Pháp hành thiền định và pháp hành thiền tuệ khác biệt nhau, song có thể hỗ trợ lẫn nhau được. Những điểm khác biệt tìm thấy trong pháp hành thiền định và pháp hành thiền tuệ được trình bày từng điểm như sau:
1- Ý nghĩa (Aṭṭha):
Thiền định: Thiền định là định tâm nơi một đối tượng thiền định duy nhất, để dẫn đến sự chứng đắc các bậc thiền sắc giới, các bậc thiền vô sắc giới.
Thiền tuệ: Thiền tuệ là trí tuệ thiền tuệ thấy rõ, biết rõ sự sanh, sự diệt của danh pháp, sắc pháp, hiện thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp, dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.
2- Chi pháp (Dhammaṅga):
Thđ [1]: Chi pháp của thiền định là nhất tâm tâm sở.
Tht [2]: Chi pháp của thiền tuệ là tuệ chủ tâm sở.
3- Trạng thái riêng (Visesalakkhaṇa):
Thđ: Thiền định có trạng thái riêng là không phóng tâm.
Tht: Thiền tuệ có trạng thái riêng là thấy rõ, biết rõ thực tánh của tất cả các pháp.
4- Phận sự (Rasa):
Thđ: Thiền định có phận sự tập trung tâm trên một đối tượng.
Tht: Thiền tuệ có phận sự diệt vô minh che án thực tánh của các pháp.
5- Quả hiện hữu (Paccuppaṭṭhāna):
Thđ: Thiền định có tâm an trú một đối tượng duy nhất, đó là quả hiện hữu.
Tht: Thiền tuệ có trí tuệ thiền tuệ sáng suốt thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp, đó là quả hiện hữu.
6- Nguyên nhân gần (Padaṭṭhāna):
Thđ: Thiền định có thọ lạc là nguyên nhân gần.
Tht: Thiền tuệ có định tâm là nguyên nhân gần.
7- Ðối tượng (Ārāmmaṇa):
Thđ: Thiền định có 40 đề mục thiền định làm đối tượng.
Tht: Thiền tuệ có danh pháp, sắc pháp thuộc về Chân nghĩa pháp làm đối tượng.
8- Pháp (Dhamma):
Thđ: Ðối tượng thiền định thuộc về Chế định pháp (Paññatti-dhamma).
Tht: Ðối tượng thiền tuệ thuộc về Chân nghĩa pháp (Paramattha-dhamma).
9- Sanh – diệt (Udaya – vaya):
Thđ: Ðối tượng thiền định không có sự sanh, sự diệt.
Tht: Ðối tượng thiền tuệ có sự sanh, sự diệt.
10- Thời gian (Kāla):
Thđ: Thiền định có đối tượng Chế định pháp, nên thuộc về kālavimutti: ngoại 3 thời, không thuộc về quá khứ, hiện tại, vị lai.
Tht: Thiền tuệ có đối tượng Chân nghĩa pháp ở 3 thời, thời hiện tại là chính; thời quá khứ, thời vị lai là phụ.
11- Căn môn (Dvāra):
Thđ: Thiền định chỉ dùng đến 2 môn: nhãn môn hoặc thân môn là phụ, ý môn là chính.
Tht: Thiền tuệ dùng đến 6 căn môn: nhãn môn, nhĩ môn, tỷ môn, thiệt môn, thân môn, ý môn. Ý môn là chính.
12- Trạng thái chung (Sāmaññalakkhaṇa):
Thđ: Thiền định có đối tượng là Chế định pháp nên không có trạng thái riêng và trạng thái chung nào.
Tht: Thiền tuệ có đối tượng là Chân nghĩa pháp nên có trạng thái riêng của mỗi pháp và có 3 trạng thái chung: trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã của danh pháp, sắc pháp.
13- Bản tánh (Carita):
Thđ: Thiền định, phân chia hành giả có 6 loại tánh: tánh tham, tánh sân, tánh si, tánh suy diễn, tánh tín, tánh giác.
Tht: Thiền tuệ, phân chia hành giả có 2 loại tánh: tánh tham ái, tánh tà kiến.
14- Ấn chứng (Nimitta):
Thđ: Thiền định có 3 ấn chứng: ấn chứng ban đầu tiến hành (pari-kammanimitta), ấn chứng thô ảnh tương tự (uggahanimitta), ấn chứng quang ảnh trong sáng (paṭibhāganimitta).
Tht: Thiền tuệ hoàn toàn không có ấn chứng nào.
15- Tâm định (Samādhi):
Thđ: Thiền định có 2 loại tâm định: tâm cận định (upacāra-samādhi), tâm an định (appanāsamādhi).
Tht: Thiền tuệ chỉ có 1 tâm định là sát na định (khaṇikasamādhi).
16- Chứng đắc (Adhigama):
Thđ: Tiến hành thiền định để chứng đắc 5 hoặc 4 bậc thiền sắc giới, 4 bậc thiền vô sắc giới.
Tht: Tiến hành thiền tuệ để chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn.
17- Tâm (Citta):
Thđ: Thiền định đạt đến đại hành tâm (mahāgatacitta). Ðó là sắc giới tâm, vô sắc giới tâm.
Tht: Thiền tuệ đạt đến siêu tam giới tâm (lokuttaracitta). Ðó là 4 Thánh Ðạo Tâm, 4 Thánh Quả Tâm.
18- Diệt phiền não (Pahāna):
Thđ: Sắc giới thiền, vô sắc giới thiền có khả năng chế ngự được phiền não (vikkhambhanapahāna).
Tht: Siêu tam giới, đó là 4 Thánh Ðạo Tuệ có khả năng diệt đoạn tuyệt được phiền não (samucchedapahāna); 4 Thánh Quả Tuệ có khả năng diệt vắng lặng được phiền não (paṭipassadhipahāna); Niết Bàn diệt danh pháp, sắc pháp, giải thoát khỏi khổ (nissaraṇapahāna).
19- Mục đích:
Thđ: Mục đích của thiền định đạt đến tâm an trụ trong bậc thiền, thọ hưởng sự an lạc trong bậc thiền; bậc thiền thiện tâm cho quả tái sanh trong cõi sắc giới, cõi vô sắc giới tuỳ theo bậc thiền sở đắc của mình.
Tht: Mục đích của thiền tuệ chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, pháp giải thoát khổ tử sanh luân hồi trong ba giới bốn loài.
20- Quả báu (Ānisaṃsa):
Thđ: Thiền định, khi chứng đắc 5 bậc thiền sắc giới, 4 bậc thiền vô sắc giới có nhiều quả báu như sau:
a) Kiếp hiện tại:
Nhập định để thọ hưởng sự an lạc trong bậc thiền.
Có khả năng luyện ngũ thông (abhiññā).
Làm nền tảng (đối tượng) để tiến hành thiền tuệ.
Hỗ trợ cho bậc Thánh nhân nhập Thánh Quả Ðịnh.
Chứng đắc 9 bậc thiền hỗ trợ cho bậc Thánh Bất Lai, bậc Thánh Arahán nhập diệt thọ Tưởng Ðịnh....
b) Kiếp vị lai:
Nếu bậc thiền định không bị hư mất, sau khi chết, bậc thiền ấy chắc chắn sẽ cho quả tái sanh làm phạm thiên ở cõi trời sắc giới, hoặc vô sắc giới tùy theo bậc thiền sở đắc của hành giả.
Tht: Thiền tuệ siêu tam giới, đó là 4 Thánh Quả Tâm có nhiều quả báu như sau:
a) Kiếp hiện tại:
Bậc Thánh nhân nhập Thánh Quả Ðịnh thọ hưởng sự an lạc Niết Bàn tịch tịnh.
Bậc Thánh Bất Lai và bậc Thánh Arahán chứng đắc đủ 9 bậc thiền có khả năng nhập diệt thọ Tưởng Ðịnh, suốt 7 ngày đêm, giải thoát khổ của danh pháp, sắc pháp....
b) Kiếp vị lai:
Bậc Thánh Nhập Lưu sau khi chết vĩnh viễn không tái sanh trong 4 ác giới, do thiện nghiệp cho quả chỉ còn tái sanh cõi thiện dục giới nhiều nhất 7 kiếp nữa... sẽ tịch diệt Niết Bàn.
Bậc Thánh Nhất Lai sau khi chết, do thiện nghiệp cho quả chỉ còn tái sanh 1 kiếp nữa... sẽ tịch diệt Niết Bàn.
Bậc Thánh Bất Lai sau khi chết, không còn trở lại tái sanh cõi dục giới, do bậc thiền cho quả chỉ còn tái sanh cõi sắc giới, (cõi vô sắc giới)... sẽ tịch diệt Niết Bàn ở cõi trời sắc giới ấy.
Bậc Thánh Arahán, ngay kiếp hiện tại này, đến khi hết tuổi thọ, tịch diệt Niết Bàn, chấm dứt sự khổ tử sanh luân hồi trong tam giới.
21- Tính chất quả báu:
Thđ: Quả báu của thiền định: các bậc thiền định sắc giới có thể hư mất, hoặc hưởng hết tuổi thọ ở cõi trời sắc giới, vô sắc giới ấy, rồi phải tái sanh nơi cảnh giới khác tùy theo nghiệp của hành giả.
Tht: Quả báu của thiền tuệ siêu tam giới, đó là 4 Thánh Quả Tâm vĩnh viễn không bao giờ bị hư mất.
22- Ðối tượng - chủ thể:
Thđ:
Ðối tượng thiền định paññatti chuyển biến từ parikamma-nimitta đến uggahanimitta; từ uggahanimitta đến paṭibhāganimitta; mỗi đối tượng thiền định có ấn chứng khác biệt nhau.
Chủ thể định tâm: từ khi chưa biết ấn chứng đến khi an trú trong ấn chứng ấy; dẫn đến sự chứng đắc các bậc thiền sắc giới, vô sắc giới......
Tht:
Ðối tượng thiền tuệ paramattha thực tánh hoàn toàn không chuyển biến. Mọi đối tượng đều có trạng thái chung giống hệt nhau.
Chủ thể: chánh niệm, trí tuệ tỉnh giác từ khi chưa thấy, chưa biết rõ thực tánh của các pháp, đến khi thấy rõ, biết rõ thực tánh của các pháp; dẫn đến sự chứng ngộ chân lý Tứ thánh đế, chứng đắc 4 Thánh Ðạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn....
23- Con đường:
Thđ: Pháp hành thiền định ví như con đường vòng tròn, tử sanh luân hồi trong tam giới không cùng tận.
Tht: Pháp hành thiền tuệ ví như con đường thẳng, tiến đến Niết Bàn, giải thoát khổ tử sanh luân hồi trong tam giới....
24- Pháp hành:
Thđ: Pháp hành thiền định có trong Phật giáo và có ngoài Phật giáo.
Tht: Pháp hành thiền tuệ chỉ có trong Phật giáo mà thôi.
Nhận xét về pháp hành thiền định – pháp hành thiền tuệ
Nhận xét qua những điều khác biệt giữa pháp hành thiền định và pháp hành thiền tuệ thấy rằng:
Trong tam giới pháp (lokiyadhamma) thiền định và thiền tuệ có nhiều điểm khác biệt với nhau, không thể gặp nhau được; song có thể gián tiếp hỗ trợ lẫn nhau.
Trong siêu tam giới pháp (lokuttaradhamma) có Niết Bàn làm đối tượng, thì thiền định và thiền tuệ có điểm giống nhau, gặp nhau được.
Như trường hợp Thánh Ðạo Tâm và Thánh Quả Tâm phát sanh có Niết Bàn làm đối tượng. Trong Thánh Ðạo Tâm và Thánh Quả Tâm có hợp đủ 8 chánh:
Có chánh định: định tâm trong các bậc thiền siêu tam giới có Niết Bàn là đối tượng, thuộc về thiền định siêu tam giới.
Có chánh kiến: trí tuệ thiền tuệ siêu tam giới chứng ngộ Niết Bàn là đối tượng, thuộc về thiền tuệ siêu tam giới.
Như vậy, thiền định và thiền tuệ có chung Niết Bàn làm đối tượng, cả hai đồng sanh trong siêu tam giới tâm.
--------------------
[1] Viết tắt chữ Thiền định.
[2] Viết tắt chữ Thiền tuệ.
Trích từ Quyển “Tìm hiểu pháp hành thiền tuệ” của Ngài Hộ Pháp.
Wednesday, March 6, 2013
Sunday, March 3, 2013
Hello Viet Nam
Tác giả: Marc Lavoine (Sinh ngày 6/8/1962 tại Longjumeau, Essonne, Pháp).
Trình bày: Phạm Quỳnh Anh (Sinh năm 1987 tại Bỉ).
Tell me all about this name, that is difficult to say
It was given me the day I was born.
Want to know about the stories of the empire of old
My eyes say more of me than what you dare to say.
All I know of you is all the sights of war
A film by Coppola, the helicopter’s roar.
One day I’ll touch your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello… Vietnam.
Tell me all about my color, my hair and my little feet
That have carried me every mile of the way.
Want to see your houses, your streets. Show me all I do not know.
Wooden sampans, floating markets, light of gold.
All I know of you is all the sights of war
A film by Coppola, the helicopter’s roar
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello… Vietnam.
And Buddhas made of stone watch over me
My dreams they lead me through the fields of rice
In prayer, in the light…I see my skin
I touch my tree, my roots, my begin.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello… Vietnam.
One day I’ll walk your soil
One day I’ll finally know my soul
One day I’ll come to you
To say hello…Vietnam
To say hello…Vietnam
To say xin chào… Vietnam.
-o0o-
Xin chào Việt Nam
Nói cho tôi nghe tất cả về cái tên này, xa lạ và khó nói
Nó đã được đưa cho tôi ngày tôi được sinh ra
Tôi muốn biết về những câu chuyện của Vương Triều xưa và đôi mắt của tôi
Nói rõ hơn về tôi so với những gì bạn không thể nói
Tất cả tôi biết về các bạn qua những hình ảnh của chiến tranh
Một cuộn phim bởi Coppola, và những chiếc máy bay trực thăng đang trong cơn thịnh nộ.
Một ngày kia tôi sẽ chạm lên đất của các bạn
Một ngày kia tôi sẽ biết được về linh hồn của tôi
Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy
Để nói lời chào Việt Nam.
Nói cho tôi nghe tất cả về màu da, mái tóc và bàn chân bé nhỏ của tôi
Đã mang tôi đi mỗi dặm đường cách xa
Tôi muốn nhìn thấy ngôi nhà của các bạn, những con phố của các bạn, cho tôi thấy tất cả những gì tôi không biết
Sampans làm bằng gỗ, những thị trường trôi nổi, ánh sáng của vàng.
Một ngày kia tôi sẽ chạm lên đất của các bạn
Một ngày kia tôi sẽ biết được về linh hồn của tôi
Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy
Để nói lời chào Việt Nam.
Những ngôi chùa và những tượng Phật bằng đá
Những giấc mơ của tôi dẫn dắt tôi xuyên qua những cánh đồng ruộng lúa
Trong sự nguyện cầu, trong ánh sáng và tôi nhìn thấy họ hàng của tôi
Tôi về với tiếng lòng, về với cội nguồn, về với đất mẹ quê cha.
Một ngày kia tôi sẽ chạm lên đất của các bạn
Một ngày kia tôi sẽ biết được về linh hồn của tôi
Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy
Để nói lời chào Việt Nam.
Một ngày kia tôi sẽ đi bộ trên đất của các bạn
Một ngày kia tôi sẽ biết được linh hồn của tôi
Một ngày kia tôi sẽ đến nơi ấy
Để nói xin chào Việt Nam
Để nói xin chào Việt Nam.
**TP st**
**TP st**
Friday, March 1, 2013
"Xứng đôi" trong kinh Phật
Xứng đôi, vừa lứa là niềm mong mỏi và hạnh phúc của loài người từ xưa đến nay. Có nhiều cách lựa chọn sự xứng đôi, theo phong tục tập quán; theo truyền thống gia đình và xã hội; theo hạnh nguyện, hạnh sở của từng cá nhân,... Xứng đôi có được là điều may mắn, và giữ được lâu dài càng khó hơn. Tuy nhiên có những hạng chúng sanh (loài người và loài trời) còn mong ước sự xứng đôi tinh tế và đặc biệt hơn, cùng sánh bước nhau trong luân hồi sinh tử bằng niềm tin vào nghiệp và quả của nghiệp, bằng giới hạnh, bằng phước thiện và bằng cái biết vượt thế gian của mình.
"Xứng đôi" nhưng không biết trôi lăn về đâu trong luân hồi sinh tử đưa đến "ái biệt ly, khổ":
"... Chỉ còn gần em một giây nữa thôi
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Nhìn theo cánh chim về nơi cuối trời
Em ơi nơi này nhớ thương nào nguôi." (Lời bài hát Phút Cuối)
"Xứng đôi" nhưng "lạt lẽo", vẫn mang mãi một mối tình xưa cũ:
"...Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người." (Hai sắc hoa Tigôn, T.T.Kh)
"Xứng đôi" nhưng lỡ bước, đợi chờ như vô tình:
"Có khi nào trên đường đời tấp nập
Ta vô tình đi lướt qua nhau
Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất
Một tâm hồn ta đã đợi từ lâu." (Có khi nào, Bùi Minh Quốc)
Cũng là "xứng đôi" nhưng có nguyện ước, tin nhân quả, tin tội phước và cần sự hỗ trợ để thực hành bồi bổ hạnh Ba-la-mật nhằm hướng đến giải thoát "khổ luân hồi" như trong kinh Phật:
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng hesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu."
(Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Phẩm Nguồn Sanh Phước, Phần Xứng Đôi - HT. Minh Châu dịch Việt).
Tóm lại, điều kiện để "xứng đôi" xứng đáng và thù thắng, được bậc trí khen ngợi, được bậc trí nhìn thấy bằng "tuệ nhãn" như thực là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, được thành tựu do cùng phát nguyện sau khi có các tâm đại thiện khởi sinh.
***Thuận Pháp tổng hợp***
"Xứng đôi" nhưng không biết trôi lăn về đâu trong luân hồi sinh tử đưa đến "ái biệt ly, khổ":
"... Chỉ còn gần em một giây nữa thôi
Một giây nữa thôi là xa nhau rồi
Nhìn theo cánh chim về nơi cuối trời
Em ơi nơi này nhớ thương nào nguôi." (Lời bài hát Phút Cuối)
"Xứng đôi" nhưng "lạt lẽo", vẫn mang mãi một mối tình xưa cũ:
"...Tôi vẫn đi bên cạnh cuộc đời
Ái ân lạt lẽo của chồng tôi
Mà từng thu chết, từng thu chết
Vẫn giấu trong tim một bóng người." (Hai sắc hoa Tigôn, T.T.Kh)
"Xứng đôi" nhưng lỡ bước, đợi chờ như vô tình:
"Có khi nào trên đường đời tấp nập
Ta vô tình đi lướt qua nhau
Bước lơ đãng chẳng ngờ đang để mất
Một tâm hồn ta đã đợi từ lâu." (Có khi nào, Bùi Minh Quốc)
Cũng là "xứng đôi" nhưng có nguyện ước, tin nhân quả, tin tội phước và cần sự hỗ trợ để thực hành bồi bổ hạnh Ba-la-mật nhằm hướng đến giải thoát "khổ luân hồi" như trong kinh Phật:
"Một thời, Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Bhagga tại núi Sumsumàra, rừng hesakalà, ở vườn Nai. Rồi Thế Tôn, vào buổi sáng đắp y, cầm y bát, đi đến trú xứ gia chủ cha Nakulà, sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Rồi gia chủ cha Nakulà và nữ gia chủ mẹ Nakulà đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, gia chủ cha Nakulà bạch Thế Tôn:
- Từ khi nữ gia chủ mẹ Nakulà được đem về đây cho con khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến vợ con, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
Nữ gia chủ mẹ Nakulà bạch Thế Tôn:
- Bạch Thế Tôn, từ khi con được đem về đây cho gia chủ cha Nakulà, khi con còn trẻ tuổi, con không bao giờ biết con có điều gì xâm phạm đến gia chủ cha Nakulà, cho đến ý nghĩ cũng không, chớ đừng nói gì đến thân. Vì rằng bạch Thế Tôn, chúng con muốn thấy mặt nhau, trong đời này, mà còn muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa.
- Vậy này các Gia chủ, khi cả hai vợ và chồng muốn thấy mặt nhau trong đời này, và cũng muốn thấy mặt nhau trong đời sau nữa, và cả hai người là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, thời trong đời hiện tại, các người được thấy mặt nhau, và trong đời sau, các người cũng được thấy mặt nhau.
Cả hai, tín, bố thí,
Sống chế ngự, chánh mạng,
Cả hai vợ chồng ấy,
Nói lời thân ái nhau,
Ðời sống nhiều hạnh phúc,
Chờ đợi hai người ấy.
Kẻ thù không thích ý,
Cả hai giới hạnh lành,
Ở đây sống theo Pháp,
Giữ cấm giới đồng đẳng,
Cả hai giới hạnh lành,
Sống hoan hỷ Thiên giới,
Hân hoan được thỏa mãn,
Ðúng với điều sở cầu."
(Kinh Tăng Chi Bộ, Chương Bốn Pháp, Phẩm Nguồn Sanh Phước, Phần Xứng Đôi - HT. Minh Châu dịch Việt).
Tóm lại, điều kiện để "xứng đôi" xứng đáng và thù thắng, được bậc trí khen ngợi, được bậc trí nhìn thấy bằng "tuệ nhãn" như thực là đồng tín, đồng giới, đồng thí, đồng trí tuệ, được thành tựu do cùng phát nguyện sau khi có các tâm đại thiện khởi sinh.
***Thuận Pháp tổng hợp***
Wednesday, January 30, 2013
Chia sẻ kinh nghiệm hành thiền trong rừng
Bài
& Ảnh: Chơn Minh & Tấn Phát.
Nhằm tìm hiểu thêm việc hành thiền của các
nhà Sư Phật Giáo Nguyên Thủy (PGNT) Việt Nam, đã trải nghiệm trong rừng tại Thái Lan như Đức Phật thời
xưa đã làm, đồng thời để chia sẻ kinh nghiệm này đến với Chư Tăng, Ni trẻ và Phật
tử muốn biết rõ việc hành thiền trong rừng ra sao? Phóng viên Tạp chí PGNT đã tiếp cận Sư Trung Thiện tại Văn phòng chùa Bửu Quang, mới
vừa ở Thái Lan về. Mục đích của cuộc phỏng vấn nhằm cung cấp cho bạn đọc những
thông tin cần thiết cho bất kì ai có ý định hành thiền trong rừng tại Việt Nam hay tại bất
cứ đất nước quốc giáo nào.
Phóng viên (PV): Xin Sư cho biết
Sư sang Thái Lan thời gian được bao lâu và hành thiền trong rừng ở vùng nào? Sư
có tham gia trong trường thiền nào trong rừng không?
Sư Trung Thiện (STT): Trước khi cuộc
phỏng vấn, Sư sẽ đọc một đoạn kinh ngắn phúc chúc an lạc đến cho chư Thiên và
độc giả với một tấm lòng chân thật là đem lợi ích Pháp bảo, lợi ích tâm từ đến
với chúng sanh:
Namo tassa Bhavagato Arahato Sammāsambuddhassa...
Tổng cộng thời
gian hành thiền của Sư tại Đông bắc Thái Lan gồm ba hạ Tỳ khưu. Sư thọ cụ túc
giới tại Trường Thiền Wat Ram Poeng – Chiang Mai dưới sự hướng dẫn chỉ dạy của
Thiền Sư Tế độ Ajahn Suphan. Ngài đã dạy thiền tại nhiều nước như Việt Nam, Trung
Quốc, Mexico và một số nước Châu Âu. Sư thường hành thiền ở trong rừng thuộc
chi nhánh của Trường Thiền Wat Ram Poeng dành cho những Tỳ khưu và Tu nữ hay Phật tử ưa thích muốn hành thiền
miên mật ở những nơi thanh vắng. Sư đã ở nơi này hai hạ, tên gọi là “Nơi thực
hành pháp của Walay” do cận sự nữ Walay cúng dường đất và vị Viện Trưởng đã xây
thêm liêu cốc cho hành giả tu thiền. Ngoài ra, vài lần Sư hành thiền trong khu rừng
trồng tại Wat Suan Lamzay (Chùa Vườn Nhãn), tỉnh LamPun.
PV: Xin Sư cho biết khi hành thiền
trong rừng thì thiền giả cần chuẩn bị cho mình điều gì về mặt tâm linh và dụng
cụ hành thiền?
STT: Thật sự vấn đề hành thiền trong
rừng đã nhiều lần được Đức Thế Tôn tán thán. Nhưng thực tế tiêu chuẩn đối với
Tỳ khưu muốn vào rừng hành thiền rất khó khăn và cực kì nghiêm ngặt như trường
hợp Ngài Upali, được nói đến trong Kinh Tăng Chi Bộ - Phẩm Chín Pháp. Đức Thế
Tôn nói “Những vị Tỳ khưu nào khi thấy rõ các pháp này hiện khởi nơi chính mình
thì vị ấy mới đến những nơi trú xứ xa vắng để hành pháp”. Rồi trong Kinh Sợ Hãi
Và Khiếp Đảm (Trung Bộ Kinh) Đức Thế Tôn còn nói về tiêu chuẩn hành thiền trong
rừng của Tỳ khưu, v.v... Soi rọi lại, Sư thường tự hỏi mình xem có hội đủ tiêu
chuẩn hành thiền trong rừng hay không? Do vậy để vào rừng hành thiền thì vị Tỳ
khưu đó phải nghe nhiều, đọc nhiều, hoan hỷ với pháp với niềm tin vững chắc.
Tiêu chuẩn thứ hai vị Tỳ khưu phải là người thiểu dục, tri túc không ưa thích
hội chúng. Vị Tỳ khưu cần có nhiệt tâm, tinh cần, ngoài ra vị ấy cần có sự kham
nhẫn và tâm từ vì nếu không có những tính chất tâm thế này vị ấy không thề tồn
tại lâu trong rừng bởi sự khuấy động của các loại phiền não, của muông thú lớn
nhỏ, nhiều nọc độc, các loài muỗi mòng, ác ma, ác phi nhân. Do vậy khi hành
thiền trong rừng vị Tỳ khưu nên lựa chọn trú xứ thích hợp.
Chuẩn bị về
Tâm, nói tóm gọn vẫn là Giới, Định, Tuệ; còn chuẩn bị dụng cụ là chuyện nhỏ hơn
nhiều, điều này liên quan đến Phước báu của mỗi vị, tùy thuộc trú xứ: mùng
thiền, dụng cụ trải nằm, bạt che mưa, dây, chão, dao nhỏ, đèn pin và một cái
tâm: Ít Dục, Biết Đủ. Sư rất ít dùng thuốc, thường ngồi thiền, giữ Giới, thực
hành Thiện Pháp để chữa cho thân bệnh, tâm bệnh. Sống ở rừng núi, muốn có nhiều
lợi ích, nên là người dễ tính, có nhiều thời điểm không có xà bông giặt, xà
bông tắm, hay dầu gội đầu, Sư an ổn với việc tắm, gội, giặt bằng nước nguyên
chất (cười...)
PV: Trong khi hành thiền, Sư làm
thế nào đối phó với nỗi sợ hãi khi nó khởi sanh trong tâm mình? Xin Sư cho biết
về những trải nghiệm mà Sư từng gặp phải?
STT: Thật sự theo ý nghĩa bài kinh
Paritta, khi vị Tỳ khưu đi vào rừng thì có những điều làm lông tóc dựng ngược,
thật sự ban đêm và ban ngày trong rừng hoàn toàn khác nhau. Thế nên khi vào
rừng hành thiền Sư nói ba lần lời phát nguyện cúng dường sinh mạng này cho Phật
bảo, Pháp bảo và Tăng bảo bằng sự hành pháp, đồng thời đảnh lễ bảo tháp Xá Lợi
Đức Phật và cây Bồ Đề. Nên bất cứ nỗi sợ hãi nào khởi lên cũng đều không vượt
qua được nỗi sợ hãi cái chết, hơn thế sinh mạng đã được cúng dường đến Tam Bảo
Tối Thượng - trân quý nhất trên thế gian, nên vị hành giả có được phước báu cực
lớn, hỗ trợ này rất đặc biệt, để có thể vượt qua được mọi nỗi sợ hãi, ban đêm
cũng như ban ngày trong rừng. Hơn nữa hành giả cũng phải an trú vào việc rải
tâm từ đến muôn loài, đến các loài rắn khi đọc bài kinh hộ trì ngũ uẩn. Nếu
hiểu rằng các chúng hữu tình là có hạn lượng, nhưng Đức Phật, Đức Pháp, Đức
Tăng là vô lượng; khi khởi lên tâm như thế và an trú vào đó thì vị Tỳ khưu,
hành giả sẽ vượt qua nỗi sợ hãi. Các nỗi sợ hãi có thể đến rất bất ngờ nhưng thường
xuyên an trú trong chánh niệm tỉnh giác đều vượt qua. Thực tế phiền não ở những
trú xứ xa vắng khởi lên rất mạnh đòi hỏi hành giả phải thường xuyên an trú
trong các thiện pháp.
PV: Xin Sư cho biết thuận lợi và
khó khăn về mặt chính quyền khi hành thiền trong rừng?
STT: Thái Lan là một nước Phật giáo có
sự tộn trọng chư Tăng, đặc biệt là các vị chuyên tâm tu thiền, từ chính quyền
đến người dân. Chư Tăng nước ngoài được sự hỗ trợ lớn khi đến hành thiền tại
Thái Lan, chẳng hạn như việc gia hạn passport hay được ưu tiên làm thủ tục gia
hạn mà không phải xếp hàng. Nói chung, những đất nước có Phật giáo là quốc giáo
thì sự hỗ trợ, giúp đỡ đến từ nhiều nơi, nhiều người. Thế nhưng, còn tùy vào
biệt nghiệp của mỗi vị, nên sự thuận lợi, khó khăn về mặt chính quyền thật khó
mà nói cho chính xác được. Sư luôn có ý nghĩ là: Một nhà Sư tốt, cần là một
công dân tốt, tuân thủ luật pháp của đất nước ấy, Sư cũng chưa thấy sự ngăn
cản, cấm đoán xảy ra ở bất kì nơi nào với bản thân, chính do duyên lành, Sư
cũng chưa từng gặp khó khăn gì từ chính quyền ở mọi vùng đất: Việt Nam hay nước
ngoài.
PV: Xin Sư cho biết sự khác nhau
giữa cảm giác khi hành thiền tại trường thiền và trong rừng?
STT: Sư đã từng hành thiền ở hai trường
thiền là trường thiền Wat Ram Poeng – Chiang Mai gần một năm và trường thiền
Shwe-Oo-Min (Myanmar) khoảng một tháng; và cũng có khi hành thiền ở những chùa
xa vắng tại Việt Nam như Rừng Thiền Viên Không, vùng rừng núi Lâm Đồng, Sư thấy
có nhiều điều khác nhau: Cụ thể, khi hành thiền tại những nơi này thì có sự trợ
giúp từ bên ngoài, hoặc khi phiền não nổi lên có người trò chuyện, hoặc có
thể trình pháp với thiền sư, hay trò
chuyện với bạn đồng tu để sách tấn lẫn nhau trong tu tập. Nhưng khi ở trong
rừng một mình thì hành giả chỉ lấy Pháp làm bạn và làm Thầy mà thôi. Riêng Sư,
thì có việc là tự thuyết Pháp cho chính mình, ghi âm lại, phát lại cho chính mình
nghe. Theo đó, thì những bài Pháp do Sư thuyết không theo một chuẩn mực nhất
định, mà lại gần gũi với đời thường trong tu tập và với nhu cầu lĩnh hội Pháp
một cách thiết thực với những câu hỏi phản đề. Sư có đọc nhiều bài Pháp mà Đức
Thế Tôn đã giảng, ghi âm thành đĩa CD mà trước tiên là Những Bài Kinh Trọng Yếu
trong Trung Bộ Kinh, chia nhỏ thành từng phần, phân tích, diễn giải và phát lại
cho chính mình với thái độ nghe cung kính của một người nghe Pháp. Như thế Sư
được an trú trong Pháp, định tĩnh và hỷ lạc đã phát sanh, trí tuệ đã phát sanh,
có được hiện tại an trú trong Pháp và Luật của Đức Thế Tôn.
PV: Xin Sư cho biết lịch tu tập
của Sư trong một ngày trong rừng ở tại Thái Lan?
STT: Thông thường thì công việc của vị
hành giả trong rừng có những việc chính như sau: 1) Đi khất thực khoảng một
tiếng đồng hồ. 2) Vệ sinh liêu cốc và vệ sinh cá nhân. 3) Hành thiền và an trú
trong Pháp. 4) Những việc lặt vặt phục vụ đời sống… Tối ngủ sớm nhưng dậy rất
sớm với tác ý sẽ dậy ngay để hành thiền. Sư thức dậy khoảng 1g đến 3g00 sáng và
hành thiền đến sáng. Trường hợp mệt quá có thể nằm nghiêng lưng bên phải, nghỉ
ngơi nửa tiếng, đến 6g30 đi khất thực. Sau khi khất thực, sửa soạn đồ ăn, rồi
thọ dụng trong cốc một bữa chính, chiều có thể nghỉ ngơi 1 tiếng. Rất nhiều
khoảng thời gian, Sư thấy được lợi ích của việc ăn một bữa, ngồi một chỗ, ăn
trong bát. Xin đừng đặt tên cho bất cứ pháp hành nào là đầu đà, cao thượng hay
gì gì, đơn giản Sư thấy lợi ích, an ổn, nên thực hành, chỉ có vậy mà thôi. Tổng
cộng thời gian ngủ trong 1 đêm là 4 đến 5 tiếng; do ăn uống có tiết độ, hành
thiền miên mật, tâm sáng suốt, định tĩnh, cơ thể ít hao phí năng lượng, cũng
không cần ngủ nhiều trong ngày.
PV: Xin Sư cho biết các đề mục thiền nào mà Sư thường xuyên quán tưởng trong thời gian hành thiền trong rừng?
STT: Từ trước đến nay Sư kiểm nghiệm, hành
thiền lần lượt theo nhiều pháp, như của Ngài Mahāsi (đề mục phồng xẹp), sau đó
là chánh niệm tỉnh giác trong các oai nghi của trường thiền Shwe-Oo-Min, sau
lại theo đề mục hơi thở chóp mũi theo thiền phái của Ngài Ajahn Chah. Nhưng sau
đó Sư lại quay về với lời dạy của Đức Phật: Đặt niệm trước mặt, hướng về nội
tâm, hay biết cả bốn niệm xứ, ngồi kiết già lưng thẳng, vì đây là tư thế của Bồ
Tát chiến thắng ma vương, với Giới, với Định, với Tuệ được hỗ trợ đắc lực bởi
tư thế ngồi kiết già này mà hành giả hành thiền trong rừng vượt qua sự quấy
nhiễu của phi nhân, ác ma, buồn ngủ, dã dượi cùng nhiều nỗi sợ hãi.
PV: Xin Sư cho biết về độ an toàn
của việc hành thiền trong rừng?
STT:
Tùy theo nghiệp quả của mỗi vị nên nếu nói về độ an toàn thì rất khó. Thật
ra Sư thấy, nỗi sợ hãi thì lớn nhưng nguy hiểm thì lại nhỏ. Nguy hiểm đến từ
phiền não trong vòng sinh tử luân hồi mới là nguy hiểm lớn nhất, dai dẳng nhất.
An toàn là nơi đoạn trừ được các ô nhiễm nơi tâm.
PV: Xin Sư cho độc giả biết về
phát nguyện mới đây của Sư?
STT: Sư thấy đây là một câu hỏi lớn,
liên quan đến Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nếu sự trả lời không chân thật và
không đặt đúng nơi, đúng người sẽ không đem lại an ổn và lợi ích. Đối với Sư,
một vị Tỳ khưu là cao quý. Đức Thế Tôn cũng tự nhận Ngài là một vị Tỳ khưu. Sư
có phát nguyện an trú trong Pháp và Luật này cho đến khi nào còn hơi thở.
PV: Điều mà Sư tâm đắc nhất khi
hành thiền trong rừng tại Thái Lan là gì?
STT: Đức Phật có nói đến: Có năm hạng
Tỳ khưu ở rừng, thì hạng thứ năm được Đức Thế Tôn ca ngợi đó chính là hạng
thiểu dục, tri túc, viễn ly, tinh cần. Nếu bất kì ai có những phẩm chất này,
tầm cầu thiện hành, sẽ nhận thấy hành thiền trong rừng, những trú xứ xa vắng,
cách xa hơi thở loài người có nhiều lợi điểm. Do vậy qua hành thiền miên mật,
vị ấy có thể nói rằng định tâm là có thật, thần thông là có thật, tuệ là có
thật, giải thoát là có thật.
PV: Sư có điều gì nhắn nhủ với
những chư Tăng đang muốn thực tập hành thiền trong rừng trong tương lai hay
không?
STT: Trước khi Sư vào rừng tại Thái
Lan, Sư có viết một bài Khởi Lên Nhiều
Thiện Tâm với mong muốn nhiều hơn nữa các vị Sư tu trong rừng:
Nếu gặp được
bạn lành,
Bậc bằng mình,
hơn mình
Nhiếp phục mọi
hiểm nạn
Biết được điều
nên làm
Và điều không
nên làm.
Nếu không gặp
bạn này:
Thận trọng và
sáng suốt
Có tâm từ rộng
lớn,
Bạn Thiện, trú
hiền trí
Người thông
minh, biện tài.
Hãy ra đi một
mình,
Như Tê Ngưu
một sừng.
Do vậy nếu vị
nào thấy được lợi ích của việc hành thiền trong rừng thì hãy ở rừng. Còn những vị nào thấy hành thiền trong trường
thiền, tiếp cận với các bậc thiện trí, thấy an ổn thì cứ hành theo. Vì Đức Phật
không bắt buộc phải hành thiền trong rừng mà Ngài chỉ dạy là: “Thôn làng hay
thành thị. Đất thấp hay đồi cao. Chỗ nào La Hán ngự. Vùng đất ấy khả ái,... Hay
trong những bài kinh khác: Ở trú xứ nào, những thiện pháp nào chưa sanh khởi
nay được sanh khởi. Những thiện tâm, an ổn nào chưa sanh khởi nay được sanh
khởi. Những bất thiện nào đã sanh khởi nay bị đoạn giảm, diệt trừ thì hãy ở nơi
đó. Còn trái lại thì phải bỏ ngay nơi ấy mà ra đi bất kể ngày hay đêm”. Do vậy
không quan trọng là ở rừng hay trong trường thiền, hoặc bất cứ ở đâu, nếu ở nơi
nào có thiện pháp, trí tuệ tăng trưởng thì nên ở nơi ấy. Trong trường hợp có vị
nào muốn hành thiền trong rừng tại Thái Lan thì Sư có thể giúp đỡ, hỗ trợ về
mặt ngôn ngữ, sự đi lại và các trợ duyên khác.
Cám ơn Sư về sự chia sẻ Pháp này!
*** Trích Bài Phỏng vấn trên Tạp chí Phật
Giáo Nguyên Thủy***
Monday, January 28, 2013
Bốn kỹ năng để trả lời câu hỏi
1. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách trực tiếp (Có, không).
2. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách hỏi ngược.
3. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách im lặng (Bỏ qua một bên).
4. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách phân tích, giảng giải rộng ra.
“Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi. Thế nào là bốn?
2. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách hỏi ngược.
3. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách im lặng (Bỏ qua một bên).
4. Có những câu hỏi cần phải trả lời bằng cách phân tích, giảng giải rộng ra.
“Này các Tỷ-kheo, có bốn cách thức để trả lời câu hỏi. Thế nào là bốn?
Có câu hỏi, này
các Tỷ-kheo, đòi hỏi câu trả lời nhất hướng (một chiều dứt khoát); có câu hỏi,
này các Tỷ-kheo, đòi hỏi một câu hỏi phản nghịch; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo,
cần phải để một bên; có câu hỏi, này các Tỷ-kheo, cần phải trả lời một cách
phân tích.
Này các Tỷ-kheo,
có bốn cách thức để trả lời câu hỏi này.” (Kinh Hỏi, Chương Bốn Pháp, Tăng Chi
Bộ - HT. Minh Châu dịch Việt)
Four skillful
ways of answering questions:
1. There are
questions that should be answered categorically, for example, yes or no answer.
2. There are
questions that should be answered with an analytical (qualified) answer. You
explain the answer in detail defining and redefining the terms.
3. There are
questions that should be answered with a counter questions.
4. There are
questions that should be put aside.
“There are these
four ways of answering questions. Which four? There are questions that should
be answered categorically [straightforwardly yes, no, this, that]. There are
questions that should be answered with an analytical (qualified) answer
[defining or redefining the terms]. There are questions that should be answered
with a counter-question. There are questions that should be put aside. These
are the four ways of answering questions.” (AN 4.42, Pañha Sutta: Questions, translated
from the Pali by Thanissaro
Bhikkhu)
PTS A, ii, 46:
Cattārimāni
bhikkhave pañhavyākaraṇāni. Katamāni cattāri:
Atthi bhikkhave
pañho ekaṃsavyākaraṇīyo, atthi bhikkhave pañho vibhajja vyākaraṇīyo, atithi
bhikkhave pañho paṭipucchā vyākaraṇīyo, atthi bhikkhave pañho ṭhapanīyo.
Imāni kho
bhikkhave cattāri pañhavyākaraṇānīti.
Ekaṃsavacanaṃ
ekaṃ vibhajja vacanāparaṃ,
Tatiyaṃ paṭipuccheyya
catutthaṃ pana ṭhāpaye.
Yo ca nesaṃ
tattha tattha jānāti anudhammataṃ,
Catupañhassa
kusalo āhu bhikkhuṃ tathāvidhaṃ.
Durāsado
duppasaho gambhīro duppadhaṃsiyo 2
Atho atthe anatthe
ca ubhayassa hoti kovido. 3
Anatthaṃ
parivajjeti atthaṃ gaṇhāti paṇḍito,
Atthābhisamayā
dhīro paṇḍitoti pavuccatīti. (Pañhavyākaraṇa suttaṃ)
Saturday, January 19, 2013
The Word ‘Abhidhamma’
By Dr.
Sīlanandābhivaṃsa (Former Rector of ITBMU) Transcription of Abhidhamma Lecture.
Now
we come to the word 'Abhidhamma' itself. This word is composed of two
parts—'abhi' and 'dhamma'. 'Abhi' here means excelling or distinguished.
'Dhamma' means teaching. So Abhidhamma means excelling teaching or
distinguished teaching. Excelling does not mean that the teachings in
Abhidhamma Piṭaka are better than or loftier than, or nobler than those taught
in the Sutta Piṭaka. The only difference between those taught in Sutta Piṭaka
and Abhidhamma Piṭaka is the method of treatment, the method of presentation.
The same things are taught in Sutta and Abhidhamma. You find the same Dhamma,
the same subjects, in both Sutta Piṭaka and Abhidhamma Piṭaka. But in
Abhidhamma Piṭaka they are minutely analyzed. It excels the teachings in
Sutta Piṭaka, it is distinguished from the teachings in Sutta Piṭaka, with
regard to the method of treatment.
Take,
for example, the five aggregates. I hope you are familiar with the five
aggregates. Buddha taught the doctrine of five aggregates. We are composed of
these five aggregates. Most beings are composed of five aggregates. These five
aggregates are treated in the Saṃyutta Nikāya on one page only. Please the
link: http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn22/sn22.048.than.html.
However, the same five aggregates are treated in the second book of Abhidhamma
in 68 pages! So 68 pages versus one page. You see how different the method of
treatment is in Suttanta Piṭaka and Abhidhamma Piṭaka. In the Suttanta Piṭaka
the Buddha may elaborate on the five aggregates a little more, but it is not a
complete analysis, a complete treatment, as in the Abhidhamma. In the
Abhidhamma Piṭaka, especially in the Vibhaṅga, they are treated by way of
explanation of Suttanta method, by way of explanation of Abhidhamma method and
by way of questions and answers. Actually, everything to be known about the
five aggregates is treated in Abhidhamma, not in Suttanta Piṭaka. So this is
why it is called Abhidhamma. It differs only in the method of treatment, not in
the content, not in the Dhammas taught in it. You find the same five aggregates
in Suttas and Abhidhamma. You find the Four Noble Truths in Suttas and
Abhidhamma and so on.
May All be
happy and peaceful!
Friday, January 11, 2013
Truyền thống giữ gìn kinh điển Pāli qua từng thế hệ
Truyền
thống gìn giữ kinh điển Pāli đã được nhắc tới trong tạng Kinh – Suttanikāya:
-
‘‘Yāvakīvañca, bhikkhave, bhikkhū apaññattaṃ na paññapessanti, paññattaṃ na
samucchindissanti, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattissanti,
vuddhiyeva, bhikkhave, bhikkhūnaṃ pāṭikaṅkhā, no parihāni.
[Dīghanikāya,
Mahāparinibbānasuttaṃ, Bhikkhuaparihāniyadhammā]
Này các Tỷ-kheo, khi nào
chúng Tỷ-kheo không ban hành những luật lệ không được ban hành, không hủy bỏ
những luật lệ đã được ban hành, sống đúng với những học giới được ban hành,
thời này các Tỷ-kheo, chúng Tỷ-kheo sẽ được cường thịnh, không bị suy giảm.
[Trường
Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn - Ngài Minh Châu dịch]
Trong
kỳ trùng tuyên kinh điển lần thứ nhất, Đại Trưởng lão Mahā Kassapa tuyên bố:
-
Yato imesaṃ satthā parinibbuto, na dānime sikkhāpadesu sikkhantī’ti. Yadi
saṅghassa pattakallaṃ, saṅgho appaññattaṃ nappaññapeyya, paññattaṃ na
samucchindeyya, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vatteyya. Esā ñatti.
[Vinaya
Pitaka, Cullavagga, Pañcasatikakkhandhakaṃ]
Nếu là thời điểm thích
hợp cho hội chúng, hội chúng không nên quy định thêm điều chưa được quy định và
không nên bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng nên thọ trì và thực hành các
điều học theo như đã được quy định. Đây là lời đề nghị.
[Tạng
Luật, Tiểu Phẩm – Tk. Indacanda dịch]
-
Saṅgho appaññattaṃ nappaññapeti, paññattaṃ na samucchindati, yathāpaññattesu
sikkhāpadesu samādāya vattati. Yassāyasmato khamati appaññattassa appaññāpanā,
paññattassa asamucchedo, yathāpaññattesu sikkhāpadesu samādāya vattanā, so
tuṇhassa; yassa nakkhamati, so bhāseyya.
[Vinaya
Pitaka, Cullavagga, Pañcasatikakkhandhakaṃ]
Hội chúng không quy định
thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng
thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Đại đức nào đồng ý
việc không quy định thêm điều chưa được quy định, việc không bỏ đi điều đã được
quy định, việc thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định xin
im lặng; vị nào không đồng ý có thể nói lên.
[Tạng
Luật, Tiểu Phẩm – Tk. Indacanda dịch]
-
‘‘Saṅgho appaññattaṃ nappaññapeti, paññattaṃ na samucchindati, yathāpaññattesu
sikkhāpadesu samādāya vattati. Khamati saṅghassa, tasmā tuṇhī, evametaṃ
dhārayāmī’’ti.
[Vinaya
Pitaka, Cullavagga, Pañcasatikakkhandhakaṃ]
Hội chúng không quy định
thêm điều chưa được quy định và không bỏ đi điều đã được quy định, hội chúng
thọ trì và thực hành các điều học theo như đã được quy định. Sự việc được hội
chúng đồng ý nên mới im lặng, tôi ghi nhận sự việc này là như vậy.
[Tạng
Luật, Tiểu Phẩm – Tk. Indacanda dịch]
Ai
là người phá hoại Phật Pháp?
-
‘‘Na kho, kassapa, pathavīdhātu saddhammaṃ antaradhāpeti, na āpodhātu
saddhammaṃ antaradhāpeti, na tejodhātu saddhammaṃ antaradhāpeti, na vāyodhātu
saddhammaṃ antaradhāpeti; atha kho idheva te uppajjanti moghapurisā ye imaṃ
saddhammaṃ antaradhāpenti.
[Samyuttanikāya,
Kassapasaṃyutta, 13. Saddhammappatirūpakasuttaṃ]
Này Kassapa, địa giới
không làm diệu pháp biến mất, thủy giới… hỏa giới… phong giới không làm diệu
pháp biến mất. Ở đây, khi nào các người ngu có mặt, chính họ làm diệu pháp biến
mất.
[Tương
ưng bộ, Tương ưng Kassapa, Tượng Pháp - Ngài Minh Châu dịch]
Chúng
ta thường thấy chữ moghapurisa trong Luật tạng khi đức Phật quở trách một vị
tỷ-kheo phạm luật. Thí dụ:
-
‘‘Ananucchavikaṃ [ananucchaviyaṃ (sī.)], moghapurisa, ananulomikaṃ appaṭirūpaṃ
assāmaṇakaṃ akappiyaṃ akaraṇīyaṃ.- Này kẻ rồ dại , thật không đúng đắn, không
hợp lẽ, không tốt đẹp, không xứng pháp sa-môn, không được phép, không nên làm!
[Bhikkhuvibhanga
I, Tk. Indacanda - Nguyệt Thiên dịch]
Còn
trong Kinh tạng khi đức Phật quở trách những vị tỷ-kheo có sự hiểu biết lệch
lạc đối với lời Phật dạy. Thí dụ:
-
‘‘Kassa kho nāma tvaṃ, moghapurisa, mayā evaṃ dhammaṃ desitaṃ ājānāsi? Nanu
mayā, moghapurisa, anekapariyāyena antarāyikā dhammā antarāyikā vuttā? Alañca
pana te paṭisevato antarāyāya. Appassādā kāmā vuttā mayā, bahudukkhā
bahupāyāsā, ādīnavo ettha bhiyyo. - Này kẻ ngu si kia, sao Ông lại hiểu pháp Ta
thuyết giảng như vậy? Này kẻ ngu si kia, có phải chăng, Ta đã dùng nhiều pháp
môn thuyết chướng đạo pháp.
[Alagaddūpamasuttaṃ,
Kinh ví dụ con rắn, MN22 – Ngài Minh Châu dịch]
Moghapurisa
là một hợp từ do mogha + purisa; mogha là tỉnh từ có nghĩa: rỗng tếch, rỗng
không, vô dụng, vô ích. Ngài Minh Châu dịch: ngu si và ngài Nguyệt Thiên dịch:
rồ dại. Anh ngữ: empty, vain, useless. Khi nó bổ nghĩa cho purisa: người rỗng
tếch, kẻ ngu si, kẻ rồ dại, kẻ thất học, kẻ vô văn hóa trong đạo. Để làm rõ
nghĩa cho từ này, Chú giải dùng từ tucchapurisa có nghĩa tương đương với
moghapurisa.
Moghapurisa
để chỉ cho người xuất gia trong Tăng đoàn biếng nhác không trau dồi kinh luật,
không tìm kiếm những minh sư chơn chánh, những chơn kinh đúng đắn để mở mang sự
hiểu biết về Pháp và Luật. Cho nên dẫn đến không thông luật để mà hành, không
hiểu nghĩa lý pháp để mà cải chính tri kiến. Một người "tu mù" như
vậy nếu có hành động gì ắt sẽ hành động bậy. Người xuất gia có mặt trong Tăng
đoàn như vậy được đức Phật gọi là người làm cho Diệu Pháp biến mất hay là kẻ
phá hoại Phật Pháp.
Xin
đừng đổ thừa cho những thế lực xâm lược, những người đang tâm muốn phá hoại
Phật giáo đã, đang và sẽ làm cho Phật Pháp tiêu diệt hoàn toàn. Những kẻ xâm
lược, những kẻ có dã tâm muốn phá hoại Phật giáo chỉ có thể đập chùa, phá
tượng, giết Tăng, đốt kinh sách, v.v... tuyệt nhiên không thể làm biến mất dòng
chảy của Phật giáo. Vì chùa có thể xây lại, tượng có thể đúc lại, Tăng đoàn có
thể gầy dựng lại, kinh điển có thể viết lại. Phật Pháp không phải là sự biểu
hiện của chùa to, Phật lớn, hội chúng đông đảo, kinh sách được in ấn hàng
loạt,... mà là ở nơi tâm nguyện tu tập của mỗi người con Phật chân chánh. Thử
hỏi có thế lực nào có thể tiêu diệt được hết tâm tu của những con người chân
chánh - những người gìn giữ mạng mạch Phật Pháp!
Xin hãy tự hỏi mình là
ai trong Giáo Pháp này?
Cổ
đức có câu: “Sư tử trùng thực sư tử nhục”. Hiểu nôm na là những loài thú khác
không thể giết hại con sư tử mà chỉ những loài sâu bọ trong cơ thể của nó tiêu
diệt nó mà thôi!
Xin
vô cùng tri ân vai trò của ngài Đại trưởng lão Kassapa trong kỳ trùng tuyên
kinh điển lần thứ nhất, nếu không có Ngài thì ngày nay những hậu sinh xa lơ xa
lắc như chúng ta sao còn thấy những lời dạy uyên nguyên của Bậc Đạo Sư. Những
vị trưởng lão thế hệ sau vẫn không quên tôn chỉ như đã được các vị thánh nhân
đặt nền móng ban đầu, tiếp tục giữ lửa và truyền lửa cho đến thế hệ chúng ta
ngày nay. Thật tuyệt vời và tốt lành thay truyền thống ấy. Các vị đã khéo bày
tỏ sự tôn trọng Bậc Đạo Sư của mình khi Ngài đã nằm xuống. Những vị trưởng lão
tiền bối đã bỏ bao công sức để gìn giữ và truyền đến tay chúng ta ngày nay. Xin
đừng để truyền thống ấy bị mai một. Xin hãy làm hết sức mình nếu có thể. Mong
thay!
-
Buddhasāsanaṃ ciraṃ tiṭṭhatu.
Nguyện
cho Phật Pháp được trường tồn!
*** Post by Sư Từ Minh
Nguồn: FB Group Sudhamma Students.
Subscribe to:
Posts (Atom)
