.
Liền đó đức Thế Tôn là đấng Giáo chủ bèn lên tiếng rằng: Kiều-Trần-Như đã được đại ngộ; A-Nhã-Kiều-Trần-Như đã được đại ngộ.

Itihidaṃ āyasmato Koṇḍaññassa Aññākoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.
Từ đây A-Nhã-Kiều-Trần-Như được gọi là đức Kiều-Trần-Như.

** Thuận Pháp st **

Ý NGHĨA NGÀY RẰM THÁNG SÁU - ĀSAḶHAPŪJĀ

Ngày Rằm tháng Sáu, có lẽ đối với người Việt Nam thì chỉ là một ngày Rằm bình thường, chẳng có chút gì gọi là quan trọng, nếu không nói là quá xa lạ với người Việt chúng ta. Tuy nhiên, với Tăng Tín đồ Phật Giáo Nam truyền, ngày Rằm tháng Sáu có rất nhiều ý nghĩa quan trọng trong cuộc đời lịch sử và hoằng pháp của Đức Phật. Ngày Rằm tháng Sáu còn được gọi là ngày Āsaḷhapūjā
Pūjā nghĩa là tôn kính, quý kính, còn có nghĩa là sự dâng cúng, cúng dường. Ở đây, Pūjā còn có nghĩa là ngày lễ lớn. Āsaḷha là tên một tháng trong lịch của Ấn Độ. So với âm lịch Việt Nam, Āsaḷha tương ứng với tháng Sáu.
Āsaḷhapūjā là ngày lễ Rằm tháng Sáu, ngày kỷ niệm trọng đại một lúc bốn sự kiện lịch sử:
1/ Bồ tát giáng trần
2/ Bồ tát xuất gia
3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân
4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo
5/ Và sau ngày này, chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.
1. Bồ tát giáng trần.
Theo Buddhavaṃsa (Phật sử), Bồ tát tu hạnh Trí tuệ phải thực hành pháp độ khoảng 20 A tăng kỳ và 100 ngàn đại kiếp. Tiền kiếp của Phật Thích Ca là Ngài Vessantara thực hành pháp bố thí ba-la-mật bậc thượng (Dānaparamatthapāramī) thành tựu viên mãn. Sau đó hết tuổi thọ, Ngài tái sanh vào cõi Trời Tusita có tên là Santusita. Trong những ngày trai giới, Chư Thiên các nơi vân tập về đây để nghe đức Bồ tát Setaketu thuyết pháp. Thường thường Ngài giảng về bố thí, trì giới, tham thiền, tội ngũ trần, đề cao hạnh xuất gia, ba tướng của vũ trụ… giọng nói của Ngài thanh tao như trời Phạm thiên, y phục chỉnh tề, hào quang sáng chói. Sau thời giảng, Chư Thiên vô cùng hoan hỷ, chấp thọ lời dạy của Ngài và cáo biệt trở về cung điện của mình.
Riêng đức Bồ tát lúc nào cũng trầm tư mặc tưởng về chí nguyện độ đời của mình. Vì thế Ngài lúc nào cũng trong tư thế sẵn sàng giáng phàm để thành đạo. Thông lệ các vị Bồ tát mặc dù tu hạnh nào trước khi thành Phật cũng phải ngụ trên cõi Trời này để chờ thời gian thích hợp giáng phàm. Bồ tát Setasetu sống trên cõi Trời Ðâu suất khoảng thời gian rất lâu thì đến thời gian sắp hết tuổi thọ. Lúc đó, trời Ðế Thích và Chư Thiên đã đồng nhau cung thỉnh Ngài giáng phàm để sau này cứu độ chúng sinh. Ngài quán chiếu năm điều:
Thời kỳ (Kāla): Tuổi thọ chúng sanh thời này không quá 1000 tuổi mà cũng không kém 100 tuổi. Lý do là, nếu sống lâu thì con người đâm ra dãi đãi, bất chấp tội phước; còn như yểu số thì con người chỉ lo mưu cầu danh lợi, thỏa mãn vật chất, không đủ thời gian tu niệm. Do đó, Ngài xuất hiện ở thời kỳ này.
Quốc độ (Desa): Ngài chọn Trung Ấn Độ, ở đấy không quá giàu mà cũng không quá nghèo, sự bất công và sự phủ phàng lúc nào cũng hiện diện trong cuộc sống. Hơn nữa, có nhiều sự bất đồng về giai cấp, nghèo khổ, bệnh hoạn luôn là mối đe dọa con người, nhờ thế loài người dễ hướng thiện.
Dòng dõi (Kula): Ngài chọn hoàng tộc Sakya. Vì trong 30 tục lệ của chư Phật, tất cả các vị Chánh đẳng giác kiếp cuối không được tái sanh trong dòng dõi thấp hèn, vì nếu tái sanh vào đó thì sẽ bất lợi cho việc hoằng pháp độ đời. Còn như giáng phàm trong giòng dõi cao quý thì việc hoằng pháp sẽ thuận lợi trong việc hoằng pháp.
Châu (Padīpa): Loài người đang sống và tồn tại ở bốn châu thiên hạ: Đông thắng thần châu (Pubbavideha), Tây ngưu hóa châu (Āparagoyāna), Bắc cưu lưu châu (Uttarakuru) và Nam thiệm bộ châu (Jambudīpa). Ngài chọn Nam thiệm bộ châu vì ở châu này loài người không văn minh kiêu kỳ mà cũng không quá lạc hậu đần độn. Nhờ vậy khi gặp Phật, họ dễ dàng lãnh hội giáo lý, tu hành mau đắc đạo.
Cha mẹ (Mātara): Đức Phật là thầy của tam giới nên Ngài phải chọn người có đại duyên, đại nguyện với Ngài trong vô lượng kiếp. Vua Suddhodana và chánh hậu Mahāmāyādevī, hai người này đã từng là cha mẹ của Ngài trong nhiều kiếp nên Ngài chọn hai vị này làm quyến thuộc.
Sau khi quan sát năm điều thích hợp trên, Ngài đồng ý giáng sanh xuống trần gian để sau này thành đạo tiếp độ chúng sinh. Hôm đó là ngày Rằm tháng Sáu, năm 624 trước tây lịch.
2/ Bồ tát xuất gia.
Một ngày vẻ vang kia, thái tử ra khỏi hoàng cung để nhìn xem thế gian bên ngoài và trực tiếp tiếp xúc với sự thật phũ phàng của đời sống. Trong phạm vi nhỏ hẹp của cung điện, Ngài chỉ thấy phần tươi đẹp, nhưng đám đông nhân loại thì biết bề đen tối, đáng ghê sợ của đời. Chính cặp mắt quan sát của thái tử đã nhận thấy một cụ già chân mỏi gối dùn, một người bệnh hoạn đau khổ, một thây ma hôi thúi và một đạo sĩ nghiêm trang khả kính. Ba cảnh già, bệnh và chết, hùng hồn xác nhận quan điểm của thái tử về đời sống đau khổ của nhân loại. Hình ảnh thong dong từ tốn của nhà tu sĩ thoáng cho Ngài hé thấy con đường giải thoát, con đường an vui hạnh phúc thật sự. bốn quang cảnh bất ngờ ấy càng thúc giục thái tử ghê tởm và sớm thoát ly thế tục.
Nhận định rõ ràng rằng những thú vui vật chất mà phần đông tranh nhau tìm kiếm đều không thể đem lại lợi ích, chỉ có sự xuất gia, sự từ bỏ tất cả mùi danh bã lợi của trần gian này mới thật là chân giá trị, Thái Tử Siddhattha nhất định rời bỏ cung điện đền đài để ra đi tìm chân lý, nơi không còn phải tái sanh, già đau, bệnh, chết như thế.
Giữa lúc ấy thì có tin đưa đến rằng Công Chúa Yasodharā, vợ Ngài, vừa hạ sanh hoàng nam. Đối với thế gian, đó là một tin lành. Nhưng, trái hẳn với mọi dự đoán, Ngài không quá đỗi vui mừng vì thấy đó là thêm trở ngại. Thế thường, khi sanh được người con đầu lòng, cha mẹ cảm nghe trong lòng chớm nở lần đầu tiên một tình thương mặn nồng sâu sắc, một tình thương mới mẻ đậm đà, vô cùng trong sạch. Nỗi vui mừng của người làm cha đầu tiên thật không sao tả được. Nhưng Thái Tử Siddhattha không phải là một người cha thường, Ngài than: "Lại thêm một trở ngại, lại thêm một dây trói buộc". Do đó, Đức Vua Suddhodana đặt tên cháu nội là Rāhula.
Ngài truyền lệnh cho Channa, người đánh xe yêu chuộng, thắng yên ngựa Kaṇṭhaka và thẳng đến điện của công chúa. Ngài khẽ hé cửa nhìn vợ và con đang yên giấc với một tấm lòng từ ái nhưng bình thản, không chao động, không trìu mến. Tình thương đối với vợ, con thật mặn nồng sâu sắc. Nhưng đối với nhân loại trầm luân đau khổ, lòng trắc ẩn của Ngài lại càng thâm thậm vô ngần. Ra đi, Ngài không lo sợ cho tương lai của công chúa và hoàng tử, vì biết chắc chắn rằng vợ và con sẽ có đầy đủ tiện nghi và đảm bảo để sống an toàn và sung sướng. Ra đi, không phải vì kém tình thương vợ, thương con, mà vì tình thương của Ngài mở rộng cho mọi người, bao trùm tất cả nhân loại và chúng sanh.
Thái Tử Siddhattha ra đi giữa đêm khuya, để lại sau lưng tất cả đền đài cung điện, người cha yêu quý, vợ đẹp, con thơ, và cả một tương lai huy hoàng rực rỡ. Ngài trốn ra khỏi thành và giục ngựa thẳng xông trong đêm tối. Cùng đi với Ngài chỉ có Channa. Không tiền của, không cửa nhà, nay đây mai đó, Ngài bắt đầu lần bước trên đường đi tìm chân lý. Thế là Ngài từ bỏ thế gian.
Đây không phải là sự từ bỏ của một cụ già đã trải qua hầu hết cuộc đời của mình, hay của người bần cùng nghèo đói không còn gì để bỏ lại phía sau, nhưng là sự khước từ của một hoàng tử vinh quang giữa thời niên thiếu, trong cảnh ấm no, sung túc và thịnh vượng. Một sự thoát ly chưa từng có trong lịch sử. Lúc ấy thái tử Siddhattha được 29 tuổi, vào năm 234 trước tây lịch.
3/ Ðức Phật chuyển Pháp Luân.
Sau khi giác ngộ, vị trời Phạm thiên Sahampati cung thỉnh Thế tôn vì lòng từ bi thuyết pháp độ đời. Ngài quan sát thế gian và nhận lời thuyết pháp. Ðầu tiên Ngài nghĩ sẽ thuyết pháp cho ai, người được nghĩ đến là đạo sĩ Ālārakālāma và đạo sĩ Uddakarāmaputta, hai vị này là thầy dạy đạo cho Ngài khi còn là Bồ tát, nhưng Chư Thiên báo là hai vị này đã qua đời. Tiếp đến Ngài nghĩ đến năm người bạn Kiều Trần Như đồng tu khổ hạnh với Ngài và hiện giờ họ đang ở vườn Lộc Uyển Isipatana gần thành Bārāṇasī.
Từ Bồ đề đạo tràng sang vườn Lộc Uyển rất xa, khoảng 18 do tuần, chư Phật trong quá khứ chuyển bánh xe Pháp lần đầu thường đi bằng thần thông. Nhưng đức Phật Thích Ca quan sát thấy du sĩ Upaka có duyên với Ngài, nếu Ngài đi bằng thần thông thì du sĩ sẽ không có cơ hội gặp gỡ Ngài, mặc dù cuộc hạnh ngộ với đức Phật ngắn ngủi nhưng là một túc duyên cho Upaka sau này giác ngộ. Chính vì thế nên Ngài quyết định đi bộ. Ðường xá xa xôi, đường đi hiểm trở, tất cả cũng vì tình thương và sự giác ngộ của chúng sinh. Không màng những khó khăn cực nhọc trên một đoạn đường dài như vậy và cuối cùng Ngài đến vườn Lộc Uyển đúng vào ngày Rằm tháng Sáu, năm 228 trước tây lịch.
Ðây là bài pháp nồng cốt trong triết lý Phật Giáo, là bài pháp đầu tiên mà Đức Phật thuyết giảng sau khi Ngài giác ngộ, cũng còn gọi là Kinh Chuyển Pháp Luân - Dhammacakkappavattanasutta.
Nội dung bài pháp đầu tiên, gồm có bốn vấn đề:
1. Khổ đế: trình bày tất cả những nỗi đau khổ trên trần gian
2. Tập đế: chỉ rõ nguyên nhân của đau khổ là Ái dục
3. Diệt đế: là trạng thái tịch tịnh, vắng lặng, Níp-bàn
4. Ðạo đế: là con đường Trung đạo có tám ngành.
Tóm lại, Ngài chỉ cho chúng sinh thấy niềm đau nỗi khổ trên cuộc đời và nguyên nhân đưa đến đau khổ. Ðồng thời Ngài giới thiệu sau khi hết khổ sẽ có hạnh phúc, an lạc, tự do và thoải mái và sau đó Ngài chỉ cho thấy những con đường phải đi để thành tựu được niềm hạnh phúc vĩnh cửu.
Kinh ghi lại trước khi Ngài bắt đầu thuyết pháp Tứ diệu đế, Ngài giảng hai điều mà các thầy cần phải tránh xa, đó là khổ hạnh và lợi dưỡng. Khổ hạnh ép xác thái quá và sống lợi dưỡng thái quá cũng không đưa đến giải thoát. Mà tránh xa hai con đường này đó là con đường Trung đạo – Majjhimapaṭipadā. Kết quả sau thời giảng là năm vị Koṇḍañña mở pháp nhãn, giác ngộ đạo quả Tu đà hườn, trở thành 5 vị Thánh Tăng đầu tiên trong Phật giáo.
4/ Ðức Phật thị hiện song thông nhiếp phục ngoại đạo.
Trong 30 tục lệ của chư Phật, dùng thần thông để nhiếp phục ngoại đạo là một trong ba mươi tục lệ đó. Ðã là tục lệ thì vị Phật tổ nào cũng phải thực thi đúng như vậy. Tục lệ có nghĩa là luật lệ, quy định, điều lệ đã định sẵn để dành cho những vị Phật tổ trong quá khứ, hiện tại và tương lai thi hành đúng niêm luật. Cho nên câu chuyện Đức Phật nhiếp phục ngoại đạo bằng thần thông là một chuyện bình thường vì đây chỉ là một việc làm kế thừa truyền thống của chư Phật.
Từ khi thành đạo dưới cội Bồ đề và Ngài thuyết pháp giảng đạo, có rất nhiều người hữu duyên tìm đến với Ngài. Pháp của Ngài giảng hoàn hảo đoạn đầu, đoạn giữa và đoạn cuối, chúng sinh nào có duyên chắc chắn giác ngộ ngay trong kiếp hiện tiền. Do đó nhiều đệ tử của Ngài xuất gia, đắc đạo mặc dù họ đã có nhiều năm tu hành theo sáu vị lãnh đạo của lục đại môn phái nổi tiếng khắp nơi tại xứ Ấn Độ bấy giờ. Các vị lãnh đạo đó nhìn thấy đệ tử của mình mỗi ngày mỗi ít, đa số đã từ giã mình đi theo thọ giới với Sa môn Cồ Ðàm. Không nói được, nhưng càng nhìn đệ tử từ giã ra đi lại càng thêm căm phẫn. Thế nên hình ảnh đức Phật và đệ tử của Ngài là một sự căm thù đối với nhóm lục sư ngoại đạo trên. Mọi sinh hoạt của Ngài đều bị họ theo dõi để tìm khuyết điểm xuyên tạc, nhục mạ, hạ uy tín… nhưng tất cả đều như gió thoảng mây bay.
Sở dĩ có chuyện Phật dùng thần thông chiến thắng ngoại đạo là vì Tôn giả Pindolabhāradvāja vâng lời Ngài Mahāmoggallāna đi thâu bát trầm trên hư không của một vị trưởng giả. 
Có một ông trưởng giả tìm được một khối trầm, cho tạc thành một bình bát và ông ta treo giải thưởng nếu ai lấy được bát ông sẽ trọng thưởng và cả gia đình theo nương nhờ làm học trò. Nhóm lục sư ngoại đạo nghe vậy cho người môi giới đến xin nhưng ông từ chối. Họ nói với ông trưởng giả chẳng lẽ vì một cái bát mà phải dùng thần thông thì không xứng đáng. Họ tìm nhiều mưu mô để đoạt được bát trầm nhưng không được. Ông trưởng giả nghĩ rằng trong nước mình đang ở có nhiều tôn giáo họ tự xưng là A-la-hán cho nên ông treo giải thưởng như vậy người nào lấy được mới quả là A-la-hán. Nhưng bảy ngày trôi qua nhóm lục sư ngoại đạo không người nào thi hành theo tâm nguyện của ông trưởng giả.
Thế là một buổi sáng tinh sương, Ngài Mahāmoggallāna và Ngài Pindolabhāradvāja vào thành khất thực nghe dân chúng đồn xôn xao về bình bát trầm của ông trưởng giả, nên Mahāmoggallāna bảo Tôn giả Pindolabhāradvāja hãy đi thâu bát. Ông trưởng giả và dân chúng nhìn thấy tận mắt Tôn giả Pindolabhāradvāja lấy bát, ông trong sạch và hoan hỷ cúng dường tứ sự. Từ chuyện lấy bát của Tôn giả Pindolabhāradvāja, dân chúng kính trọng và sùng ái đệ tử của đức phật, nên họ rủ nhau đến chùa đông đảo để tìm. Ðức Phật hay biết chuyện này nên Ngài kêu Tôn giả Pindo vào và cấm từ nay về sau, Tôn giả và chư Tăng không được tự tiện dùng thần thông trước quần chúng.
Khi đức Phật cấm chế điều luật đó, nhóm lục sư ngoại đạo hay biết được và cho người đi tuyên truyền rằng: đệ tử của Sa môn Gotama còn vì danh lợi nên mới đi lấy bát còn chúng tôi là A-la-hán không vì danh lợi nên không lấy bát theo lời yêu cầu của trưởng giả. Sa môn Cồ Ðàm còn đập bát và cấm chế điều luật, không cho đệ tử sử dụng thần thông. Do đó họ quyết định thi thố thần thông với ông Sa môn Cồ Ðàm.
Vua Ajātasattu hay tin ngoại đạo nói như vậy, vội vã vào yết kiến Thế tôn và bạch rõ vấn đề những vị lãnh đạo tôn giáo đó muốn thách thức so tài thần lực với Thế tôn. Ðức Thế tôn trầm lặng trong giây lát, Ngài nói với nhà vua rằng Như Lai đồng ý so tài thần thông với họ. Vua nói: 
– Bạch Thế tôn, còn việc Ngài cấm sử dụng thần thông thì sao? 
– Tâu Ðại vương, Như Lai cấm đệ tử chứ Như Lai đâu có cấm Như Lai đâu! 
Thế là đức Phật báo rõ địa điểm và thời gian để so tài thần thông với nhóm Lục sư ngoại đạo. Ngày đó là Rằm tháng Sáu tại Sāvatthī.
Khi ngoại đạo hay tin đức Phật đồng ý so tài thần thông với họ, nên họ rất sợ và hoang mang. Vì họ nghĩ rằng, Ngài cấm chế không cho đệ tử sử dụng thần thông thì chắc Ngài cũng không được phép sử dụng, ai ngờ bây giờ ông ta đồng ý đấu thần thông với chúng ta thì chúng ta tính sao đây? Nhưng dù sao thì đã lỡ công bố rồi! Nhóm Lục sư ngoại đạo cùng nhau kéo về Sàvatthì và họ kêu gọi tín đồ hùn tiền để xây tháp đài để so tài thần lực với Sa môn Gotama, nên họ thu được một số tiền rất lớn. Vua Pasenadi hay biết tín đồ của nhóm lục sư ngoại lo lắng cho thầy như vậy Ngài cũng nao nao trong lòng. Hôm sau vua vào lễ Phật và xin Phật cho Ðại vương xây một tháp đài giống như ngoại đạo để Thế tôn so tài với họ. Ðức Phật khước từ và Ngài bảo sẽ hiện thần thông dưới gốc cây xoài.
Ngoại đạo biết được cuộc nói chuyện giữa đức Phật và vua Pasenadi, nên họ cho đệ tử chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī. Ðã đến ngày giờ so tài với ngoại đạo, Phật ngự vào thành nhưng chưa đến thành thì có một người giữ vườn Thượng Uyển thấy xoài chín hái dâng cho Phật. Phật hoan hỷ thọ lãnh và tìm một chỗ thích hợp ngồi thọ xoài, còn hạt xoài Ngài bảo người giữ vườn đào lỗ trồng và chính tay Ngài tưới nước. Chẳng bao lâu hạt xoài mọc lên một cây xoài xanh tươi nhiều hoa lá và có nhiều trái thơm ngon.
Dân chúng đến tham dự cuộc so tài của đức Phật và ngoại đạo, họ thấy xoài có nhiều trái chín nên họ hái cùng nhau ăn. Họ ăn xoài thấy hương vị ngon lạ lùng, càng ngon họ càng nguyền rủa bọn ngoại đạo vô cớ chặt hết những cây xoài trong thành Sāvatthī, nên họ thấy bọn ngoại đạo ở đâu họ dùng hạt xoài ném vào bọn ngoại đạo. 
Sắp đến giờ so tài, bọn ngoại đạo khủng hoảng tinh thần trước quần chúng. Liền sau đó đức Phật hóa một con đường bằng ngọc báu, rồi Ngài đi thiền hành trên con đường đó.Tiếp theo, Ngài hóa thân, từ một thân thành nhiều thân, lúc đó quần chúng thấy nhiều Phật, Phật ngồi, nằm hoặc hai vị thuyết pháp với nhau… Cuối cùng, Ngài thị hiện song thông (yamakapāṭihāriya), với năng lực này chỉ có đức Chánh đẳng Chánh giác mới có thể thực hiện được. 
Thần thông này cùng một lúc hiện ra hai điều kỳ diệu: từ thân vừa phún tia nước, vừa phún tia lửa; từ thân phát hào quang xanh và đỏ… Trước uy lực của một vị Phật như vậy, bọn ngoại đạo kiếp sợ và rút lui chạy tán loạn chỉ còn lại dân chúng đang hướng về đức Phật thành kính lễ bái. Ðồng thời Ngài thuyết một bài pháp đúng vào tâm lý của từng chúng sinh, nên hôm đó Chư thiên và nhân loại đắc đạo chứng quả nhiều vô số kể.
Trong giây lát, đức Phật chiêm nghiệm bằng tuệ giải thoát, Ngài thấy chư Phật trong quá khứ sau khi dùng thần thông thắng ngoại đạo là ngự lên cõi Trời Tāvatiṃsā thuyết pháp độ Phật mẫu bằng tạng Vi Diệu Pháp (Abhidhamma). Hôm ấy đúng vào ngày Rằm tháng Sáu.
5/ Chư Tăng phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ.
Một ngày sau lễ Rằm tháng Sáu, chư Tăng trong truyền thống Phật giáo Nam truyền bắt đầu mùa An cư Kiết hạ. Trong chương “Vào Mùa Mưa”, Đại Phẩm, Tạng Luật, có ghi:
Đức Thế Tôn ngự tại thành Vương-xá, Trúc Lâm. Lúc bấy giờ, việc an cư mùa mưa chưa được đức Thế Tôn quy định cho các Tỳ-kheo. Các vị Tỳ-kheo đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng và cả trong mùa mưa nữa. Dân chúng phàn nàn, phê phán, chê bai rằng:
- Vì sao các Sa-môn Thích Tử lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa? Ngay cả các du sĩ ngoại đạo, dù có giáo lý được thuyết tồi tệ, vẫn sống cố định một chỗ trong mùa mưa, ngay cả những con chim sau khi làm tổ trên các ngọn cây cũng sống cố định trong mùa mưa. Còn các sa-môn Thích Tử thì lại đi du hành trong mùa lạnh, trong mùa nóng, và cả trong mùa mưa nữa. Các vị ấy đang dẫm đạp lên các loại cỏ xanh, đang hãm hại mạng sống của loài chỉ có một giác quan, và đang gây nên việc giết hại hàng loạt chúng sanh nhỏ nhoi. 
Các Tỳ-kheo nghe được những người ấy phàn nàn, phê phán, chê bai. Vì thế, các vị đã đem sự việc ấy trình lên đức Thế Tôn. Đức Phật nhân sự việc này mà bảo các Tỳ-kheo rằng: 
- Này các Tỳ-kheo, ta cho phép an cư trong mùa mưa. Đây là hai thời điểm vào mùa an cư: thời điểm trước và thời điểm sau. 
Thời điểm trước là ngày kế của ngày trăng tròn tháng Āsaḷha, thời điểm sau là vào ngày sau trăng tròn tháng sau. Tính theo âm lịch của Việt Nam nếu không có tháng nhuần thì thời điểm trước là ngày 16 tháng 6, thời điểm sau là ngày 16 tháng 7. Ngài dạy tiếp:
- Này các Tỳ-kheo, trong mùa an cư ba tháng thì không nên ra đi du hành. Vị nào ra đi thì phạm tội tác ác (dukkata).
Tuy nhiên, nếu có chuyện cần kíp và được thỉnh mời, vị Tỳ-kheo được phép rời trú xứ trong thời hạn không quá bảy ngày. Đức Phật dạy:
- Này các Tỳ-kheo, ta cho phép đi khi được thỉnh mời với công việc có thể giải quyết trong bảy ngày; và không nên đi, nếu không được thỉnh mời.
Mùa an cư bắt đầu từ ngày rằm tháng Āsaḷha (rằm tháng Sáu). Tuy nhiên, đức Phật cũng cho phép bất kỳ một Tỳ-kheo nào khởi sự chậm hơn một tháng, vào ngày rằm tháng Bảy - gọi là “hậu An cư”. Việc đình chỉ du hành chấm dứt vào ngày rằm tháng Chín (Āssina). Nếu vị nào khởi sự chậm hơn một tháng, thì chấm dứt vào tháng Mười (Kattikā). Chư Tăng tổ chức lễ sám hối Bố-tát (Uposatha) đặc biệt, gọi là lễ Tự tứ (Pavāraṇā), đánh dấu kết thúc mùa an cư. Sau đó, các Tỳ-kheo công bố hoàn tất các phận sự trong Giới luật, rời nơi an cư và bắt đầu du hành truyền đạo.
Như vậy, chúng ta thấy rằng: nếu như mình bỏ quên ý nghĩa của ngày rằm tháng sáu là mình đã bỏ quên một phần quan trọng trong lịch sử hoằng pháp của đức thế tôn. 
Ngài giáng sanh vào lòng mẹ vào ngày Rằm tháng Sáu như là mở đầu cho kiếp sống cuối cùng của Ngài, vì sau kiếp sống này, Ngài sẽ không còn tái sanh luân hồi lại nữa. Sự ra đi vĩ đại của bậc vĩ nhân từ bỏ nhung gấm, ngai vàng để mở đầu cho cuộc sống tu sĩ vô gia cư, xuất ly thế gian pháp. Bài pháp đầu tiên được ngài thuyết giảng để mở đầu cho công cuộc hoằng pháp độ sanh, đem đến nguồn nước bất tử cho những chúng sanh hữu duyên với Chánh Pháp. Rồi sau khi dùng song thong nhiếp phục được ngoại đạo, Ngài bắt đầu mùa an cư thứ 7 của mình tại cung trời Đạo Lợi để thuyết pháp A-tỳ-đàm tiếp độ mẫu thân của Ngài như là món quà báo đáp ân hiếu nghĩa. Đối với chư Tăng, sau ngày Rằm tháng Sáu cũng là ngày bắt đầu ba tháng an cư mùa mưa theo Luật định. Có lẽ quá nhiều cái bắt đầu từ ý nghĩa của ngày Rằm tháng Sáu, vậy thì chúng ta hãy cùng nhau bắt đầu tu tập ngay từ bây giờ. Đừng chần chừ mà hãy bắt đầu đi nhé!
Kính chúc chư Tăng, Tu nữ và quý Phật tử một mùa an cư nhiều sức khỏe, thật an lạc và tràn đầy hạnh phúc trong Giáo Pháp của Đức Thế Tôn.

Tỳ kheo Định phúc
Nguồn: Định Phúc's blog

Wednesday, June 19, 2013

Hãy trở về với chính mình!

Có những lúc ta bừng tỉnh do mãi rong ruỗi trong cõi tạm này; Có những lúc ta biết đủ do mãi ngóng trông sự trang nhã và bóng nhoáng khi ghé thăm các chốn phồn hoa phố thị; Có những lúc ta lại trở về với chính mình do mãi tìm hình bắt bóng trong dòng người xuôi ngược; Có những lúc trong bóng đêm thức giấc, nhìn những thân bằng quyến thuộc mà thấy xa lạ, có lúc thân ta bất động ngoài tầm kiểm soát của tâm thức (người tu thiền đôi lúc rơi vào trạng thái phân tâm), tâm ta cố lay động đôi bàn chân hay đôi bàn tay để thân tâm ta nhập làm một. Hãy trở về với chính mình, lấy hơi thở làm bằng hữu khi cô đơn, lấy câu ân đức của bậc Thầy làm điểm tựa khi nguy nan, lấy Vô ngã để tự tin đánh bật sự sợ hãi nơi vắng vẻ, hồn ma, cận tử nghiệp (huân tập nghiệp lành thường xuyên). Bổng nhiên, ta thầm cám ơn câu kệ của một Đại Sư dùng để xướng lên trong những lúc như vậy:

"Đi trong cõi mộng ta đừng mộng
Đứng giữa đất trời chẳng ngóng trông
Ngồi đây soi bóng mình qua lại
Nằm ngủ mơ màng nhớ tánh Không"!

**Thuận Pháp - Phan Anh**

Xuất gia gieo duyên.

Tự trải nghiệm đắp Y vàng, mang bát đi gieo duyên, theo dấu chân Người xưa, tri ân, cảm xúc, đặc biệt là ngạc nhiên khi đi ngang những nhà có treo cờ Phật giáo, nghĩ rằng sẽ có bà con hoan hỷ làm Phước thiện cúng dường, nhưng chỉ thấy những khuôn mặt dửng dưng, vài hạt cơm nguội cũng không! Quay về với cảm thọ dưới đôi bàn chân, bước tới,...

Thuận Pháp.
Khóa Xuất Gia Gieo Duyên lần thứ nhất, ngày 26/5-02/6/2013.
Chùa Huyền Không, Huế.

Saturday, May 18, 2013

Bàn về chữ "Không" trong đạo Phật.

Trong kinh điển Nikaaya và Aagama, thuật ngữ "không" (S. 'suunyataa, P. su~n~nataa) thường được mô tả gắn liền với sự thực hành thiền định. Chẳng hạn như ở S. V. 311, từ "không" với ý nghĩa "trống rỗng, cô tịch, tỉnh lặng, vắng vẻ" được gắn liền với "phương pháp tu chánh niệm tỉnh thức qua hơi thở ra vào" (aanaapaanasati):

"Này các tỳ-kheo, hãy đi đến rừng (ara~n~naagato) hay đi đến gốc cây (rukkha-muulagato) hay đi đến một nơi trống rỗng (su~n~naagaara-gato), ngồi xếp bằng, giữ thân ngay thẳng, đặt chánh niệm trước mặt, thở ra vào một cách tỉnh thức." Cũng cần nói thêm rằng "nơi trống rỗng" (su~n~naagaara-gato) có nghĩa là nơi không có cư dân, nơi hoang vắng, nơi cô tịch, chỉ chung cho các khu đồi núi (pabbata), hang động (kandara), rừng rậm (vanapattha) hay các khoảng trống (abbhokaasa). (Xem A. IV. 436-7; A. V. 207; M. III. 115-6; S. I. 180-1, 106-7; M. I. 56; D. II. 291; A. V. 111).

Từ đó, mệnh đề cầu khiến "hãy đi đến một nơi trống rỗng" (su~n~naagaara-gato) đã mặc nhiên trở thành thành ngữ diễn tả sự thực hành thiền chánh niệm trong từng hơi thở ra vào, hay nói chung, tu tập thiền định Phật giáo. Trạng thái thiền định này thường được gọi là "an trú vào tánh không" (su~n~nataa-vihaara). Đức Phật thường tán thán rằng:

"Vị thánh nào sống an trú ở nơi trống rỗng hay tánh không (su~n~na-gehaani) thì thật là siêu tuyệt. Đó là cái rỗng không của ngã (atta-su~n~nato) . . . Vị thánh sống ở nơi trống rỗng (su~n~naagaara) sẽ trở nên bất động cho đến ngay cả một sợi lông cũng không lay động" (S. I. 106-7; T. 2. 285b, 382a-b).

Phương pháp thiền quán về tánh không như vậy được gọi là "không tam-muội" ('suunyataa-samaadhi, concentrative meditation of emptiness), tức thiền quán về tính không thực thể của ngã và các sự vật. Đức Phật cũng khẳng định rằng an trú vào tính không (su~n~nataa-vihaara) chính là nơi an trú của các bậc vĩ nhân về tu tập (mahaapurisa-vihaara). (xem M. III. 293-7; T. 2. 773b-c).
(Trích từ SƠ LƯỢC Ý NGHĨA CHỮ KHÔNGTRONG ĐẠO PHẬT của Thích Nhật Từ )

Like · Unfollow Post · Share · May 8, 2013 at 12:38am near Garden Grove, CA

LỜI BÀN:

Hoa Nguyen: Viết tắt:
A. = A"nguttara-Nikaaya, I-V, ed. R. Morris, E. Hardy, C. A. F. Rhys Davids. (London: PTS, 1885-1900)
D. = Diighanikaaya, I-III, ed. T. W. Rhys David and J. E. Carpenter, (London: PTS, 1889-1910)
M. = Majjhimanikaaya, I-IV, ed. V. Trenckner, R. Chalmers, Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1888-1902)
S. = Sa"myuttanikaaya, I-V, ed. L. Féer and Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1884-1898)
T. = Taishoo Shinshuu Daizookyoo, ed. J. Takakusu. (Japan: 1924-32)
Chữ Sanskrit và Pali trong bài không hiển thị đúng. Đó là một cách hiển thị trên Internet.
May 8 at 12:40am · Edited · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Đọc vào các đoạn trích dẫn kinh Nikāya thì hiểu ra vấn đề, còn các đoạn chú giải có cảm giác kéo người đọc vào sự mơ hồ, mê hồn trận. Thiền định mà trú vào "tánh không" là đối tượng gì? Đã thiền định tức thị đã trú vào 1 đề mục, chứ sao còn phải quán tánh không thực thể của ngã và sự vật?

Có 1 câu chuyện nghe được trên 1 chuyến xe khách với nội dung đại khái như sau:
Có 1 anh thanh niên cùng đi với 1 vị thầy chùa. Sau nhiều câu chuyện hàn huyên, vị thầy có 1 bài thuyết pháp ngắn cho anh thanh niên. Nội dung nói về bài kinh Ma-ha-bát-nhã-ba-la-mật-đa-tâm-kinh. Vị thầy say sưa đọc: "Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc!... Sắc là không, không là sắc!...Rồi giảng giải một hồi! Anh thanh niên chăm chú lắng tai nghe, xong rồi rút ví lấy hết số tiền cúng dường cho vị thầy. Đoạn nói với vị thầy: "Thầy giảng nghe rất hay, đúng tâm trạng của thầy, vì sắc là không nên tiền của con từ có trở về không; không là sắc nên tiền của thầy từ không mà có. Bài kinh ấy quá đúng rồi còn gì nữa"!!! J

Vì vậy vấn đề không phải ở chỗ Sắc hay Thọ, Tưởng, Hành, Thức là trống rỗng, không tánh, mà có tánh là vô thường, vô ngã. Chỉ có các loại tâm Đạo của bậc Thánh hay bậc Thánh A-ra-hán nhập Diệt Thọ Tưởng Định mới gọi là trú vào trạng thái Không (Suññatā), vì Suññatā là 1 đặc tính, hay còn gọi là 1 ân đức của Niết-bàn (Nibbāna). Bài Bát-nhã-tâm-kinh nghe thì hay vậy nhưng nội dung thì hoàn toàn sai nguyên lý với lời dạy gốc của đức Phật Gotama!
May 8 at 7:25pm · Like

Hoa Nguyen: Đây là nói về trạng thài định sau khi tâm đã thanh tịnh, sau Tứ thiền. Có thể tương đương với định Không vô biên xứ, tới Vô sở hữu xứ; phải từ đó (không nói tới đó) mới đạt tới trạng thái Không tam muội trong Tam giải thoát môn. Không có gì ngoài kinh điển, nhưng bài viết vắn tắt, chỉ nêu ghi chú về các tên bài kinh liên hệ. Ai muốn hiểu thêm nên tìm đọc các bài kinh Nikaya giới thiệu.
May 9 at 1:25am · Edited · Like

Sầu Công Tử: Giả định Không để giảng soi sáng Ngũ uẩn:
[Khi hành Bát Nhã Ba La
Ngài Quán Tự Tại soi ra tột cùng
Thấy ra năm uẩn đều Không
Bao nhiêu khổ ách khốn cùng độ qua...]
Là để hành giả đốn ngộ trở về bổn nguyên Phật tính, nói vậy chân thực chẳng có Không.
May 10 at 12:44pm · Like · 1

Thuận Pháp Dhammiko: TP thấy đa số mọi người say sưa nói về SẮC SẮC KHÔNG KHÔNG mà không hiểu gì về Sắc, Không cả. Thật tội nghiệp họ!
May 10 at 11:17pm · Like

Hoa Nguyen: Thế ai hiểu được sắc sắc không không là gì thì nói thêm vài dòng đi.
May 10 at 11:26pm · Like

Sầu Công Tử: Sắc và Không như Nước và Băng. Băng chẳng khác nước, nước chẳng khác băng. Băng tức là nước, nước tức là băng. Tùy duyên nên có nước có băng. Không với Sắc, thọ, hành... cũng vậy. Tất cả tức phi tất cả, tạm gọi là tất cả.
May 10 at 11:34pm · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Sầu Công Tử, xin hỏi đạo hữu: Vậy cả nước và băng thì như thế nào, nước và băng đều là Sắc, hay nước và băng đều là Không. Nói gì cũng phải logic, không nói kiểu xuôi ngược đều được như vậy, nói lời Phật mà không thực tế tức là phạm vào ác nghiệp nói dối đó!
May 10 at 11:39pm · Edited · Like

Hoa Nguyen: Tôi nghĩ nếu dùng hình tượng để so sánh (tôi không so sánh như vậy), thì nên ví Sắc với băng tuyết và Không với hơi nước. Không thấy, không cảm nhận được hơi nước dù lúc nào cũng ở quanh ta, nhưng chỉ lạnh một chút thì hơi nước hiện ra thành sương, sương mù (hình thái nước).
Thế nhưng thí dụ đó cũng không sát, không đúng nghỉa Không và Sắc của Phật giáo ĐT.
May 10 at 11:44pm · Like

Sầu Công Tử: Logic của nó là ngôn bất khả thuyết. Nước và băng đều là sắc, cũng đều là không. Chẳng là sắc, cũng chẳng là không. Đó chính là nghĩa ba câu như vậy, tức phi như vậy, tạm gọi như vậy. Viên dung không chẳng khác sắc, sắc chẳng khác không. Và vô ngại không là không, sắc là sắc.
May 10 at 11:44pm · Like

Sầu Công Tử: Tri Kiến bác Hoa Nguyen như vậy cũng không sai. Đó là lẽ tùy duyên... Chúng ta do duyên đang là người, hết duyên người thành như đất, xương như đá vôi, chất lân-tinh như khí gas... còn là gì nữa không biết !
May 10 at 11:48pm · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Như vậy cái nhà của anh, hay cái chùa của thầy anh cũng là Không hết chứ gì, vì chúng cũng thuộc về Sắc mà. Chúng cũng Không rồi thì anh suốt đời giành dụm để xây nó làm gì, nhưng mà thực tế nó vẫn sờ sờ ra đó. Tương tự cái chùa to Phật lớn của thầy anh cũng vậy, nếu Có thì tốt, đằng này cũng Không luôn, thật mất công lấy tiền của đàn-na thí chủ để xây cất lên, lại sao không lấy tịnh tài đó mà đi cứu giúp người rất cần nó, vì họ xem là Có. Ngẫm nghĩ thật phi lý!!! J
May 10 at 11:50pm · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Nói chung ở đời này (thế gian phàm phu) mà nói Có Có Không Không thì như nói về chuyện con rùa có lông, con thỏ có sừng. Chúng sanh sẽ ngửng tò te, cả người nói và người nghe thực sự không hiểu gì!
May 10 at 11:56pm · Like

Sầu Công Tử: Tiền nhân có câu: Ở đâu có Phật ở đó có Chùa ! Mình có Phật tâm thì Nhà và Chùa đâu có khác nhau. Nói về Công Đức nhiều người hay nhầm với Phước Đức.
[Có người đem sự việc này thưa hỏi Lục Tổ Huệ Năng và được Lục Tổ dạy như sau: Quả thực là không có công đức gì cả. Vua Lương Võ Đế vì không biết Chánh Pháp, nên lầm lẫn hai chữ "CÔNG ĐỨC" và "PHƯỚC ĐỨC"! Nghĩa là cất hàng trăm ngôi chùa, độ tăng chúng tu hành rất đông, thiết trai cúng dường, bố thí, đúc chuông, tạo tượng, ấn tống kinh sách, chỉ là những việc làm "bên ngoài", có ích lợi cho mọi người, những việc làm cầu phước, nên gọi là phước đức. Phước đức có công năng giúp chúng ta giảm thiểu nghiệp chướng, tiêu trừ quả báo, để được tai qua nạn khỏi, để được may mắn và sung sướng trên đường đời, để bớt chướng ngại trên đường đạo, chứ không giúp chúng ta thoát ly khỏi vòng trầm luân sanh tử. Phước đức có tính cách "hữu lậu" hay "hữu vi", nghĩa là con người hưởng phước vẫn còn trong lục đạo luân hồi. Khi thụ hưởng hết phước rồi thì bị đọa lạc để đền trả quả báo.

Còn công đức là công phu tu tập "bên trong", có ích lợi cho chính mình, nhờ hành trì theo lời Phật dạy trong các kinh điển, luôn luôn niệm Phật, giữ gìn giới luật, tu tập thiền định, phát huy trí tuệ bát nhã. Nghĩa là chúng ta tu tập tam vô lậu học "Giới Định Tuệ" và tam tuệ học "Văn Tư Tu", nhằm mục đích cứu kính là: thoát ly khỏi lục đạo sanh tử luân hồi. Công đức có năng lực giúp chúng ta vượt qua bể khổ sông mê, chóng đến bờ giác ngộ và giải thoát. Công đức có tính cách "vô lậu" hay "vô vi", nghĩa là không còn trong lục đạo sanh tử luân hồi nữa. Công đức giúp con người chuyển hóa tâm tánh từ phàm phu tục tử trở thành bồ tát, thành Phật.]
May 10 at 11:57pm · Like · 1

Thuận Pháp Dhammiko: Có 1 công thức như sau, đúng như kinh Phật dạy, và phù hợp với quy luật tự nhiên:
(Thế gian): Vô ngã => (Siêu thế gian): Không.
(Thế gian): Vô thường => (Siêu thế gian): Vô tướng.
(Thế gian): Dukkha => (Siêu thế gian): Vô tác, vô nguyện.
Tại sao đang ở trong thế gian mà không lo tri kiến về 3 đặc tính của nó để chứng đắc 3 đặc tính của Siêu thế gian, mà suốt ngày cứ giảng giải các đặc tính của siêu thế gian để rồi mơ hồ về chỗ Siêu thế gian??? Đặc tính Không là quả, ai hưởng nấy biết, đừng nói lại cho người không biết, mất công!
May 11 at 12:08am · Edited · Like

Hoa Nguyen: Phước đức được coi không bằng công đức, nhưng tôi hiểu tạo phước đức cũng là vun gầy công đức, như bố thí, hành thiện do lòng từ bi (làm điều tốt chỉ vì ham danh hay cầu lợi thì khác). Nếu không có nhiều phước đức từ trước thì cũng khó tu thiền, giữ giới, sống đời xuất ly. Các chuyện tiền thân Phật cho thấy như vậy.
May 11 at 12:07am · Like · 1

Hoa Nguyen: "Tại sao đang ở trong thế gian mà không lo tri kiến về 3 đặc tính của nó để chứng đắc 3 đặc tính của Siêu thế gian, mà suốt ngày cứ giảng giải để mơ hồ về chỗ Siêu thế gian???"
Nếu không biết chắc là có "siêu thế gian", hay "siêu thế gian" là gì, thì làm sao tin chắc là sẽ chứng đắc được ba hay bốn đăc tính của "siêu thế gian". Hãy tiếp tục suy ngẫm, bàn luận chuyện "siêu thế gian " , nếu còn có diễn đàn Phật pháp.
May 11 at 12:12am · Edited · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Ví như muốn làm bác sĩ y khoa thì lo mà học những cái môn linh tinh đi, đừng nghỉ ngợi lung tung về cái bằng bác sĩ của mình sau này như thế nào, có màu gì, hình thù ra sao. Khi hoàn tất tất cả các môn học rồi thì nhà trường sẽ tự động cấp cho 1 cái bằng y khoa đó thôi, tha hồ mà chiêm ngưỡng và múa máy với các bệnh nhân. Lẽ dĩ nhiên một người khi mới thi tuyển vào học y khoa đã có thể biết được con đường đi đến đích và việc làm một bác sĩ y khoa của mình sau này.
May 11 at 12:17am · Like

Sầu Công Tử: Ngài Tịnh Không (pháp môn Tịnh Độ) có nói: "Tụng kinh không bằng trì chú, trì chú không bằng niệm Phật!" Và tôn chỉ Thiền tông cũng: "Trực chỉ nhân tâm, kiến tánh thành Phật." Còn các đặc tính gì đó... thì như Bè qua sông, qua sông bỏ lại. Thật tâm mà tự tại... Các kinh điển như ánh trăng soi sáng mà dần khỏi vô minh. Mọi pháp như lý tùy duyên, như tính duyên khởi. J
May 11 at 12:20am · Edited · Like

Hoa Nguyen: Ý nghĩ đơn giản lả muốn theo đạo Phật trước hết phải tìm học tìm hiểu rõ đạo Phật. Như về "siêu thế gian", về các đặc tính của "siêu thế gian". Còn khi theo đạo Phật rồi mà chứng đắc được các đặc tính đó không, là chuyện khác.
May 11 at 12:21am · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Tóm lại những con đường mà anh Sầu Công Tử đang đi thì tui đã từ bỏ hết rồi, vì có bao nhiêu là hầm hố sẽ bị vấp ngã trước mặt. Chúc anh có những kinh nghiệm Dukkha trên con đường đó. Hẹn chờ gặp anh ở Không, Vô tướng, Vô tác,.... J (Ý nói anh ấy đang ì ạch mò mẫm phía sau!)
May 11 at 12:24am · Like

Sầu Công Tử: Mình đã Vô niệm về hầm hố hay con đường, hầm hố hay con đường thật Vô tướng, thật hay Vô sở đắc cùng Vô sở trụ.
May 11 at 12:30am · Like

Thuận Pháp Dhammiko: Ngồi đó mà vô niệm, vô tướng, để rồi bệnh ung thư tới xem có vô sở trụ nổi không nhé, hay lúc đó đi kiếm bác sỹ để trụ vào! TP ngưng cmt ở đây!
May 11 at 12:33am · Like

Sầu Công Tử: Haizzz...! TP biết ngưng đúng là sẽ tốt hơn. J
May 11 at 12:36am · Like

Trích từ FB Group Đàm Luận Phật Pháp.

Thursday, April 25, 2013

ĐẾN KHI NÀO MỚI TRỞ THÀNH "VÔ HỌC"!

Gần 40 năm cuộc đời, đến bây giờ cũng còn cắp sách đi học, hơn 30 năm đi học (Gần 3/4 tuổi đời năm nào cũng có đi học!). Bây giờ đang làm cái việc loại trừ: môn học này đáng quên đi, môn học kia còn phải tiếp tục; vị thầy này đáng quên đi, vị thầy kia đáng tri ân. Cuộc đời này nếu không có môn học và vị thầy nào đáng quên đi thì thật tuyệt vời!
**Ngày 25/4/2013, Thuận Pháp**
Cảm tác sau khi xem clip: "Sự trăn trở của một kẻ lười biếng".
http://www.youtube.com/watch?v=XjUSOYcIQjM

Tuesday, March 12, 2013

Bạch Vân gia huấn

Trạng Trình – Nguyễn Bỉnh Khiêm: Hiệu là Bạch Vân cư sỹ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, phủ Hạ Hồng, trấn Hải Dương; nay là Cổ Am, huyện Vĩnh Bảo, tỉnh Hải Phòng. Cụ sinh ngày 7 tháng 8 năm 1491, mất ngày 8 tháng 12 năm 1585. Cụ sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học, lớn lên trong lúc nhà Lê suy, loạn lạc khắp nơi; nhà Mạc lên ngôi, tình hình tạm ổn cụ mới đi thi, lúc đó cụ đã 43 tuổi, kỳ thi nào cụ cũng đỗ đầu. Nhà Mạc rất kính phục tài đức của cụ nên đã phong chức Trình Quốc Công cho cụ. Thấy thế sự khó lường, dân tình khốn khổ, cụ từ quan về viết sách. Cụ về với dân làm được nhiều việc nghĩa tình, viết lách để lại cho đời nhiều kiệt tác văn thơ, như: Trình Quốc Công thi tập, Bạch Vân gia huấn, Sấm ký (tiên đoán sự việc rất đúng sau 500 năm).

ĐẠO LÝ
Thiên thứ nhất bàn về đạo lý
Sống ở đời phải nghĩ trước sau
Trăm hay lấy hiếu làm đầu
Vạn điều ác cũng khơi mào từ tham.

Dành sách cho cháu con là quý
Nhưng dễ gì chúng đã đọc cho
Dành vàng cho chúng đầy kho
Chắc đâu chúng đã giữ cho lâu bền
Chi bằng tích đức thường xuyên
Mới là cái kế lâu bền về sau.

Họa hay phúc biết đâu là giả
Do con người định cả đấy thôi
Ngẫm xem quy luật đất trời
Trồng đậu được đậu, dưa thời ra dưa.

Lưới trời rộng thưa mà không lọt
Không bao giờ bỏ sót chánh tà
Biết xấu thì tránh cho xa
Biết lỗi sửa lỗi, ấy là điều hay.

Trước khoan nhượng sau dày quả phúc
Trước mở mang sau được phúc lành
Chớ chơi với kẻ bất minh
Của phi nghĩa chớ biến thành của riêng.

Lòng chớ nghĩ gian tà hiểm độc
Chân đi không bước bậy giậm quàng
Nghe lời nói thẳng rõ ràng
Thấy nơi chính nghĩa đường hoàng thì theo.

Người siêng năng thêm nhiều tuổi thọ
Kẻ chơi bời đa số chết non
Sự đời chậm chắc thì hơn
Tình người thoang thoảng mà hơn quá nồng.

Sự giàu sang nếu không đáng hưởng
Có hưởng rồi cũng chẳng ra sao
Chưa già đã hưởng lộc cao
Hẳn rằng rồi cũng mau mau hết đời

Kẻ mưu mô hại người người hại
Nuôi hận thù mãi mãi không thôi
Người quân tử chẳng hoài hơi
Chẳng cần lý sự tranh lời hơn thua.

Có bệnh biết phòng ngừa bệnh tật
Thì con người chắc hẳn sống lâu
Có việc biết bảo ban nhau
Cửa nhà êm ấm bền lâu tình người
Lấy vợ đâu kén đẹp người
Được người hiền đức thì đời mãi vui.

Mối quan hệ với người thân quyến
Dù xa gần năng đến thăm nhau
Quan lại không cứ thấp cao
Thanh liêm, cần mẫn dân nào chẳng yêu.

Tình bầu bạn giúp nhau mới đẹp
Chớ nên vì nhậu nhẹt thân chơi
Ngọc là vật quý ở đời
Cháu con hiếu thảo sáng ngời gia phong.

PHẬN LÀM CON
Phận làm con phải thông đạo hiếu
Phận làm dân phải hiểu chữ trung
Trên ra lệnh dưới phục tùng
Cha làm việc tốt con cùng học theo.

Của cải nhiều dùng lâu cũng hết
Chữ hiếu trung hưởng mãi vô cùng
Bàn mưu tư lợi thì đừng
Biết điều chân chính nên cùng tham gia.

Làm tốt chớ ba hoa kể lể
Hoa sớm nở thì cũng sớm tàn
Cẩn thận đáng giá ngàn vàng
Hãy suy nghĩ kỹ hãy làm mới hay.

Người tốt hay xắn tay làm giúp
Giúp ai không lợi dụng người ta
Người biết lỗi sửa thì tha
Trị người có lỗi chớ mà quá nghiêm.

Dạy điều thiện không nên cao quá
Để học trò có khả năng theo
Khoan hòa sẽ được tin yêu
Siêng năng cần mẫn ắt nhiều thành công.

Nói thận trọng thì không có lỗi
Làm chu toàn đỡ hối về sau
Thế lực dù mạnh đến đâu
Nếu đem dùng hết ắc sau hại mình.

Hoặc cậy thế tạo thành lợi lộc
Hẳn rằng sau cũng chẳng ra chi
Cứ đường chánh đạo mà đi
Hiếu, trung, nhân nghĩa cứ suy mà làm.

PHÚ QUÝ
Thiên thứ ba bàn về phú quý
Chữ giàu sang ai chẳng ước mong
Nhưng giàu sang chẳng chính công
Là phi đạo đức hẳn không lâu bền.

Ai sống kẻ nghèo hèn cũng chán
Nhưng bất lương đuổi hẳn chẳng đi
No cơm hẫm thiết gì thịt cá
Vui cảnh nghèo quên cả giàu sang
Người quyền quý lắm bạc vàng
Lấy gương xử với họ hàng mà soi.

Ở có đạo nhiều người giúp đỡ
Sống bất lương ít chỗ thân tình
Thà nghèo giữ được thơm danh
Hơn giàu lắm chuyện phẩm bình cười chê.

Bọ ngựa rình con ve định bắt
Chim sẻ rình bọ ngựa phía sau
Tiếng tăm lừng lẫy càng nhiều
Tránh xa kẻ xấu sinh điều ghét ghen.

Nhiều tài cũng lắm phen khốn khổ
Nhiều công là cái hố suy bì
Nhớ rằng đừng cậy chẳng khoe
Phải luôn thận trọng chớ hề phô trương.

Nói với bạn việc hay ý thẳng
Phải người thâm họ chẳng nghe đâu
Nói với quan những chuyện thanh cao
Phải quan tham nhũng hẳn sau nó thù.

ĐẠI NGHĨA
Thiên thứ tư nói về đại nghĩa
Lúc thi hành phải nghĩ cho sâu
Trung với nước đặt lên đầu
Đạo cha con được xếp vào đại luân.

Trai tài biết thương dân thủ tiết
Gái kiên trinh phải biết giữ mình
Người tài nước được thơm danh
Vợ giỏi như được ngọc lành trời cho.

Gái bất chính thì cho chẳng lấy
Trai có tài mắc bẫy là ngu
Bất trung dễ mắc mưu thù
Vua chúa như mù mới lấy làm quan.

Con dân thường chăm ngoan học giỏi
Cũng có ngày tiến tới làm quan
Con quan chẳng chịu học hành
Suốt đời cũng chỉ là anh dân thường.

Làm quan mới thấm ơn chế độ
Có nuôi con mới nhớ mẹ cha
Muốn lòng ngay thẳng thật thà
Luyện rèn ý chí phải là đầu tiên.

TÂM LINH CHÍ THIỆN
Thiên thứ năm tâm linh chí thiện
Mong tốt lành mọi chuyện công tư
Vui nhất là đọc thi thơ
Việc đời khó nhất cũng là dạy con.

Cha nghiêm nghị răn con hiếu thảo
Mẹ nhân từ dạy bảo gái ngoan
Nhà lành hương tỏa chí lan
Ở đâu cũng thấy mùi hương ngọt ngào.

Gần kẻ ác như vào chợ cá
Buộc người ta quen cả mùi tanh
Có nết tốt chẳng kiêu căng
Đức dày làm mãi cho thành thói quen.

Giàu chớ kiêu chớ nên ích kỷ
Sang cũng đừng xa xỉ hợm đời
Việc làm muốn tốt tuyệt vời
Ba lần cân nhắc hẳn hoi hãy làm.

Suy tính kỹ bao hàm hai ý:
Việc chung riêng thấu lý đạt tình
Từ xưa vẫn sợ vẫn kinh
Lòng người nham hiểm nảy sinh khó lường.

Kẻ tiểu nhân vốn thường xảo quyệt
Thích mưu mô tiêu diệt người ngay
Cho dù nham hiểm quắt quay
Không qua lẽ phải, chẳng xoay đạo trời.

Bất nhân mà nhất thời nổi tiếng
Không người, thì trời diệt chẳng tha
Tự nhiên được của đầy nhà
Một là lộc lớn, hai là họa to.

Có lúc bại trời cho thắng cuộc
Hoặc đang nghèo bỗng được giàu sang
Thế gian yêu lắm ghét nhiều
Khen nhiều chê lắm bao điều bất an
Mừng nhiều lo lắm chẳng oan
Vinh nhiều nhục lắm thế gian thường tình.

Đừng cậy thế mà sinh kiêu ngạo
Chớ cậy quyền mà tạo lợi riêng
Làm một việc thiện cũng nên
Trừ một việc ác quả nhiên rất cần.

Sinh sự thì bận tâm mệt sức
Nên nhún nhường đạo đức thì hơn
Việc có chuẩn bị hãy làm
Việc không chuẩn bị chớ tham làm bừa.

Bao kinh nghiệm từ xưa đã thấy
Sai một li đi mấy dặm đường
Quả quyết được việc lẽ thường
Do dự hỏng việc ấy gương ở đời.

Sắc chẳng mê người, người mê sắc
Rượu chẳng say người, người tự say
Đừng nên vui quá nói chày
Chớ vì sướng quá vung tay làm liều.

Quý chim phượng bởi yêu lông cánh
Trọng hiền tài ở cách nói năng
Gặp khi hoạn nạn khó khăn
Hành vi tế nhị nói năng lựa lời.

Mười mắt trông và mười tay trỏ
Thật công minh sáng tỏ sâu xa
Quả đào người quý tặng ta
Ta lấy quả mận đem ra tặng người.

Cung nỏ lạ chớ cầm mà khốn
Ngựa không quen chớ cưỡi mà gay
Qua ruộng dưa chớ sửa giày
Dưới gốc mận chớ giơ tay sửa đầu.

Coi chừng chốn nhà cao cửa rộng
Đừng cậy rằng tông tộc mình to
Họ to lắm chuyện tò mò
Cửa cao thường giở lắm trò kiêu căng.

Người tốt chơi, nói năng chân thật
Kẻ xấu chơi, như mật chết ruồi
Người tốt thiện chí thức thời
Khó khăn thuận lợi vẫn nuôi chí bền.

Kẻ xấu thường van xin lúc khó
Được việc rồi thì nó quên luôn
Mới hay muôn sự vui buồn
Những điều chí thiện phải luôn ghi lòng.

HAI DÒNG THIỆN ÁC
Thiên thứ sáu hai dòng thiện ác
Là hai điều thật khác nhau xa
Trăm năm trong cõi người ta
Dỡ hay báo ứng thật là công minh.

Báo ứng có khi nhanh khi chậm
Nhà đói nghèo nào dám coi khinh
Việc làm phúc nếu vô tình
Như phường lánh nạn đáng khinh khỏi bàn.

Kẻ bạo ngược mưu toan việc xấu
Bịp được người sao giấu được trời
Vầng dương mọc lặn luân hồi
Mặt trăng tròn khuyết đầy rồi lại vơi.

Tình người cũng tụ xong lại tán
Sự lại vui, vui chán lại buồn
Cỏ hoa sớm nở tối tàn
Cây tùng cây bách muôn vàn sức xuân.

Mỗi ngày xét bản thân ba lượt
Hẳn nhiều người sẽ biết cho ta
Số trời vốn sẵn định ra
Giàu sang có mệnh, vinh hoa có ngày.

Hoa nở muộn bởi cây cằn cỗi
Đời chưa vui bởi nỗi khó nghèo
Giàu sang khách đến thăm nhiều
Nghèo hèn thân thích ra chiều cách ly.

Lúc dư dật phòng khi túng thiếu
Khi sướng vui phải liệu khi buồn
Một nhà nền nếp cương thường
Kính tôn cha mẹ đẹp gương vợ chồng.

Tình anh em thuận lòng nhân ái
Nghĩa bạn bè đi lại giúp nhau
Nuôi con phòng lúc ốm đau
Chứa thóc phòng đói là câu chí tình.

Giúp người gặp tình cảnh nguy cấp
Hoặc cứu người trong lúc gian nguy
Có mới đừng nới cũ đi
Miệng nói một lối, bụng suy một đàng.

Chớ có lành bắt vành ra méo
Đừng làm cho bé xé ra to
Một chút tà tất quanh co
Người ta sẽ tỏ cái trò quắt quay.

Lời không cánh mà bay khắp ngả
Đạo cao thì gốc cả rễ sâu
Ngọc vết mài chẳng dễ đâu
Nói sai biết sửa bao lâu mới thành.

Lời đã nói bay nhanh như gió
Bốn ngựa phi cũng khó mà theo
Khinh người là thói tự kiêu
Người ta khinh lại đời nào chịu thua.

Tự khen mình mà chê người hỏng
Thì người ta có trọng gì mình
Hãy suy thiện ác nhục vinh
Ở sao có nghĩa có tình thì hơn.

Việc gia thất muốn yên mọi sự
Mọi người nên biết xử phận mình
Đừng mưu lấy của bất minh
Chớ ghen ghét với người mình còn thua.

Vợ người ta chớ đùa cợt nhả
Đừng gièm pha quấy phá hôn nhân
Một năm có một mùa xuân
Một ngày có một giờ dần đầu tiên.

Cháy nhà có nước liền dễ chữa
Xóm giềng gần giúp đỡ lẫn nhau
Trò đời lắm chuyện thương đau
Anh em để mất lòng nhau thật buồn.

Người xưa bảo thói thường vẫn vậy
Đàn bà thì khó dạy khó chiều
Quân tử phép tắc tuân theo
Tiểu nhân chẳng biết những điều lễ nghi.

Thấy ai có vật gì quý báu
Chớ lân la tán gạ nài xin
Công việc nào quá khó khăn
Đừng bắt người khác phải lăn vào làm.

Muốn trách người phải xem mình trước
Nếu tha mình tha được người ta
Phường bất chính kẻ gian tà
Kết thân với chúng dễ mà tàn thân.

Không minh bạch miếng ăn lời nói
Nguyên nhân là tội lỗi hại mình
Lúc trẻ lao động nhiệt tình
Khi già cuộc sống gia đình thảnh thơi
Trẻ mà liêu lổng chơi bời
Về già chắc hẳn cuộc đời gian truân.

Của cho con đâu cần vàng bạc
Mà cho con được học được hành
Cho muôn khoảnh ruộng tốt xanh
Chẳng bằng cho chúng nghề lành trong tay.

Mộng làm giàu thường hay thất đức
Làm điều nhân khó được giàu sang
Thuốc hay khó chữa bệnh oan
Của nhặt được khó mở mang giàu bền.

Bất nghĩa mà trở nên phú quý
Như mây bay bọt khí nổi trôi
Phúc do trong sạch lòng người
Đức từ kiên nhẫn sống đời yêu thương.

Tham lam lắm tất vương tai họa
Sống bất nhân tội chẳng thoát đâu
Tiểu nhân chẳng giúp ai đâu
Bởi chừng lòng chúng như đầu mũi kim.

Chỉ gai góc rắp tìm mưu kế
Cốt hại người mong để lợi mình
Người quân tử có bất bình
Khéo mà xa lánh kẻo sinh hận thù.

Tình người vốn như tờ giấy trắng
Như cuộc cờ vốn chẳng giống nhau
Khéo mà ứng xử với nhau
Đừng làm ai đó phải cau đôi mày.

Chớ mạt sát day tay mắm miệng
Để người ta phải nghiến hàm răng
Ngựa gầy nên kéo chẳng hăng
Người không hồ hởi phải chăng do nghèo.

Sẵn tiền rượu thì nhiều bạn đấy
Lúc lâm nguy nào thấy một ai
Luật trời báo ứng chẳng sai
Không trước mắt cũng lâu dài chứng minh.

TÍCH THIỆN
Thiên thứ bảy khuyên luôn tích thiện
Chứa điều lành như mặt trời lên
Rất vô tư, rất tự nhiên
Sáng soi muôn nẻo chẳng phiền đến ai.

Chứa điều ác là tai họa đấy
Lửa trên đầu nào thấy mà lo
Chuyện ác dù nó chẳng to
Trên trời rung động tựa hồ sấm vang.

Việc mờ ám chẳng ai rõ biết
Nhưng mắt thần nhật nguyệt sáng soi
Giàu sang đúng phận thì thôi
Nghèo hèn yên phận sống môi trường nghèo.

Suy từ ta ra nhiều người khác
Khoe điều lành điều ác giấu đi
Thấy ai làm trái điều gì
Thì can ngăn hoặc tránh đi chớ nhìn.

Chuyện người khác không đem đàm tiếu
Mặc người ta mạnh yếu dở hay
Nói nhiều nghe cũng nhàm tai
Khuyên nhiều sinh oán bấy nay lẽ thường.

Khi yêu cũng nên lường lúc ghét
Lúc ghét nên nhớ đến khi yêu
Việc làm lời nói ít nhiều
Phải luôn hướng thiện phải theo phận mình.

YÊN PHẬN
Giữ yên phận là thiên thứ tám
Đừng để người đụng chạm đến ta
Biết lo trước, biết phòng xa
Khoan dung ngay thẳng hẳn là sống lâu.

Nước chân chính lòng trời cũng thuận
Quan thanh liêm dân hẳn yên lòng
Vợ hiền là phúc nhà chồng
Các con hiếu thảo thì lòng cha vui.

Dẫu có tài chớ nên khoe khoác
Nhiễu sự sao bằng việc an nhàn
Bốn mùa ấm lạnh xuềnh xoàng
Nói năng thận trọng rõ ràng được yên.

Của dễ được tất nhiên dễ mất
Được vất vả thì mất khó khăn
Làm thong thả việc chắc ăn
Việc đời muôn sự khó khăn ban đầu.

Người xưa nói những câu triết lý
Vào rừng bắt hổ dễ như chơi
Còn khi mở miệng dạy người
Khó khăn lắm đấy liệu lời đắn đo.

Quân tử cần ăn uống vừa đủ
Không cầu kỳ cốt giữ bình yên
Trò tìm thầy học dễ tìm
Thầy tìm trò tựa mò kim đáy hồ.

Việc chia chác chẳng lo ít ỏi
Chỉ đáng lo cái tội không đều
Không lo hoàn cảnh túng nghèo
Chỉ lo xã hội lắm điều bất công.

ĐẠI ĐẠO
Giữ đại đạo là thiên thứ chín
Lấy chữ trung chữ tín làm đầu
Người quân tử đạo đức cao
Không kiêu căng giữ trước sau khoan hòa.

Khi cần giúp người ta việc gấp
Chẳng chọn ngày, đừng bấm ngón tay
Người được ta cũng mừng thay
Người đau ta cảm đắng cay cho người.

Nói thao thao ngàn lời tươm tất
Cũng không qua việc thật đã làm
Kiếm lời chê trách nhân gian
Chính là chuốc lấy mối oan hại mình.

Ta giúp người chân tình độ lượng
Là cái thuật làm phước đáng tin
Trăm nghe không bằng một nhìn
Một việc thực tế hơn nghìn lời suông.

Việc trời đất cũng thường thay đổi
Sáng gió mưa chiều tối đẹp trời
Cũng như cuộc sống con người
Sáng chiều may rủi đầy vơi chuyển vần.

Có việc đối với ta là thế
Nhưng với người đâu dễ giống ta
Khi lời nói trái phát ra
Tất nhiên cái họa cái tà vào theo.

Của phi nghĩa đưa vào phía trước
Nó tìm đường bước lối cửa sau
Đừng làm những việc không đâu
Chớ ham của lạ để sau bận lòng.

Việc đừng quá lao tâm cực lực
Nên đắn đo vừa sức mới làm
Không lười biếng chẳng tham lam
Học điều đại đạo để làm thực tâm.

ĐỌC SÁCH
Thiên thứ mười là khuyên đọc sách
Sách là thầy dạy mách cho ta
Bao điều đạo lý sâu xa
Văn minh khoa học bao la đất trời.

Ham đọc sách thì trời chẳng phụ
Có chí bền ắt sẽ làm nên
Mẹ cha vui bởi con hiền
Gia đình hòa thuận đẹp yên mọi bề.

Đạo đức cao qủy thần nể sợ
Được mọi người giúp đỡ tin yêu
Thấy việc thiện hãy làm theo
Biết lỗi sửa lỗi là điều đáng khen.

Cách đối xử phải nên suy xét
Đừng cạn tình trái nết mất lòng
Muốn nhanh vội việc khó xong
Ham lợi nhỏ việc lớn không hoàn thành.

Tre uống mạnh không vênh cũng gãy
Chó cắn bừa bởi chạy cùng đường
Đánh chuông chuông cũng kêu vang
Người quá uất ức sẵn sàng đấu tranh
Chớ nên hám lợi hám danh
Ít ham ít muốn yên lành dài lâu.

SỐ MỆNH
Thiên mười một nói câu số mệnh
Nghĩa là do tiền định cả rồi
Giàu sang cũng bởi tại trời
Công danh có vận có thời dở hay.

Đồ ăn uống xưa nay sản xuất
Cũng do trời do đất khởi sinh
Người khôn làm đúng phận mình
Kẻ hư mạo hiểm háo danh khoe tài.

Nói thẳng thừng trái tai chẳng thích
Hãy xét suy có ích cứ làm
Ở đời lắm thói đa đoan
Thuốc đắng khỏi bệnh thế gian tỏ tường
Thấy người tốt chớ xem thường
Hãy nghiêm mà học tìm đường mà theo.

THÀNH SỰ
Thiên mười hai nói về thành sự
Muốn thành công phải biết lo xa
Mưu sự là ở người ta
Thành công tốt đẹp suy ra tại trời.

Có trường hợp ở nơi nguy bại
Được trời phù nên lại thắng to
Hoặc khi tai nạn gay go
Gặp may lại được trời cho an bình.

Có đức mà bần hàn cơ cực
Hẳn là do nghiệp chướng từ lâu
Bất lương mà được giàu sang
Chắc là kiếp trước bắt cầu thiên duyên.

Nếu phận nghèo thì nên nghèo trước
Chớ dã tâm bạo ngược khởi đầu
Biết mệnh là bởi hiểu sâu
Sống yên vô sự khác nào thần tiên.

Muốn sống lâu phải rèn luyện tốt
Từ việc làm ăn uống thuốc men
Giữ gìn chừng mực cho quen
Một ngày vui khỏe là tiên một ngày.

Không có thuốc chữa thành trường thọ
Có tiền đâu mua được con hiền
Vợ ngoan chồng chẳng ưu phiền
Có con hiếu thảo cha yên cõi lòng.

Bởi uống say nói không tử tế
Vì tiền tài huynh đệ từ nhau
Xuống ngựa trước lúc qua cầu
Có đường bộ chớ rủ nhau đi thuyền.

Áo trắng thì bụi đen dễ dính
Khó an toàn bởi tính kiêu căng
Lòng người hiểm hơn núi rừng
Hãy suy luận để coi chừng đó nghe.

Bọ ngựa rình bắt ve tưởng bở
Sẻ lại rình bọ ngựa kề bên
Người săn tặng sẻ mũi tên
Hổ lang rình sẵn xông lên vồ người.

Hổ đắc ý lên đồi định biến
Ngỡ đâu sa xuống giếng mạng toi
Mới hay mạnh yếu ở đời
Nhãn tiền báo ứng rạch ròi phân minh.

TRÍ GIẢ
Thiên mười ba dạy điều trí giả
Bậc hiền tài sáng tựa sao mai
Tiên tri thế sự lâu dài
Không cần đấu lực đấu tài với ai.

Giữ danh dự trong ngoài kính nể
Bảo vệ cho thân thể vẹn tuyền
Biết sự kiềm chế thì yên
Không bị nhục không bị phiền đến thân.

Có những chuyện người trần khó biết
Mà trời cao nghe hết mọi điều
Bảo rằng lỗi ít chẳng sao
Lỗi nhiều góp lại lớn lao khó lường.

Một mình chớ đi đường nguy hiểm
Chớ tham e sinh chuyện đắm đò
Chuyện người ta chớ tò mò
Có trách thì trách lỗi to của người.

Thù oán cũ thôi thời khép lại
Trước khoan hòa sau được điều hay
Yêu đừng yêu quá đắm say
Ghét đừng ghét đắng ghét cay sinh thù.

Có người chẳng được như ý muốn
Nên bảo ban đại lượng thì hơn
Trọng danh tiết như Thái sơn
Người không nghĩ chẳng giản đơn chút nào.

Giàu sang chẳng tự cao cậy thế
Nghèo hèn không luồn lụy cúi đầu
Kẻ vụng chẳng thấy việc đâu
Người khéo thì việc vùi đầu luôn tay.

Bậc trí giả trước đây đúc kết
Ta nên tìm học biết mà theo
Luật Tiêu Hà dạy sáu điều
Lệ ông Phu Tử cũng nêu ba phần.

NGỌC MINH CHÂU
Ngọc minh châu là thiên mười bốn
Ngợi ca đức khiêm tốn sáng trong
Ngọc là vật quý vô cùng
Minh châu tỏa sáng trong vùng tối tăm.

Ngọc muốn đẹp phải năng mài giũa
Cố nâng niu gìn giữ kẻo hoài
Trời cho ta tấm hình hài
Phải lo tự giác mà bồi bổ thêm.

Trời cho phúc ta nên gắng sức
Phải tự tôn cho đức dày thêm
Con hay cha chớ nên khen
Cha mắc lỗi con chớ nên nói nhiều
Thành công chẳng được tự kiêu
Hưởng phúc càng phải biết điều dung tha.

HỌC VẤN
Thiên mười lăm chăm đường học hỏi
Có tư duy mạnh giỏi hơn người
Trước là đẹp đạo đất trời
Sau là xây dựng tình người đẹp hơn.

Hiếu với cha thời con hiếu lại
Kính trọng người người lại trọng ta
Chớ tin những thuyết tà ma
Nó làm chìm đắm xấu xa lòng người.

Người xưa bảo hiền tài – phấn đất
Nghĩa nhân kia mới thật ngàn vàng
Đường dài thử sức gian nan
Sống lâu mới biết ruộc gan tình người.

Biết giữ phận thì đời nhàn hạ
Không gian tham tai họa khó vào
Vận đen vàng hóa ra thau
Vận đỏ sắt cũng ra màu vàng tươi.

Rượu trắng nhuộm đỏ mặt người
Bạc vàng dễ nhuộm lòng người tối đi
Nghèo giữa chợ ai thèm thăm hỏi
Giàu ở rừng có khối người thương
Vẽ hổ, khó vẽ bộ xương
Biết người biết mặt, khó lường lòng ai.

Không đáng sợ sức hai con hổ
Chỉ sợ người ăn ở hai lòng
Sống đại lượng phúc huy hoàng
Mưu sâu ắt họa cũng càng thêm sâu.

Vợ chồng hợp sức nhau bàn bạc
Có tiền mua nhiều lạng vàng ròng
Vợ chồng ăn ở khác lòng
Có tiền đâu dễ sắm cùng cái kim.

Trị nhà như cầm cương ngựa dữ
Trị nước như dạo thử cung đàn
Cho nên học hiểu mà làm
Lẽ trời với lẽ dân gian hài hòa
Muốn xây phú quý vinh hoa
Cái nền học vấn phải là đầu tiên.

TU ĐỨC
Thiên mười sáu thường xuyên tu đức
Phải chuyên tâm nỗ lực hàng ngày
Học rồi thực tế làm ngay
Rút ra kinh nghiệm dở hay sự tình.

Tu đức tốt tướng sinh ra tướng
Con thảo hiền sinh được cháu ngoan
Nhà nghèo cần vợ đảm đang
Nước loạn cần tướng giỏi giang trung thành.

Âm dương hòa không sinh lụt bão
Vợ chồng hòa thì đạo nhà yên
Tránh điều nghi kỵ hờn ghen
Đàn bà tiếp khách phải nên ghi rằng:
Cử chỉ đẹp, nói nhẹ nhàng
Khi đưa tiễn khách xin đừng quá chân.

Bốn đức tính công, dung, ngôn, hạnh
Người đàn bà nặng gánh lo toan
Đừng kêu sa, chớ lăng loàn
Đừng ghen ghét chớ giận hờn với ai.

Gái yêu chồng đẹp vui mọi vẻ
Giúp chồng nuôi con khỏe con ngoan
Xựng xây tôn thống họ hàng
Sáng trong như ngọc, nết càng đẹp ra.

Khi lòng dục dâm tà đã mở
Quên yêu thương bỏ cả lễ nghi
Nết hư dù có một li
Tiếng tăm đồn đại bay đi khắc cùng.

NGƯỜI TỐT
Làm người tốt là thiên mười bảy
Sống nhân từ ai nấy mến thương
Trời cho phúc, lộc, thọ trường
Sống vui thanh thản đời thường gặp may.

Cha dạy con từ ngày còn nhỏ
Chồng khuyên vợ từ thuở mới về
Không quá vui đến đam mê
Bài bạc, nghiện hút, rượu chè, gian dâm.

Tình dục chớ tham lam buông thả
Sức suy tàn rệu rã ai thương
Của quý chớ có phô trương
Vàng bạc phải khóa trong rương trong hòm.
Buồng the chớ để ai dòm
Của còn nguyên vẹn tình còn bền lâu.

LƯƠNG TÀI
Thiên mười tám răn chữ lương tài
Có lương tài sống chết thơm danh
Người tài lành có bạn lành
Người ác bạn ác kết thành tai ương.

Người lương tài nên thường nói thẳng
Kẻ xấu xảo nịnh chẳng ai yêu
Người lành nói ít làm nhiều
Tiểu nhân múa mép lắm điều ba hoa.

Người lành không gian tà uẩn khúc
Hành động luôn chính trực phân minh
Kiệm, cần, có lý có tình
Để không mang tiếng rằng mình kiêu sa.

Vụng may áo gấm hoa cũng hỏng
Làm bậy thì phá hỏng cơ ngơi
Vô sự thì sống thảnh thơi
Đa mang lắm chốn lắm lời thị phi.

Người giúp việc kể chi đẹp xấu
Cần chọn người trung hậu chăm ngoan
Lòng người nọc rắn khó phân
Của trời ai biết chuyển vần ra sao.

Của xóm đông lấy về hôm trước
Đến hôm sau lại ngược xóm đoài
Việc hôm nay, việc ngày mai
Hãy đem hai chữ lượng tài mà xem.

LẬP THÂN
Thiên mười chín lập thân bền vững
Phải khôn ngoan trong cứng ngoài mềm
Phúc nhà thuận dưới kính trên
Kiệm, cần, kiên, nhẫn là nền trị gia.

Làm quan phải giỏi và liêm khiết
Phải cẩn trọng và biết thương dân
Mới hay bí quyết lập thân
Kiên trì liêm chính, kiệm cần thì nên.

THỊNH ĐỨC
Thiên hai mươi nói về thịnh đức
Một số điều đã được rút ra
Người thực tài chẳng ba hoa
Thường khi dung mạo cứ là như ngây.

Có ruộng không cấy cày thì đói
Có sách không học hỏi thì ngu
Trai mà lêu lổng thì hư
Gái mà lười biếng cũng như lợn sề.

Trai sợ vợ bởi vì nhu nhược
Gái kính chồng thì được nết ngoan
Dè xẻn chẳng bởi đủ ăn
Sống xa xỉ bởi nguyên nhân của thừa.

Vừa lười nhác lại vừa ngu xuẩn
Thì giàu sang đâu đến mà mơ
Hay đến thân cũng làm sơ
Ngồi lâu chủ chẳng bao giờ thích đâu.

Uống rượu đấu khẩu nhau ít chữ
Mới là người quân tử phòng thân
Thóc tiền sòng phẳng đồng cân
Mới là đức độ, tinh thần trượng phu.

Loài cầm thú sa mồi mắc bẩy
Cam phận hèn khi đã sa cơ
Cá tham bị giật lên bờ
Có hối cũng chẳng bao giờ được tha.

Làm việc xấu đã ra pháp luật
Hối ba lần cũng thật muộn mằn
Nước loạn chớ đến dung thân
Nơi nguy hiểm chớ bước chân tìm vào.

Phép quyền biến làm sao biết trước
Phải đắn đo may được an toàn
Lò lửa ví như phép quan
Lòng người như sắt như gang trong lò.

Người yếu phải nương nhờ người mạnh
Giúp được người là hạnh phúc thay
Không thù dai chẳng hại ai
Tuy nhiên vẫn phải nhớ bài phòng thân.

Trên lượng cả chẳng cần phạt dưới
Kẻ trịch thượng từ chối đừng chơi
Nước trong ít cá lội bơi
Sống nhiều khe khắt ít người mến thân.

LUẬT BẢO TOÀN
Thiên hăm mốt tuần hoàn vay trả
Báo ứng nhanh gương đã nhiều rồi
Nhạt nồng khéo ở lòng người
Dở hay đã có đạo trời phân minh.

Trời mưa gió thình lình bất trắc
Người có khi dồn dập tai ương
Đức cao dễ được thọ trường
Tu thân tích đức phúc thường dày thêm.

Lừa dối người là mầm tai họa
Phúc dày nhờ lượng cả bao dung
Cẩn thận chẳng sợ khốn cùng
Nhẫn thì chẳng nhục, vạ không đến mình.

Sống bình tỉnh được yên lành mãi
Biết kiệm cần đỡ phải gieo neo
Trên sông tùy khúc bơi chèo
Vào nhà tùy lúc liệu chiều xã giao.

Dạy con cháu bằng điều từ thiện
Lấy khoan dung sai khiến mọi điều
Một năm kế hoạch ăn tiêu
Không gì bằng cấy trồng nhiều lúa khoai.

Kế mười năm dài hơi một chút
Không gì bằng trồng được nhiều cây
Còn như kế hoạch lâu dài
Là trồng cây đức dẻo dai vững bền.

Dù lắm tiền thuốc thang tẩm bổ
Chẳng bằng đêm nằm ngủ riêng giường
Dạy con cần mở văn chương
Ở trong vàng bạc kim cương có thừa.

Một con được ơn vua lộc nước
Để cả nhà cùng được thơm lây
Siêng năng học tập đêm ngày
Để mà chiêm nghiệm lời này khuyên răn.

Việc đúng cứ tiến hành đừng sợ
Trời sẽ cho phúc ở tầm tay
Lấy điều đạo lý xưa nay
Truyền cho con cháu đời này đời sau.

LÀM ĐIỀU NĂNG TÍNH
Thiên hăm hai làm điều năng tính
Biết đắn đo sống hẳn yên lành
Biết suy nghĩ việc dễ thành
Cần đâu được đấy vui lành biết bao.

Khi sống biết lo sau tính trước
Lúc lâm chung sẽ được yên lành
Tuổi già lắm bệnh phát sinh
Đều do lúc trẻ tự mình làm ra.

Lúc thịnh đạt gian tà trái đạo
Khi tuổi già quả báo coi chừng
Sợ thay đóm lửa thiêu rừng
Nửa câu nói trái sau đừng khoe khôn.

Biết điều thiện ôn tồn mách bảo
Chỉ nơi nguy người khác tránh xa
Khi lòng hiểm độc gian tà
Niệm kinh gõ mõ quả là vô duyên.

Đem bố thí bằng tiền bất chính
Cũng chỉ là vô ích mà thôi
Chỉ vài việc xấu nhất thời
Nói khôn nói khéo ai người còn tin.

Sống thừa thải bạc tiền nhung lụa
Chắc đâu bằng sống đủ mà vui
Mực gần thì dễ đen thui
Gần son thì đỏ sự đời chẳng sai.

Gần người ngu biến hay thành dốt
Gần người hay càng tốt thêm ra
Người quân tử đức nở hoa
Tiểu nhân tìm cái xấu xa học đòi
Ngẫm xem muôn sự ở đời
Ác thì được ác, nhân thời được nhân.

Ngựa cùng đường vung chân đạp đá
Chim cùng đường liều mổ mà bay
Thú cùng muốn sổng chạy dài
Bản năng tự vệ muôn loài bẩm sinh.

Người giả dối thì đừng bắt chuyện
Gái lẳng lơ thì biến cho xa
Những người ngay thẳng thật thà
Kiên tâm gần gũi để mà học theo.

Kẻ nghiện ngập lêu têu hợm hĩnh
Hãy coi chừng cố tránh đừng chơi
Mới hay hậu họa ở đời
Trắng đen cũng bởi lòng người mà ra.

THƯ TẤT
Thiên hăm ba là thiên thư tất
Sách Bạch Vân kết luận nói rằng
Muôn điều khởi sự cái tâm
Nếu lòng buông thả lỗi lầm đến ngay.

Học điều hay tỏ bày chân lý
Bảo tồn Chân, Thiện, Mỹ sáng trong
Thánh nhân trợ giúp bao dung
Tiến – lui còn – mất mới mong tinh tường.

Không để mất kỷ cương chánh đạo
Lời thánh hiền dạy bảo thiêng liêng
Hiếu, trung, cần, kiệm, chính, liêm
Xa gần kính trọng, dưới trên thuận hòa.

Sự kính nhường coi là cái gốc
Lấy học hành trí thức nâng lên
Chân thành học hỏi thường xuyên
Muốn tu chí đức phải nghiêm lấy mình
Những điều giáo huấn anh minh
Thành tâm bái phục, ơn tình chẳng quên./.

Nguồn Wikisource.
** Thuận Pháp sưu tầm**