Friday, August 31, 2012

Chữ Hiếu trong đạo Phật


Trong Phật Giáo có bốn hạng phước điền là:

- Ðức Phật,
- Chư vị A-la-hán,
- Mẹ, và
- Cha.

Đức Phật, chư vị A-la-hán, Mẹ và Cha là bốn thửa ruộng đệ nhất phì nhiêu trong thiên hạ để gieo trồng phước báu.

Chư Phật là những đóa hoa vô cùng quí giá của nhân loại, nhưng cũng là một thứ hoa vô cùng hy hữu. Chư vị A-la-hán là những đóa hoa quí báu khác, chỉ trổ sanh tươi tốt trong thời kỳ có một vị Phật toàn giác ra đời. Nhưng một bà mẹ hiền hay một ông cha lành thì hằng có trong mỗi gia đình.

Nếu con cháu hiểu được bổn phận mình, biết được công ơn cha mẹ và khéo khai thác hai thửa ruộng phì nhiêu sẵn có trong nhà, ắt sẽ được phong phú không sai. Nếu thận trọng gieo trồng trên hai sở thượng điền này những hạt giống tốt thì sớm chầy sẽ gặt được vô số quả tốt lành. Hữu hạnh thay cho trẻ con nào được sanh trưởng trong một gia đình mà cha phải đạo cha, mẹ tròn phận mẹ. Bao nhiêu tình thương, bao nhiêu lòng hiếu thảo của con trẻ sẽ lai láng tuôn đến cha mẹ.

Theo Phật Giáo, cái trọng ơn đối với cha mẹ mà con phải mang trong lòng thật không lường được. Ví dầu con phải cõng cha trên vai mặt, mẹ trên vai trái, đi khắp thế gian cả một thế kỷ và, trong thời gian ấy, cung phụng đầy đủ cho cha mẹ. Ví dầu phải đặt cha mẹ trên một mâm vàng đầy ngọc ngà châu báu, rồi thành kính quì lạy như lạy một hoàng đế thống trị nhân loại, lạy ngày lạy đêm đi nữa, vị tất con đã đền đáp đủ công ơn sanh thành dưỡng dục của cha mẹ.

Theo Ấn-Ðộ Giáo, một ông thầy dạy đạo quí bằng một trăm ông thầy dạy chữ, một người cha bằng một trăm ông thầy dạy đạo, nhưng một bà mẹ hiền quí bằng một ngàn người cha.

Tại sao từ ngàn xưa ai ai cũng cho rằng ơn cha mẹ là cao quí, thiêng liêng hơn tất cả?

Không cần tìm hiểu xa vời. Một người cha lành bao giờ cũng dành để cho con những gì quí báu nhất của mình, hy sinh tất cả cho con và tìm hạnh phúc an vui trong sự hạnh phúc của con cái. Dầu giàu dầu nghèo, cha luôn luôn vẫn nghĩ đến vấn đề giáo dục cho con, nếu phải tiêu xài bao nhiêu tiền của cũng không tiếc. Niềm vui sướng nhất đời của cha là thấy con được nên người và sống đầy đủ trong sự yên lành, vui vẻ.

Về phần mẹ, từ lúc chưa thấy mặt con, mẹ đã đặt trong lòng một tình thương vô hạn. Nuôi con bằng sữa, mà sữa là gì nếu không phải là máu? Vậy, mẹ nuôi con bằng máu của mình. Lắm khi thức suốt đêm trường, không nhắm mắt, không nghỉ ngơi, để canh chừng ru hát cho con ngủ thẳng giấc. Công ơn cha mẹ không sao tả được. Con là núm ruột, là hòn máu, là một phần của mẹ, là kho vàng quí báu, là nguồn hạnh phúc vô bờ bến của mẹ. Con đau là mẹ xót, con mạnh thì mẹ vui. Thiếu con mẹ sẽ thấy lẻ loi hiu quạnh, buồn tẻ và vô phước.

Vậy, muốn đền ơn cha đáp nghĩa mẹ, đạo làm con phải hết lòng khuyên nhủ khi thấy cha mẹ sa chân lỡ bước vào đường tội lỗi, phải lựa lời khôn khéo mà thức tỉnh và dìu dắt cha mẹ trở lại nếp sống chơn chánh, vun bồi cuộc đời đạo đức cao thượng. Ðạo làm con chẳng những phải phụng dưỡng bằng những thức ăn vật lạ, cất nhà cao cửa rộng cho cha mẹ, mà còn phải kính cẩn dâng lên cha mẹ những món ăn tinh thần, tạo những cảnh nhàn lạc thích thú, để cho cha mẹ vui sống một nếp sống thanh cao, đạo đức.

Hỡi các con! Cha mẹ là cội phúc duy nhất trên đời của các con. Các con hãy tôn trọng ý muốn của cha mẹ. Trong lời nói, trong việc làm, trong cách đi lối đứng, trong tác phong hàng ngày, các con hãy làm thế nào để giữ tròn tiếng tốt cho gia đình, nhất là khi cha mẹ vắng mặt. Dầu cha mẹ đã khuất bóng, các con hãy luôn luôn tôn trọng thanh danh của gia tộc như vật thiêng liêng cao cả. Bổn phận làm con chẳng những phải bảo tồn danh giá của cha mẹ mà lại còn phải tránh điều gì có thể làm nhục nhã tông môn.

Trích từ HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH của Ngài Nārada, bác Phạm Kim Khánh dịch Việt, Sài gòn - 1967.

Sādhu! Sādhu! Sādhu! Anumodāmi! Anumoveyyāvacca!
Rằm tháng 7 - Nhâm Thìn, Thuận Pháp - Phan Anh.

Saturday, August 18, 2012

Buddhist Blessing for All Beings


May everyone be happy and safe,
and may their hearts be filled with joy.
May all living beings live in security and in peace
beings who are frail or strong,

tall or short, big or small,
visible or not visible, near or far away,
already born or yet to be born.
May all of them dwell in perfect tranquility.
Let no one do harm to anyone.
Let no one put the life of anyone in danger.
Let no one, out of anger or ill will,
wish anyone any harm.

BÀI RẢI TÂM TỪ TƯƠNG ĐƯƠNG BẰNG TIẾNG VIỆT

Nguyện cho tất cả chúng sanh đừng có oan trái lẫn nhau,
hãy cho được sự an vui, đừng có khổ,
đừng làm hại lẫn nhau, đừng hẹp lượng;
hãy cho được sống lâu, đừng bệnh hoạn,
hãy cho được thành tựu đầy đủ,
hãy giữ mình cho được an vui;
tất cả chúng sanh đang đau khổ, xin cho dứt khổ,
đang kinh sợ, xin cho hết kinh sợ,
đang thương tiếc, xin cho hết thương tiếc!

PĀḶIBHĀSAṂ ( PALI LANGUAGE - TIẾNG PALI)

Sabbe sattā averā hontu,
sukhitā hontu, niddukkhā hontu,
abyāpajjhā hontu, anīghā hontu,
dīghāyukā hontu, arogā hontu,
sampattīhi samijjhantu,
sukhī attānaṃ pariharantu,
dukkhappattā ca niddukkhā,
bhayappattā ca nibbhayā,
sokappattā ca nissokā hontu sabbepi pāṇino.

Tuesday, August 7, 2012

THỬ MỞ CÁNH CỬA VÀO TỨ NIỆM XỨ

I. BẢN KINH MN 10 – KINH NIỆM XỨ (Satipaṭṭhānasutta).

1. Bản tiếng Việt của HT. Minh Châu:
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung10.htm
2. Bản tiếng Việt dịch từ tiếng Anh của Narada Mahathera:
http://www.budsas.org/uni/u-dp&pp/dp&ppx6.htm
3. Bản tiếng Anh của Nyanasatta Thera - The Foundations of Mindfulness:
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.010.nysa.html
4. Bản tiếng Anh của Soma Thera - The Discourse on the Arousing of Mindfulness:
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.010.soma.html
5. Bản tiếng Anh của Thanissaro Bhikkhu - Frames of Reference:
http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/mn/mn.010.than.html
6. Bản song ngữ Pali-Việt của Bhikkhu Indacanda:
http://paliviet.info/VHoc/13/010.htm
7. Bản tiếng Việt của H.T. Thích Nhất Hạnh:
http://www.thuvien-thichnhathanh.org/index.php/kinh-sach/36-kinh-vn/161-kinh-bn-lnh-vc-quan-nim

II. TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1. Giảng Giải Kinh Đại Niệm Xứ.
Tác giả: Ngài Pa Auk Sayadaw, Tỳ Khưu Pháp Thông dịch Việt.
http://www.facebook.com/groups/paliviet/329721687114949/
2. Kinh Đại Niệm Xứ.
Tác giả: Thiền sư U Silananda, Tỳ Khưu Khánh Hỷ dịch Việt.
http://www.budsas.org/uni/u-dainiemxu/dnx-idx.htm
3. Tứ Niệm Xứ Giảng Giải.
Tác giả: Ngài S.N. Goenka, Tỳ Khưu Pháp Thông dịch Việt.
http://www.trungtamhotong.org/NoiDung/ThuVien/TuNiemXu/index.htm
4. Thiền Tứ Niệm Xứ - Minh Sát Tuệ.
Tác giả: Cố Trưởng lão Giới Nghiêm.
http://buddhanet.net/budsas/uni/u-dainiemxu/gntnx01.htm
5. Giảng Kinh Tứ Niệm Xứ – TT. Chơn Thiện.
http://www.budsas.org/uni/u-phathoc-kl/phkl-2-14.htm
6. Tứ Niệm Xứ - Bốn Nền Tảng của Chánh Niệm.
Tác giả: Bhikkhu Brahmavamso, Dr. Bình Anson dịch Việt.
http://www.buddhanet.net/budsas/uni/u-vbud/vbthn026.htm
7. Toát Yếu Kinh Trung Bộ - SC. Trí Hải.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-trungbo/trung-ty-01.htm
8. The Way of Mindfulness by Soma Thera.
http://www.accesstoinsight.org/lib/authors/soma/wayof.html
9. Kinh Niệm Xứ của Trung A Hàm - TT. Tuệ Sỹ dịch Việt.
http://www.budsas.org/uni/u-kinh-ahamtrung/trungaham098.htm

III. PHÂN TÍCH TỪ NGỮ PALI.

   Thuận Pháp Dhammiko: <<Idha bhikkhave bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ. Dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ>>

Đoạn Pali trên như cái chìa khóa để mở cánh cửa vào bài Kinh Niệm Xứ. Tiếc rằng mỗi bản dịch mỗi khác biệt. Vì cách giải thích khác biệt nên pháp hành sai biệt, tạo thành các trường phái khác nhau, như trường phái niệm thọ, trường phái niệm tâm,...Kính nhờ Sư Đức Hiền, Ven Adhiṭṭhāna, Cô Nguyen Huong,...phân tích từ ngữ Pali đoạn kinh trên nhằm giúp cho PLCĐ một hướng khách quan nhất!

   Ven Adhiṭṭhāna: Cố gắng dịch và phân tích một cách khách quan nhất:

‘‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
“Bốn điều nào? Ở đây (ngay trong giáo pháp này), này các thầy tỳ khưu! một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các cảm thọ, có sự theo dõi cảm thọ, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên tâm, có sự theo dõi tâm, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các pháp, có sự theo dõi pháp, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian.

Phân tích ngắn:
- Idhāti imasmiṃ sāsane – ngay trong giáo pháp này.
- Ātāpīti tīsu bhavesu kilese ātāpetīti ātāpo, vīriyassetaṃ nāmaṃ - Thiêu đốt ba phiền não gọi là ātāpa, với sự tinh tấn như vậy gọi là ātāpa. ( ā + căn tap với căn tap mang nghĩa thiêu đốt)
- Sampajānoti sampajaññasaṅkhātena ñāṇena samannāgato – Sự sở hữu được trí tuệ. (saṃ + pa + căn ñā)
- Kāyānupassī = kāyaṃ + anupassīti. Đây là 1 dạng dutiya vibhatti tappurisa samāsa (sử dụng như tính từ) – (người) có sự theo dõi trên thân. Anupassī – anu + căn dis + ṇī tiếp vĩ ngữ - người nào đó có sự theo dõi, quan sát; đây là một dạng assatthi taddhita.
- ‘‘anupassī’’ti tattha katamā anupassanā? Yā paññā pajānanā…pe… sammādiṭṭhi. Ayaṃ vuccati anupassanā. Imāya anupassanāya upeto hoti samupeto upāgato samupāgato upapanno sampanno samannāgato. Tena vuccati anupassīti. (trong chú giải aṭṭhakathā chỉ giải thích đại khái vậy thôi)
- vineyya – đây là dạng sattamī vibhatti của từ vineti (vi + ni +e), căn ni có nghĩa là dẫn dắt, nhưng lại có nghĩa khác là loại bỏ.

Nhờ sư huynh Từ Minh kiểm tra lại trong Nissaya của Myanmar, hay trong tự điển họ phân tích các từ anupassī, kāyānupassī, ātāpī, v.v. như thế nào.

   Thuận Pháp Dhammiko: @‎Ven Adhiṭṭhāna: <<“Bốn điều nào? Ở đây (ngay trong giáo pháp này), này các thầy tỳ khưu ! một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các cảm thọ, có sự theo dõi cảm thọ, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên tâm, có sự theo dõi tâm, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian; (vị tỳ khưu đó) trú trên các pháp, có sự theo dõi pháp, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, nếu (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian.>>

=> một vị tỳ khưu trú trên thân có sự theo dõi thân, có sự nhiệt tâm, sự hiểu biết (bằng trí tuệ), có (chánh) niệm, NẾU VẬY THÌ (vị tỳ khưu đó) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian;...(TP cảm ơn Ven Adhiṭṭhāna nhiều vì kiểu dịch này :)

Bài kinh nói rằng, một vị muốn niệm thân thì phải trú trên thân mà niệm, muốn niệm thọ thì phải trú trên thọ mà niệm,... và muốn sự niệm có hiệu quả thì phải có sự hiểu biết, có nhiệt tâm, làm miết như vậy thì loại bỏ được tham, ưu ở trên đời.

   Sư Từ Minh: Hiểu 4 pháp (nhiệt tâm, có sự nhận biết, có niệm, có sự quán thân) ngang nhau theo cấu trúc văn phạm như Ven Aditthana là một cách giải rất mới lạ. Thường trong những sách giải về bài kinh này, cũng như những vị thiền sư dạy: sự nhiệt tâm, có sự nhận biết, có niệm bổ trợ cho lối sống tu tập (quán thân).

- Còn một điểm nữa: Ở phần ‘‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ, ..."
Ở đây đức Phật nói: ātāpī (có nhiệt tâm) sampajāno (có sự rỏ biết) satimā (có niệm) như 3 pháp hổ trợ cho vị sống quán thân (kāyānupassī).
Nhưng ở phần chi tiết về niệm hơi thở đức Phật lại dạy:
- So satova assasati, satova passasati. - Chỉ có niệm vị ấy thở ra, chỉ có niệm vị ấy thở vô; ở đây chỉ CÓ NIỆM (satova=sati+eva), mà không phải là ātāpī sampajāno satimā.
- Dīghaṃ vā assasanto ‘dīghaṃ assasāmī’ti pajānāti..., - và khi thở ra dài, vị ấy tuệ tri tôi thở ra dài...ở đây là TUỆ TRI (pajānāti) mà không phải là ātāpī sampajāno satimā.
- Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī’ti sikkhati..., - vị ấy tập rằng: tôi sẽ thở ra có ý thức rõ toàn thân (hởi thở chặng đầu, giữa, cuối), ở đây là VỊ ẤY TẬP (sikkhati) mà không phải ātāpī sampajāno satimā.
- Không biết dụng ý đức Thế Tôn dùng từ ở đây như thế nào? Hay satova, pajānāti và sikkhati mỗi pháp đều có 3 "cái" ātāpī sampajāno satimā? Hay là đức Phật đi từ tổng quát ( ātāpī sampajāno satimā) rồi đến chi tiết hành trì (satova, rồi pajānāti rồi sikkhati).
Xin chư vị chia sẻ chỗ này.

   Ven Adhiṭṭhāna: @ Sư ‎Từ Minh, về mặt ngữ pháp thì 4 chi trên đều bổ nghĩa cho chữ Bhikkhu, ý nói nó ngang nhau là ngang nhau như vậy.

‘‘Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.
Ở đoạn trên Đức Phật Ngài dùng từ rất rõ ràng như thế này: "(Nếu) 1 vị tỳ khưu sống trên thân có sự dõi theo thân (kāyānupassī), có nhiệt tâm (atīpī), có sự rõ biết (sampajāno), có niệm (satimā)>>> (thì vị ấy sẽ có thể ) loại bỏ được tham ái và sân hận trên thế gian.
Vấn đề được đặt ra : nhiệt tâm (ātīpī), rõ biết (sampajāno), chánh niệm (satimā) đã đủ hay chưa để cho đến kết quả tốt đẹp là sẽ có thể loại bỏ được tham ái (abhijjhā) và domanassa (sầu ưu).
Ở phần đoạn văn này, Đức Phật đưa ra điều kiện và kết quả (hãy đủ điều kiện đi cái đã :P).
Tiếp tục,
- So satova assasati - Vị đó tỉnh giác thở vào - satova= sata + eva với sata bổ nghĩa cho chủ ngữ so.
- satovapassasati - vị đó tỉnh giác thở ra.
- Dīghaṃ vā assasanto “Dīghaṃ assasāmī”ti pajānāti, dīghaṃ vā passasanto “Dīghaṃ passasāmī”ti pajānāti - Trong khi đang thở vào dài, vị đó biết "tôi đang thở vào dài", hay là trong khi đang thở ra dài vị đó biết "tôi đang thở ra dài".
- Rassaṃ vā assasanto “Rassaṃ assasāmī”ti pajānāti, rassaṃ vā passasanto “Rassaṃ passasāmī”ti pajānāti - Trong khi đang thở vào ngắn vị đó biết "tôi đang thở vào ngắn", hay là trong khi thở ra ngắn vị đó biết "tôi đang thở ra ngắn".
- “Sabbakāyapaṭisaṃvedī assasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập "có sự cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở vào".
- “Sabbakāyapaṭisaṃvedī passasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập "có sự cảm giác toàn thân, tôi sẽ thở ra".
- “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ assasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập "thân có được sự yên tịnh, tôi sẽ thở vào".
- “Passambhayaṃ kāyasaṅkhāraṃ passasissāmī”ti sikkhati, (vị đó) thực tập "thân có được sự yên tịnh, tôi sẽ thở ra".

Đệ mạo muội dịch lại phần này theo ý mình vì có những điểm sau đây:
Khi vị đó thực hành, sự tiến bộ theo từng bước, lúc đầu chỉ là sự nhận biết hơi thở vào ra >>> tiếp theo hơi thở dài ngắn >>> tiếp theo trước khi thở vào hay thở ra vị đó nhận biết được toàn thân >>> tiếp theo trước khi thở vào hay thở ra, vị đó lại xem thân mình đã yên tịnh hay chưa. Một chuỗi tiếp diễn quá trình thực hành như thế này đã đủ để gọi là satimā hay chưa? :D

   Sư Từ Minh: @‎Ven Adhiṭṭhāna, Ba pháp như cái kiềng ba chân bổ trợ cho nhau, thiếu một chân cái kiềng sẽ không đứng vững được; trong pháp hành cũng thế, nhiệt tâm (ātāpī) sẽ hổ trợ cho chánh niệm (satimā) trên đối tượng và rõ biết (sampajāno) làm cho đề mục rõ ràng không lầm lẫn. Ở cấp độ thấp ba pháp này có thể loại bỏ tham ái, sầu ưu, và cả si mê ngay lúc tu tập, khi tuệ minh sát (16 tuệ vipassanā paññā) phát triển sẽ loại bỏ chúng một cách hoàn toàn.

Nguồn từ FB Group: Pali-Chuyên đề.

GHI ÂM VÀ PHÁT ÂM (LIÊN QUAN ĐẾN VẤN ĐỀ SANDHI Ở VĂN TỰ PALI)

I. NGHE ÂM RỒI VIẾT THÀNH CHỮ, ĐỌC CHỮ RỒI PHÁT RA ÂM.

- Tiếp theo đề tài HỎI VỀ CÁCH PHÁT ÂM ENGLISH, cần phải trình bày thêm một số khái niệm như sau: Sự phát ra âm thanh (articulation) ở miệng có liên quan đến các bộ phận phát âm (articulators) chủ yếu là lưỡi, răng, môi, rồi tính thêm mũi, cổ họng, nóc họng, bụng, v.v... Ví như ống sáo, hoặc cây kèn, bấm vào nốt nào rồi thổi hơi gió vào thì sẽ có âm thanh tương ứng phát ra, thì việc phát âm ở miệng cũng vậy, tùy thuộc vị thế của răng lưỡi, v.v... và hơi gió mạnh yếu mà có âm thanh của cái từ ngữ mà mình muốn đọc; nghĩa là muốn đọc âm này nhưng các bộ phận phát âm đặt không đúng chỗ thì không có âm thanh chính xác được. Dạy trẻ em nói chớt cũng vậy, phải lắng nghe và phát hiện cho ra điểm sai của các em lúc phát âm mà chỉ dạy, còn cứ cho ăn đòn lúc đọc sai thì không có hiệu quả. Do đó, để phát âm đúng cách thì phải học cách phát âm, còn nghe âm thanh rồi bắt chước phát lại thì khó đạt được kết quả hoàn hảo, lấy thí dụ các từ world, girl, v.v... Điều muốn đề cập ở đây  là: Các ngài thời xưa nghe rồi ghi lại âm thành văn tự, và chúng ta căn cứ theo cái văn tự đó mà tái tạo lại âm thanh thì cái âm thanh thời xưa và cái âm thanh của chúng ta tái tạo lại ngày hôm nay đương nhiên có nhiều sai biệt. Viết đến đây thì cũng cần nói rõ là quý vị đừng đòi hỏi cái gì TUYỆT ĐỐI ở bài viết này, vì việc đó không phải dễ dàng. 

- Ngôn ngữ có trước các quy luật về văn phạm, nghĩa là văn phạm tổng kết lại các trường hợp xảy ra ở ngôn ngữ thành các quy luật, và từ các quy luật đó ảnh hưởng ngược lại cách viết và cách nói của cái ngôn ngữ đó. Vì vậy, người bản xứ học ngôn ngữ mà không cần phải học văn phạm. Nhưng đối với những người học ngôn ngữ thứ hai hoặc thứ ba, nhất là hạng lớn tuổi, thì đi theo quy trình ngược lại, nghĩa là học ngôn ngữ qua cấu trúc văn phạm  là chủ yếu. Sở dĩ đề cập đến vấn đề này vì việc viết lại văn tự chịu ảnh hưởng của văn phạm rất nhiều.

 II. SỰ LIÊN HỆ ÂM THANH GIỮA CÁC NGUYÊN ÂM - SARASANDHI.

Nhắc lại: Pali gồm có 8 nguyên âm: a, ā, i, ī, u, ū, e, o.
Cách phát âm cũng tựa như tiếng Việt.
Giờ chỉ trình bày về a, i, u, e, o (ā, ī, ū cũng tương tợ như a, i, u).

- Giờ bạn hãy đọc nguyên âm a rồi nguyên âm i theo lối tiếng Việt trong cùng một hơi thì bạn sẽ nghe rằng: a + i => ai (cái này chính là sandhi). Còn Pali thì sao? Bạn hãy đọc lại nguyên âm a rồi nguyên âm i một lần nữa, hơi chậm một tí. Bạn cảm nhận điều gì? Bạn có nghe được cái âm của nguyên âm e không? Bạn có nhớ điều đã trình bày trước đây: Do vị thế của các bộ phận phát âm như răng, lưỡi, v.v... mà có các âm thanh tương ứng phát ra, không phải do ước muốn của bạn. Giờ bạn hãy đọc lại nguyên âm a rồi nguyên âm i một lần nữa đi, trong quá trình phát âm a rồi i, các bộ phận phát âm sẽ di chuyển qua vị thế của nguyên âm e, nên âm e được tạo thành.
Do đó, sandhi của Pali sẽ là: a + i => e => ai.

- Tương tợ, bạn phát âm a rồi u theo tiếng Việt thì âm thanh được tạo ra sẽ là au:
a + u => au
Còn Pali thì sao? Trước khi thành âm au, thì sẽ có âm o phát ra, nên sẽ được viết như sau:
a + u => o => au.

TRƯỜNG HỢP NGƯỢC LẠI:
- Theo cách đánh vần của tiếng Việt
- i + a => ia.
- u + a => ua.

- Còn Pali thì sao? Bạn hãy phát âm và lắng nghe, đọc từ từ chậm rãi,
iii rồi aaa trong cùng một hơi thì âm tạo ra sẽ nghe như là ya.
uuuu rồi aaaa trong cùng một hơi thì âm tạo ra sẽ nghe như là va/wa
- i + a => ya (được giải thích là i => y).
- u + a => va (được giải thích là u => v).

TỔNG KẾT:
- Tiếng Việt:
- a + i => ai; a + u => au.
- i + a => ia; u + a => ua.

- Tiếng Pali:
- a + i => e => ai; a + u => o => au.
- i + a => ya; u + a => va.

Bạn đang ở level 2 của chương trình Pali. Bởi vì bài học về Sandhi được trình bày ở tập 2 theo tài liệu của Ngài A. P. Buddhadatta (chỉ trình bày chứ không có giải thích).

***
Hỏi: Vì sao trong Pali lại có hình thức thu gọn lại là: o = ava ; e = aya. Đây có phải do chuyện phát âm không? hay là do mục đích làm thơ kệ trọng Pali.
Đáp: a + u => o => au + a => (av + a) => ava
Âm o kéo dài thêm a thì thành ava. Âm e kéo dài thêm a thì thành aya. Việc rút ngắn hay kéo dài âm thanh đều được áp dụng ở kệ ngôn. 
Ví dụ: gāravo ca nivāto ca / santutthi ca kataññutā (Maṅgalasuttaṃ)
gāravo từ chữ garu (a => ā, u => ava). 
Hoặc bhoti and bhavati, neti and nayati, v.v...
Nên nhớ là văn phạm đi theo sau để giải thích ngôn ngữ. Ví dụ như nổi hứng rồi xuất khẩu thành thơ thì khác, còn ngồi tính vần điệu để mà làm thơ thì 2 bài thơ đó có giá trị khác nhau. Một điểm đáng lưu ý là đọc Pali của Chánh Tạng và Pali của Atthakatha có âm hưởng khác nhau bởi vì Pali Chánh Tạng là ngôn ngữ tự nhiên, còn giai đoạn về sau là ngôn ngữ của sự tính toán theo văn phạm nên không còn cái âm điệu nữa. Sư có thể đọc lại mấy câu Pali mà Sư đã làm từ bài tập dịch từ tiếng Việt (hay tiếng Anh) sang tiếng Pali thì sẽ cảm nhận được ngay. Ngay cả mấy câu Pali mà các tác giả tự đặt ra cho phần bài tập dịch từ Pali sang Việt (hay Anh) cũng vậy.

By Bhik. Indacanda.
Nguồn từ FB Group: Pali-Chuyên đề.

Monday, August 6, 2012

Đức Phật nói tiếng gì?

Question:

- What language did the Buddha speak? Some sources say Sanskrit and some Magadhi. Now I wonder is there any evidence? 

Answer by Kare Albert Lie (Norway, 11 June 2010):

- He did not speak Sanskrit. At the Buddhas time different dialects were spoken in Northern India. They were probably not very different from each other, and not very different from Sanskrit. Pali is a standardization from these dialects (we find traces of different dialects in Pali), a couple of hundred years after Buddha, and the Pali texts therefore probably are as close to the Buddha's own language as we can reasonably expect to get.

The term Magadhi is ambiguous. It means "from Magadha", and so we have to ask what area was called Magadha, and at what time. 

At the Buddha's time Magadha was one of several states in Northern India. We do not know if, or how much, the dialect in Magadha at that time differed from the neighboring dialects. As far as I know, we have no documentation for the use of Magadhi as a linguistic term at that time.

Magadha was a rather aggressive kingdom, and after the Buddha's time it conquered other states and expanded until it covered most of India at the time of Asoka. Asoka was king of Magadha, that is, he was king of "greater Magadha" - most of India. At his time Buddhism was exported to Sri Lanka, and so were the Pali texts. But Sri Lankan commentators did not call the language "Pali".They called it Magadhi, which is quite logical, since the texts had been brought to them from Magadha, from "greater Magadha", that is - from the Indian mainland. Therefore the term Magadhi for the Pali language as used in the commentaries, probably mean nothing more than "Indian".

Later, the Asokan dynasty fell from power, and the name Magadha was again restricted to the area, the province that had been the original state of Magadha at the Buddha's time. During the centuries the dialects in different parts of India had diverged (as is normal for languages), and the dialect of Magadha had acquired its own distinctive features. Now came the time of the great Sanskrit dramas, and the Sanskrit authors consciously used different dialects and cultivated these as written sociolects, which were called Prakrit. Thus there arose a Prakrit language/dialect called Magadhi.

There seems to have been quite a lot of confusion due to these different usages of the term"Magadhi".

To sum up: 

"Magadhi 1" - whatever dialect was spoken in Magadha at the Buddha's time. We do not know to what degree, if at all, this was any different from the language spoken over most of Northern India.

"Magadhi 2" - the language of the texts from "greater Magadha" that arrived in Sri Lanka at the time of Asoka. This "Magadhi 2" is the same as we today call Pali.

"Magadhi 3" - the later dialect of the province of Magadha that became a Prakrit language in the Middle Ages. No special connection to Buddhism or the Pali texts.


* * *
Pali có ý nghĩa thế nào?

Từ Pali không tìm thấy ở Tam Tạng.

Ở Chú Giải, khi đề cập đến việc học tập của vị tỳ khưu thì Ngài Buddhaghosa có ghi là vị ấy cần học tập “pāliñca atthakathañca”, nghĩa là học "pali và atthakathā". Từ atthakathā có nghĩa là Chú Giải, nhờ đó có thể biết được rằng từ Pali có nghĩa là Chánh Tạng, là những gì được chứa đựng trong Tam Tạng - Tipitaka.

Và ngôn ngữ ghi lại Tam Tạng thì Ngài Buddhaghosa ghi rằng Māgadhabhāsā, nghĩa là ngôn ngữ của xứ Magadha (Ma Kiệt Đà). Việc gọi Pali là tên của ngôn ngữ ghi lại lời dạy của đức Phật có thể đã được học giả người Pháp Simon de la Loubère sử dụng đầu tiên trong tác phẩm Du Royaume de Siam ấn hành năm 1691; tài liệu này đã được dịch sang tiếng Anh năm 1693 (Juo-Hsüeh Shih Bhikkhunī, Controversies over Buddhist Nuns, Oxford: The Pali Text Society, 2000, trang 3). Do sự ngộ nhận ban đầu đó, ngày nay nói đến từ Pali người ta liên tưởng đến ngôn ngữ Pali, mà hầu như không biết đến ý nghĩa ban đầu của nó.

Như vậy tùy theo ngữ cảnh, Pali có thể hiểu là:

   - Các lời dạy nguyên thủy, chánh truyền của đức Phật.

   - Ngôn ngữ đã được sử dụng để ghi lại các lời dạy ấy.

Tỳ-khưu Indacanda,

Nguồn: Công trình Tam Tạng Pali-Việt. URL: http://www.paliviet.info

Tuesday, July 31, 2012

SỰ KHÁC NHAU GIỮA THIỀN ĐỊNH VÀ THIỀN TUỆ

Pháp thiền trong Phật giáo có hai loại, gọi chung là tham thiền (bhāvanā) đó là:
1) Thiền Định (Samathabhāvanā);
2) Thiền Tuệ (Vipasanābhāvanā).
Thiền Định là một pháp thiện làm cho tâm yên tịnh, mát mẻ, an lạc và có quả báo là tái sinh vào cõi Phạm thiên (Brahma). Tuy nhiên pháp thiện này cũng đang còn ở trong vòng sinh tử luân hồi, và con người đã từng tu tập được ngay trước thời Đức Phật ra đời.
Thiền Tuệ là pháp hành khác biệt với thiền định, là pháp thiện được tu tập để thoát khỏi luân hồi tử sinh. Pháp này chỉ có kể từ khi Đức Phật xuất hiện mà thôi và đây cũng là pháp mà Ngài mong muốn mọi chúng sanh, tứ chúng Phật tử đạt đến trí tuệ thiền tuệ này.
Nếu hành giả không thấu hiểu thì sẽ đem cả thiền tuệ và thiền định ra cùng thực hành hoặc sẽ nghĩ rằng cả hai loại này là cùng một pháp hành và cho kết quả như nhau. Do vậy thiền tuệ sẽ không thể phát sinh và sẽ không thoát khỏi khổ được, bởi vì thiền định chỉ làm cho tâm mát mẽ, yên tịnh, an lạc. Hành giả sẽ dính mắc vào an lạc, sống với an lạc, đấy là nhân làm cho trí tuệ không thể thấy được khổ theo phận sự của Thánh Đế được và sẽ làm cho hiểu nhầm rằng sự yên tịnh đã đạt được ấy là Niết-bàn.
Người nào quan tâm đến định thì cần hiểu các điểm này trước, định có ba loại là:
- Sát-na định: định trong chốc lát (hay phiến thời định).
- Cận hành định: định sắp đến trạng thái của thiền.
- An chỉ định: là trạng thái thiền định, tâm ổn cố, trụ vững trên một đối tượng trong thời gian dài.
Thực hành thiền tuệ sử dụng sát-na định, lúc mà đang nhận mỗi một đối tượng hiện tại, đang diễn ra. Hành giả đang nhận đối tượng hiện tiền có thể chuyển đối tượng được nhận theo cả sáu cửa (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). Chẳng hạn lúc mắt đang theo dõi sắc (thân) ngồi, nếu nghe tiếng động lớn thì tâm tự động quay sang theo dõi ở tai, tức là danh (tâm) đang nghe,…
Sát-na định là nền tảng làm phát sinh thiền tuệ và nhiệm vụ của thiền tuệ là đoạn trừ phiền não, cấu uế tại những nơi mà chúng gá vào để sinh trưởng (sáu cửa: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) (nơi phát sinh thất tình lục dục).
Xin đừng hiểu nhầm về thiền định, hãy tự đọc và tự hiểu lấy, hiểu được rồi thì tự mình thực hành lấy, kiểm chứng lấy; sự thật nằm ở chính bản thân mình. Tâm ta thanh tịnh rồi thì quả sẽ tự có, nghe xong cần suy xét, đừng tin điều gì một cách dễ dàng mà không qua kiểm chứng. So sánh giữa thiền định và thiền tuệ, thử tìm hiểu, học hỏi hai pháp này để đừng nhầm lẫn nhau. Hãy nhìn rõ nhân và quả rồi tự mình quyết định lấy rằng sẽ muốn trở thành Phạm thiên để phải sinh tử luân hồi tiếp tục hay là đạt đến Niết-bàn thoát ly khổ não.
Để tránh khỏi bị đánh lừa, cần phải hiểu đúng và biết rõ, cần xác định cái đúng để tự quyết định. Đúng hay sai tùy thuộc vào trí tuệ của mình, không phải tin vào người khác, có tin thì cũng đem ra kiểm chứng trước đã rồi mới hẳn tin.
Thiền định có từ trước rồi, còn thiền tuệ thì ra đời kể từ khi Đức Chánh Đẳng Giác thành đạo. Hai pháp này khác nhau đến chín điểm, nhân tạo ra không giống nhau nên quả cũng không giống nhau:
Đặc điểm của pháp hành thiền định:
1) Thực tánh: Diễn tiến theo năng lực của định.
2) Đối tượng: Dùng đối tượng là pháp chế định (paññatti) làm nền tảng của thiền, ví dụ mười đề mục tùy niệm.
3) Tính chất: Không phóng dật (phóng tâm).
4) Nhiệm vụ: Diệt trừ các pháp chướng ngại (nivāraṇa).
5) Quả hiện hữu: Là sự không dao động trước đối tượng (đề mục), tâm trụ vững trên đối tượng, giống như ngọn đèn không bị gió làm lay động.
6) Nhân gần: Sự an lạc là nguyên nhân gần làm phát sinh định, bởi vì khi tâm an lạc rồi thì sẽ không dao động trước các dục trần nên tâm được tĩnh lặng.
7) Ích lợi: Dẫn đến các định (samāpatti), làm cho tâm mát mẻ, yên lành, an lạc, bởi lẽ lúc đó tâm thoát ly tham và sân, dễ dàng đắc ngũ thông, cho quả tái sinh vào các cõi trời Phạm thiên trong tương lai.
8) Pháp hành: Cần phải thực hành trên một đối tượng mà thôi bằng cách giữ tâm yên định trên đối tượng đó, thiền định chỉ sử dụng ba cửa giác quan là: thân môn, nhãn môn và ý môn.
9) Phân loại hành giả: Có sáu loại là Tham hành giả (hành giả có tánh tham), Sân hành giả, Si hành giả, Tín hành giả, Giác hành giả và Tầm hành giả. Do vậy người thực hành cần chọn đề mục thích hợp với tâm tánh của mình.
Đề mục của thiền định có tất cả 40 loại, nhưng chỉ có 30 loại đề mục mà hành giả đem ra thực hành là đưa đến đắc định, số còn lại (10 đề mục tùy niệm) chỉ đưa đến cận định mà thôi.
Đặc điểm của pháp hành thiền định chỉ có bấy nhiêu, phương pháp thực hành thì cũng nhiều, tùy theo người chỉ dạy sẽ bày cho cần làm gì. Nghĩ cho kỹ, xem kết quả của người bày cho mình làm trước rồi hãy tin, nói trống không chỉ là gió thoảng, ngôn ngữ chế định thì tin vào đâu được, lời Phật dạy đang còn hiện hữu đấy.
Đặc điểm của pháp hành thiền tuệ:
1) Thực tánh: Diễn tiến theo năng lực của tuệ.
2) Đối tượng: Dùng đối tượng là pháp chân nghĩa (paramattha) trong Tứ Niệm Xứ làm nền tảng của thiền minh sát tuệ.
3) Tính chất: Có trí tuệ thấy rõ như chân như thật của thực tánh vạn pháp.
4) Nhiệm vụ: Diệt trừ tham ái đã che lấp sự thật của thực tánh pháp.
5) Quả hiện hữu: Là sự không hiểu sai về thực tánh của vạn pháp.
6) Nhân gần: Thiền tuệ có định là nguyên nhân gần làm phát sinh, như trong kinh điển có ghi nhận rằng định là nền tảng làm phát sinh tuệ, ở đây chính là sát-na định làm nền tảng phát sinh tuệ (trí tuệ thiền tuệ).
7) Ích lợi: Dẫn đến Lậu tận trí (Āsavakkhayañāṇa) tức là diệt tận các lậu hoặc, đoạn trừ vĩnh viễn các phiền não, cấu uế đã dẫn dắt chúng sanh trong sinh tử luân hồi.
8) Pháp hành: Đối tượng của pháp hành diễn tiến qua cả sáu cửa giác quan, lấy Tứ Niệm Xứ làm đề mục bước đầu. Thiền tuệ không chú trọng đến đối tượng là vi tế hay thô tháp, chỉ quán sát ở sự sinh diệt của danh và sắc (vật chất và tâm), ngay cả các chướng ngại pháp (nivāraṇa) cũng đem ra làm đối tượng của pháp hành thiền tuệ được như đã thấy trong phần Quán Niệm Pháp (Dhammānupassanāsatipaṭṭhāna), mục Chướng Ngại (Nivāraṇapabba).
9) Phân loại hành giả: Có hai loại là Tham ái hành giả và Tà kiến hành giả, phân chia theo tâm tánh của từng người. Trong mỗi loại còn chia ra hai hạng nữa, ấy là hạng đa trí và hạng thiểu trí. Việc thực hành thiền tuệ cần phải lựa chọn đề mục cho phù hợp với tâm tánh của mình.
Các đặc điểm của thiền tuệ đã được nêu rõ ở trên, chúng ta cần phải lựa chọn bởi vì hiện tại mỗi chùa, mỗi một thiền viện đều nói là thực hành thiền tuệ cả. Vào đến nơi nào cần tìm xem cách thực hành của họ, thấy kết quả của họ, quan trọng là ở kết quả của bản thân họ, xem môi trường chung quanh cho thấy là “thiền tuệ chế định” (vipassanāpaññatti) hay “thiền tuệ chân nghĩa” (vipassanāparamattha). Nếu là “thiền tuệ chế định” thì ngay cả con người, trú xứ, môi trường chung quanh được tạo dựng nhằm mục đích kinh tế, lợi lộc, danh tiếng, địa vị, sung túc, đầy đủ bề thế cả nơi khuất lấp lẫn nơi dễ thấy, trước sau bất nhất (trừ những trung tâm đào tạo, giáo dục và quan hệ quốc tế). 
Lời giáo huấn đúng đắn là mỗi khi đã vào thực hành pháp hành thiền tuệ thì lợi, danh, quyền, lạc phải tận trừ. Ăn uống, sử dụng đồ vật chỉ nhằm mục đính giải trừ khổ mà thôi, nên có thể nói rằng: Ra sao cũng được, không dính mắc vào cái gì, mọi thứ chỉ để để diệt khổ mà thôi. Ngày ngày tích lũy phước thiện, giới hạnh trong sạch, hướng đến thanh tịnh, huân tập thiện pháp cho đời kiếp tương lai nhằm đoạn trừ sanh tử luân hồi.
Thiền tuệ chân nghĩa cho quả là diệt tận phiền não, cấu uế, là pháp đoạn trừ phiền não một cách trực tiếp. Công đoạn đầu tiên là diệt tận cái “ta”, cái “của ta” để không còn dính mắc. Chỉ có trí tuệ thiền tuệ mới đoạn trừ phiền não được thôi, thiền tuệ chỉ dành cho người có trí vậy!
 ** Tác giả: Archarn Nép**
(Sư Tường Nhân dịch từ tiếng Thái)

Tuesday, July 17, 2012

VUI HỌC VI DIỆU PHÁP

* Tất cả đều là Pháp, Pháp chia làm 2: Chân Đế và Tục Đế.
- Chân Đế là sự thật tuyệt đối, Tục Đế chỉ là tên gọi. Tục Đế để qua một bên, ta học Chân Đế.

Ví dụ minh họa: Con tên là gì? Dạ Hào! Con lấy tay sờ trên cơ thể coi chỗ nào là Hào đâu! Như vậy tên Hào chỉ là Tục Đế thôi. Còn Chân Đế là gì? Sờ vào cơ thể thấy nóng nóng, lạnh lạnh, cứng, mềm,... cái đó mới gọi là Chân Đế. Do đó khi đang hành thiền với oai nghi đi, nếu chúng ta chú ý đến khái niệm "cái chân của tôi bước đi, cái chân của anh bước đi" là chú ý Tục Đế; còn chú ý sự cứng, mềm, nóng, lạnh,... nơi bàn chân khi tiếp xúc với mặt đất là đang ghi nhận Chân Đế. Chúng ta chỉ chú ý đến Chân Đế thôi, vì Chân Đế là đối tượng của pháp hành Thiền Tuệ - Vipassanā Bhāvanā.

- Chân Đế chia làm 2: Hữu vi và Vô vi. Vô vi là Niết-bàn, để qua một bên, ta học Hữu vi.
- Hữu vi chia làm 2: Vật chất và Tâm. Vật chất là Đất, Nước, Gió, Lửa. Ta ưu tiên học phần Tâm:

* Tâm chia làm 2: Tâm vương và Tâm sở. Tâm vương là tâm chính, tâm sở là những thành phần của tâm vương.

Ví dụ minh họa: Tâm vương ví như nồi súp, tâm sở như các thành phần nguyên liệu để nấu súp. Tâm vương như là nước súp, tâm sở là các loại gia vị trong nước súp. Muốn thử nước súp ngon hay dở thì phải dựa vào gia vị của nước súp để nhận biết. Sự nhận biết ngon dở chung chung đó ví như tâm vương, thử xem súp này có cay không, có ngọt không, có mặn không?... Những chi tiết nhỏ như vậy ví như tâm sở. Vì vậy tâm vương không thể tách rời tâm sở được, hay tâm vương và tâm sở luôn luôn đi cùng với nhau.

(Học tâm vương hay tâm sở trước đều được)
* Tâm sở gồm có 52, chia làm 3 nhóm: 13 tâm sở ba phải (thiện cũng được, bất thiện cũng được), 14 tâm sở bất thiện, và 25 tâm sở thiện. (13, 14, 25)
- Nhóm 13 tâm sở ba phải chia làm 2: 7 tâm sở ba phải chung, 6 tâm sở ba phải riêng.
- Nhóm 7 tâm sở ba phải chung là: Xúc, Thọ, Tưởng, Tác (Cố ý) (Cố ý tạo tác các tất cả mọi việc), Định, Mạng, Chủ (Chủ ý) (Huy động tất cả các tâm sở đến thực hiện nhiệm vụ mà mình đã cố ý thực hiện).
- Nhóm 6 tâm sở ba phải riêng là: Tầm, Tứ, Quyết, Tấn, Hỷ (Phỉ), Dục.

Ví dụ minh họa: Một người lấy một chai nước để ở trên bàn. Nếu cái chai nước không phải của người đó, người đó là ăn cắp, thì tâm lấy đó là tâm bất thiện. Nếu người đó lấy chai nước rồi đem đi cúng dường, thì tâm cúng dường đó là tâm thiện. Chúng ta xét đến các thành phần của tâm lấy chai nước. Khi muốn lấy chai nước, đầu tiên phải nhìn thấy cái chai, tức tâm phải tiếp xúc được với cái chai, gọi là Xúc. Thấy chai nước liền có cảm giác vui vẻ hay cảm giác thản nhiên, gọi là Thọ. Nhìn cái chai biết đây là chai đựng nước để uống do trước đó thường hay kinh nghiệm rồi, gọi là Tưởng. Khi lấy có sự cố ý để lấy, gọi là Tác (Cố ý). Rồi phải ổn định tâm trên cái chai mới lấy được, thấy rõ nhất là người bị chứng run tay càng phải định tâm hơn nữa mới lấy được, không thì tay có thể bị trật ra khỏi chai nước, gọi là Định. Lúc xảy ra hành động lấy chai nước thì tâm phải sống, không giống như người đang ngủ sẽ không biết gì cả, gọi là Mạng. Cuối cùng người lấy đó phải có chủ ý, mục đích lấy để làm gì, lấy để uống giải khát hay mang đem cho, gọi là Chủ (Chủ ý). Những thành phần, chi tiết nhỏ tạo nên việc lấy chai nước đó gọi là các tâm sở. Sự việc lấy chai nước là ăn cắp (bất thiện) hay mang đi cúng dường (thiện) gọi là tâm vương, hay tâm chính, tâm chủ đạo.

Nhóm tâm sở ba phải chung là bắt buộc phải có trong tất cả các tâm vương, còn các tâm sở ba phải riêng có cũng được, không có cũng được. Ví như bát bún bò thì bắt buộc phải có bún, có thịt bò mới ra bún bò, tâm sở ba phải chung là như bún và thịt bò; còn có thể bỏ thêm tiêu, thêm ớt hay không là tùy theo sở thích của người dùng, tâm sở ba phải riêng như là tiêu và ớt.

Các tâm sở ba phải riêng có trong các tâm vương bình thường và phát triển mạnh mẽ trong các tâm thiền. Tầm là hướng tâm đến đối tượng, Tứ là chà xát trên đối tượng. Ví như con ong đi tìm mật. Ban đầu nó bay tìm thấy bông hoa, gọi là Tầm. Tiếp đến là nó bay xung quanh bông hoa một hồi và đậu lên nhụy hoa, gọi là Tứ. Nó thấy cái nhụy hoa thì vui thích, hoan hỷ, gọi là Hỷ. Nó hút hết nhựa hoa một cách no đầy khoan khoái, gọi là Lạc. Xong nó trú và ngủ trên ngụy hoa một lúc, gọi là Định. Ở đây chỉ xét hai yếu tố là Tầm và Tứ thôi. Người mới hành thiền thì đạt được Tầm và Tứ lâu hơn, khó khăn hơn. Sau khi hành thiền giỏi rồi, thuần thục rồi thì có Tầm, có Tứ rất dễ dàng, có thể ngồi xuống là có ngay liền, không cần phải cố gắng nhiều. Nếu thuần thục hơn nữa thì chỉ cần hướng đến đề mục là định tâm trên nó liền, gần như bỏ qua luôn giai đoạn Tầm và Tứ.
Tâm sở Quyết là thể hiện sự quyết tâm, ý chí mạnh mẽ của tâm, sự ý chí quyết tâm này sẽ bị thối lui khi tâm có sự nghi ngờ hay Hoài nghi. Tâm sở Tấn là thể hiện sự cố gắng, nổ lực của tâm. Tâm sở Dục là thể hiện sự mong muốn của tâm.

- Nhóm 14 tâm sở bất thiện chia làm 4: 4 tâm sở bất thiện chung, 3 tâm sở bất thiện nắm giữ, 4 tâm sở bất thiện từ chối, 3 tâm sở bất thiện lờ đờ. (4, 3, 4, 3)
- Nhóm 4 tâm sở bất thiện chung là: Si, Không hổ thẹn tội lỗi (Vô tàm), Không ghê sợ tội lỗi (Vô quý), và Bất an.
- Nhóm 3 tâm sở bất thiện nắm giữ là: Tham, Tà kiến, Mạn.
- Nhóm 4 tâm sở bất thiện từ chối (đẩy ra) là: Sân, Ganh tỵ, Bủn xỉn, Hối hận.
- Nhóm 3 tâm sở bất thiện lờ đờ là: Dã dượi, Buồn ngủ, Hoài nghi.

Nhóm tâm sở bất thiện chung đều có mặt trong tất cả các loại tâm bất thiện. Người mà làm ác được là do vì Si – không phân biệt được thiện ác, tốt xấu, không thấy rõ thực tính pháp, cũng như không Hổ thẹn, không Ghê sợ tội lỗi và Bất an. Người làm ác thì gây ra đau khổ cho người, cho mình và cho cả hai. Nhiều người có thể ghê sợ tội lỗi nhưng hổ thẹn tội lỗi thì tiềm ẩn và luồn lách như con lươn. Ví như một người đổ rác, người này đổ ra ngoài thùng rác thì sợ bị phạt nên ban ngày không dám đổ, nhưng lại chờ đến tối 12 giờ đêm mới đổ rác vung vãi không đúng nơi đúng chỗ, đối với người này thì có sự sợ hãi nhưng không có sự hổ thẹn đối với việc làm sai trái của mình.

Nhóm tâm sở nắm giữ: Tham thì đương nhiên là nắm giữ rồi. Tà kiến thuộc loại nắm giữ ví như mình sai mà cứ cho rằng đúng, ai nói gì cũng không nghe, nắm giữ cái sai của mình (Tà kiến nói cho dễ hiểu là không tin Nghiệp và quả của nghiệp, Chánh kiến là tin Nghiệp và quả của nghiệp). Mạn là so sánh mình với người, cũng thuộc loại nắm giữ, như kiêu mạn là luôn cho rằng mình hơn người; mình bằng người cũng kiêu, như cô ấy có nhà tôi cũng có nhà, cô ấy có xe tôi cũng có xe nên tôi cũng ngon lành; mình thua người cũng kiêu, như xe tôi cũ kỹ không ai ăn cắp, nhà tôi nghèo tối ngủ không cần khóa cửa nên tôi ngon lành hơn; nói chung là nắm giữ sự ngon lành, hơn người của mình, cái gì cũng tìm cách hơn người ta. Vì Tà kiến nên sinh sự dính mắc hay tham đắm, cũng như vì kiêu mạn nên sinh dính mắc hay tham đắm. Nhưng Tà kiến và Mạn không bao giờ đi chung với nhau, chúng như hai con hổ dữ vậy, không bao giờ ở chung trong cùng một khu rừng hay trong cùng một cái hang.

Nhóm tâm sở từ chối: Sân là vì việc xảy ra không như ý mình, muốn đẩy ra. Ganh tỵ, tức là không muốn người ta hơn mình, không muốn người khác giàu có hơn mình, không muốn người khác thành công hơn mình; thường chỉ làm cha làm mẹ mới không ganh tỵ với con cái thôi. Bủn xỉn, tức là không muốn người khác có những cái như mình có, không cho ai những cái mà mình đã có, nghe người ta có những cái như mình thì sinh bực tức. Hối hận, tức là không muốn chuyện đã xảy ra trong quá khứ, muốn trốn tránh hay đẩy đi chuyện đó đi, hay lo lắng chuyện sẽ xảy ra trong tương lai mà không theo ý mình cũng thuộc sự từ chối, đẩy ra.

Nhóm tâm sở lờ đờ: Dã dượi, Buồn ngủ là các trạng thái tâm mê mờ, mệt mỏi, yếu ớt, lờ đờ, xiêu vẹo. Hoài nghi là trạng thái tâm nghi ngờ, nghi Nghiệp và quả của nghiệp, nghi Nhân Quả; như nghi ngờ rằng không biết làm thiện có đem lại sự an vui không, làm ác có đưa đến sự đau khổ hay không.

- Nhóm 25 tâm sở thiện chia làm 3: 7 tâm sở thiện chung, 6 cặp tâm sở thiện chung, và 6 tâm sở thiện. (7, 6 cặp, 6).
- Nhóm 7 tâm sở thiện chung là: Tín, Niệm, Hổ thẹn tội lỗi (Tàm), Ghê sợ tội lỗi (Quý), Không tham, Không sân (Từ), Xả.

Các tâm sở này đối trị với các tâm sở bất thiện. Hổ thẹn tội lỗi và Ghê sợ tội lỗi là hai pháp bảo vệ thế gian. Khi chúng ta làm bất cứ một việc phước thiện gì thì cả thảy 7 tâm sở thiện chung này cùng với 6 cặp tâm sở thiện chung đều sinh lên cùng lúc, hay chúng luôn đi cùng nhau. Do vậy, nếu người hành thiền chỉ cần phát triển Niệm là sự chú ý ghi nhận rõ ràng đề mục hành thiền của mình thôi thì 18 tâm sở thiện còn lại tự động sinh lên luôn, rất lợi lạc, gọi là đi buôn 1 vốn mà 19 lời. Đây là điểm chúng ta cần lưu ý để trau dồi việc phước thiện của mình.

- Nhóm 6 cặp tâm sở thiện chung là:
+ Khinh an, Thư thái, Mềm dẻo, Thích ứng, Điêu luyện, Chánh trực. (Các tâm sở làm cho tâm đồng sinh có trạng thái nhẹ nhàng, điêu luyện,... khi làm việc thiện);
+ Thân khinh an, Thân thư thái, Thân mềm dẻo, Thân thích ứng, Thân điêu luyện, Thân chánh trực. (Các tâm sở này làm cho các tâm sở đồng sinh với nó có trạng thái nhẹ nhàng, mềm dẻo,... khi làm việc thiện).
- Nhóm 6 tâm sở thiện là: 3 Chánh (hay Tiết chế) là Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng; 2 Vô lượng là Bi, Hỷ (Bi vô lượng, Hỷ vô lượng); 1 Huệ (Tuệ) (Trí).

Trong Tứ Vô Lượng Tâm, tức là 4 tâm có đối tượng nhiều vô lượng, có đối tượng là tất cả các chúng sanh, gồm có Từ, Bi, Hỷ, Xả thì Từ ở đây đồng nghĩ với tâm sở Không sân hay Vô sân; Bi là tâm sở Bi vô lượng; Hỷ là tâm sở Hỷ vô lượng, cần phân biệt với tâm sở Hỷ ba phải (Phỉ) ở trên; Xả là tâm sở Xả, tâm bình thản hay tâm không thiên vị trước tất cả chúng sanh, coi mọi chúng sanh đều có Nghiệp là tài sản riêng của họ, thành công hay thất bại tùy thuộc vào Nghiệp riêng của họ. Tâm sở Huệ là trí thấy đúng thực tánh của sự vật hay thấy đúng thực tánh pháp, thấy Nhân quả Ngiệp báo hay biết Nghiệp và quả của Nghiệp, Huệ đồng nghĩa với Chánh kiến, đối trị với Tà kiến.

(Học qua tâm vương)
* Tâm vương có 89, chia làm 2: 8 tâm siêu thế và 81 tâm hiệp thế.
- Tâm siêu thế có 8 là: 4 Đạo, 4 Quả.
- 4 Đạo là: Tu-đà-hoàn đạo, Tư-đà-hàm đạo, A-na-hàm đạo, A-la-hán đạo.
- 4 Quả là: Tu-đà-hoàn quả, Tư-đà-hàm quả, A-na-hàm quả, A-la-hán quả.

Bậc Thánh đắc Đạo một lần là hưởng Quả liền và hưởng mãi, không mất Quả. Ví như một người học xong đại học y khoa, được cấp bằng tốt nghiệp đại học một lần thì có thể làm bác sỹ suốt đời vậy. Bậc Thánh cũng luôn hành thiền khi cần để nghĩ dưỡng và để hưởng Quả Thánh của mình, ví như xạc lại pin để lấy lại năng lượng vậy.

- Tâm hiệp thế có 81, chia làm 2: 27 tâm thiền và 54 tâm không thiền.
- Tâm thiền có 27, chia làm 2: 15 tâm thiền hữu sắc và 12 tâm thiền vô sắc.
- Tâm thiền hữu sắc có 5 là: Nhất thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền, và Ngũ thiền.
- Tâm thiền hữu sắc sẽ cho quả ngay lập tức gọi là tâm thiền quả, ngoài ra có thêm tâm thiền duy tác của bậc Thánh A-la-hán do các ngài tu thiền hữu sắc, tổng cộng 5x3 = 15 tâm thiền hữu sắc.
- Tâm thiền vô sắc có 4 là: Không vô biên xứ thiền, Thức vô biên xứ thiền, Vô sở hữu xứ thiền, và Phi tưởng phi phi tưởng xứ thiền.
- Tâm thiền vô sắc cũng sinh tâm quả liền sau đó và tâm thiền duy tác của bậc Thánh A-la-hán nếu các ngài có tu thiền vô sắc, tổng cộng có 4x3 = 12 tâm thiền vô sắc.
- Tâm không thiền có 54, chia làm 3: 12 tâm bất thiện, 24 tâm thiện, và 18 tâm vô nhân (tâm dị thục vô nhân).
- Tâm bất thiện có 12 là: 8 tâm tham, 2 tâm sân, và 2 tâm si.
- Tâm sân có 2: đi với Ưu (cảm thọ buồn) và Hận (Sân), một tâm tự động; một tâm bị xúi giục.
- Tâm si có 2: đi với Xả (cảm thọ xả, không vui không buồn), một tâm Hoài nghi; một tâm Bất an.
- Tâm tham có 8 là:
+ Tâm tham thứ 1: Hỷ, Tà , Tự động. (Hỷ: cảm thọ vui; Tà: Tà kiến, không tin Nghiệp) 
+ Tâm tham thứ 2: Hỷ, Tà, Xúi giục. (Chẵn là bị xúi giục, đi hai người mới bị xúi giục, đi một mình không bị!) 
+ Tâm tham thứ 3: Hỷ, Không Tà, Tự động. (Biết sai trái nhưng vẫn làm ác do tham mạnh hơn) 
+ Tâm tham thứ 4: Hỷ, Không Tà, Xúi giục.
+ Tâm tham thứ 5: Xả, Tà, Tự động. (Xả: cảm thọ xả)
+ Tâm tham thứ 6: Xả, Tà, Xúi giục.
+ Tâm tham thứ 7: Xả, Không Tà, Tự động.
+ Tâm tham thứ 8: Xả, Không Tà, Xúi giục.
(tương ứng học 8 tâm thiện liền, để thấy làm việc thiện cũng có 8 tâm và có Hỷ, có Xả)
- Tâm thiện có 24, chia làm 3: 8 tâm thiện, 8 tâm thiện quả, và 8 tâm thiện duy tác.
- Tâm thiện có 8 là:
+ Tâm thiện thứ 1: Hỷ, Trí, Tự động. 
+ Tâm thiện thứ 2: Hỷ, Trí, Khuyên bảo. (Thay Xúi giục bằng Khuyên bảo để hợp với điều thiện)
+ Tâm thiện thứ 3: Hỷ, Ly Trí, Tự động.
+ Tâm thiện thứ 4: Hỷ, Ly Trí, Khuyên bảo.
+ Tâm thiện thứ 5: Xả, Trí, Tự động.
+ Tâm thiện thứ 6: Xả, Trí, Khuyên bảo.
+ Tâm thiện thứ 7: Xả, Ly Trí, Tự động.
+ Tâm thiện thứ 8: Xả, Ly Trí, Khuyên bảo.
(Tâm thiện thì cho quả liền, thêm chữ quả sau tâm thiện)
- Tâm thiện quả có 8 là:
+ Tâm thiện quả thứ 1: Hỷ, Trí, Tự động, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 2: Hỷ, Trí, Khuyên bảo, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 3: Hỷ, Ly Trí, Tự động, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 4: Hỷ, Ly Trí, Khuyên bảo, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 5: Xả, Trí, Tự động, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 6: Xả, Trí, Khuyên bảo, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 7: Xả, Ly Trí, Tự động, Quả.
+ Tâm thiện quả thứ 8: Xả, Ly Trí, Khuyên bảo, Quả.
(Trường hợp bậc Thánh A-la-hán sau khi đắc Đạo Quả và còn đang sống trên đời cũng làm việc thiện, nhưng việc thiện này không cho quả nữa, chỉ thuần là việc làm tự nhiên, gọi là duy tác. Như vậy thêm duy tác sau tâm thiện).
- Tâm thiện duy tác có 8 là:
+ Tâm thiện duy tác thứ 1: Hỷ, Trí, Tự động, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 2: Hỷ, Trí, Khuyên bảo, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 3: Hỷ, Ly Trí, Tự động, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 4: Hỷ, Ly Trí, Khuyên bảo, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 5: Xả, Trí, Tự động, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 6: Xả, Trí, Khuyên bảo, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 7: Xả, Ly Trí, Tự động, Duy tác.
+ Tâm thiện duy tác thứ 8: Xả, Ly Trí, Khuyên bảo, Duy tác.
- Tâm vô nhân có 18, chia làm 3: 7 tâm quả vô nhân khổ, 8 tâm quả vô nhân lạc, 3 tâm duy tác vô nhân.

Tâm vô nhân (hay còn gọi là tâm dị thục vô nhân; dị là sai khác, biến đổi; thục là chín; dị thục là chín và biến chất thành cái khác) là những tâm không thiện không ác, hay không có các nhân là tham, sân, si, vô tham, vô sân, và vô si. Như một người sau khi sinh vào cõi tốt lành thì tự nhiên là mắt thấy cảnh đẹp, tai nghe tiếng hay, mũi ngửi hương thơm,... là do kiếp trước đã tạo nghiệp tốt lành. Người đã tạo nghiệp xấu ác thì sinh vào nơi hay cõi xấu xa, nơi đầy đau khổ, nơi thường hay gặp cảnh chiến tranh, trộm cướp,... Hoặc người có nghiệp tốt thì đi đâu cũng nghe lời tốt tiếng lành, người có nghiệp xấu thì đi đâu cũng nghe lời xấu tiếng ác.

- Nhóm 7 tâm quả vô nhân khổ là: Nhãn thức, thọ Xả; Nhĩ thức, thọ Xả; Tỷ thức, thọ Xả; Thiệt thức, thọ Xả; Thân thức, thọ Khổ; Tiếp thọ (Thu nhận), thọ Xả; Suy đạt (Xem xét), thọ Xả. (Thân rất mạnh và diện rộng, đụng vào là khổ liền).
- Nhóm 8 tâm quả vô nhân lạc là: Nhãn thức, thọ Xả; Nhĩ thức, thọ Xả; Tỷ thức, thọ Xả; Thiệt thức, thọ Xả; Thân thức, thọ Lạc; Tiếp thọ, thọ Xả; Suy đạt, thọ Xả; Suy đạt, thọ Hỷ. (Tâm thiện rất mạnh, nên ngoài cho quả thọ xả còn cho thêm quả thọ hỷ nữa).
- Nhóm 3 tâm duy tác vô nhân:
+ 1 ngũ môn hướng tâm thọ xả.

Ví như sau khi (các ngũ song thức đã ghi nhận rồi) nghe một tiếng động lớn thình lình đến thì mắt sẽ hướng tới, tai sẽ hướng tới, mũi sẽ hướng tới (nếu có mùi),... một cách tự động, tức cả 5 giác quan trên thân đều hướng tới chỗ có tiếng động đó cùng một lúc, và hành động này xảy ra một cách tự nhiên, thuần phản xạ tự nhiên (gọi là duy tác), không thiện không ác.

+ 1 ý môn hướng tâm thọ xả.

Ví như cũng tiếng động trên là do cái thước đập xuống mặt bàn, sau khi Ngũ môn hướng tâm hướng đến rồi thì thấy cái thước, lúc này chỉ còn một cửa nhận thức thôi là tâm biết cái thước đó, sự hay biết này cũng diễn ra ngay sau ngũ môn hướng tâm và có sự cố gắng để nhận biết, và tâm này cũng không thiện không ác.

+ 1 tiếu sanh tâm thọ hỷ.

Tiếu sanh tâm là tâm duy tác vô nhân làm thành nụ cười của bậc Thánh A-la-hán, các ngài cười như thể hưởng sự an vui do đã hết phiền não trong tâm. (Việc này để vị A-la-hán lo, chúng ta chỉ việc lo hành thiền!).

 (Phần chữ đậm ở trên nên học thuộc lòng).

* Phần tương ưng giữa 89 tâm vương và 52 tâm sở. (Sự kết hợp giữa tâm vương và tâm sở) 
Như vậy là chúng ta đã học các loại món ăn, công thức chế biến và nguyên liệu chế biến món ăn đã có sẵn, công việc tiếp theo là chúng ta xem xét từng món ăn cần thứ nguyên liệu gì, hoặc một loại nguyên liệu thì dùng được cho bao nhiêu món ăn.
Trước hết, chúng ta cần chú ý các điểm sau:
+ 7 tâm sở ba phải chung luôn luôn đi cùng trong tất cả các tâm vương;
+ 4 tâm sở bất thiện chung luôn luôn có mặt trong tất cả các tâm vương bất thiện;
+ 19 tâm sở thiện chung (7 tâm, 6 cặp) luôn luôn sinh lên cùng lúc trong tất cả các tâm thiện, tâm thiền và tâm Đạo Quả;
+ Các ngũ song thức (10 tâm) vì là tâm quả và vô nhân nên tất cả các tâm sở có tính chất chủ động và tính chất đạo đức như thiện hay bất thiện đều không có mặt, nên chúng chỉ có 7 tâm sở ba phải chung mà thôi;
+ Trong các tâm tham thì hai tâm sở Tà kiến và Mạn nếu có mặt cái nào thì các kia mất, như hai con hổ dữ không thể ở cùng chung một chuồng.
+ Các tâm vương không thể tự quyết hay cần có sự tác động thì luôn có các tâm sở lờ đờ là Dã dượi, Buồn ngủ; hai tâm sở Hoài nghi và Quyết không thể ở chung với nhau vì tâm có sự nghi ngờ thì không thể quyết định được việc gì;
+ Các tâm xảy ra một cách tự động, không cần nổ lực gì thì không có tâm sở Tấn; Tâm si thì bị mê mờ, bị che lấp và tâm quả vô nhân thì thụ động nên không cần một sự mong muốn nào, do đó không có tâm sở Dục;
+ Tâm thiện quả, Tâm ngũ thiền thì bỏ hỷ và lạc, và tâm Đạo Quả thì có Xả vô lượng nên các loại tâm này không có hai tâm sở thiện vô lượng là Bi và Hỷ;
+ Tâm thiện và tâm Đạo Quả mới có 3 Chánh (3 tiết chế), còn các tâm thiện quả, thiện duy tác không có, các tâm thiền thì không cần tiết chế vì đối tượng của chúng là các quang tướng nên không cần phải tiết chế, các đối tượng có liên quan tới chúng sanh mới cần có sự tiết chế;
+ Tâm sở Huệ có trong các tâm thiện hợp trí, tâm thiền và tâm Đạo Quả;
+ Cuối cùng tùy theo các chi phần nổi trội mà các tâm vương phải tương ưng với các tâm sở nổi trội đó, như tâm hợp Trí thì có tâm sở Huệ, tâm hợp Tà thì có tâm sở Tà kiến.

- Tâm tham thứ nhất (Hỷ, Tà, Tự động) có bao nhiêu tâm sở? Gồm: 7 tâm sở ba phải chung bắt buộc phải có, 6 tâm sở ba phải riêng cũng đều có mặt, 4 tâm sở bất thiện chung cũng bắt buộc phải có, cuối cùng là sự góp mặt của 2 tâm sở bất thiện nắm giữ là Tham và Tà kiến. Tổng cộng có cả thảy 19 tâm sở.
- Tâm tham thứ hai (Hỷ, Tà, Xúi giục) có bao nhiêu tâm sở? Gồm: 7 tâm sở ba phải chung, 6 tâm sở ba phải riêng, 4 tâm sở bất thiện chung, hai tâm sở bất thiện nắm giữ là Tham và Tà kiến, vì tâm bị xúi giục nên có thêm hai tâm sở bất thiện lờ đờ là Dã dượi, Buồn ngủ. Tổng cộng có cả thảy là 21 tâm sở.
- Tâm tham thứ ba, thứ tư: Vì không Tà nên Mạn sẽ nhảy vào thế chỗ nên cũng tương tự như tâm tham thứ nhất và thứ hai, tâm tham thứ ba có 19 tâm sở, tâm tham thứ tư có 21 tâm sở.
- 4 tâm tham còn lại: Vì cả 4 tâm tham này đều là thọ xả, nên tâm sở Hỷ (Phỉ) bị loại trừ, còn lại thì tương tự 4 tâm tham đầu, nên tâm tham thứ năm có 18 tâm sở, tâm tham thứ sáu có 20 tâm sở, tâm tham thứ bảy có 18 tâm sở, tâm tham thứ tám có 20 tâm sở.
- Hai tâm sân: Cả hai tâm sân đều là thọ ưu (buồn) nên không có tâm sở Hỷ (Phỉ), hợp với hận (Sân) nên cả 4 tâm sở bất thiện từ chối đều có mặt. Như vậy tâm sân thứ nhất bao gồm 7 tâm sở ba phải chung, 5 tâm sở ba phải riêng trừ Hỷ, 4 tâm sở bất thiện chung, 4 tâm sở bất thiện từ chối, tổng cộng là có 20 tâm sở; tâm sân thứ hai vì có xúi giục nên thêm hai tâm sở Dã dượi, Buồn ngủ nữa tổng cộng là 22 tâm sở.
...

Thuận Pháp ghi chép phỏng theo bài giảng của Sư Khánh Hỷ, tại Khóa thiền Vipassana, chùa Huyền Không, tháng 7 năm 2012.