Monday, May 7, 2012

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA NGÀY ĐẠI LỄ VESAK – PL.2556 – DL.2012

Đạo từ Vesak 2556 của Ngài Giới Đức - Trưởng lão Tăng già Theravāda TT-Huế:

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN
CỦA NGÀY ĐẠI LỄ VESAK – PL.2556 – DL.2012
(Tổ chức tại chùa Thiền Lâm – Tp.Huế, ngày 5 tháng 5 năm 2012)

Namo Buddhāya,
Hôm nay, cử hành đại lễ Vesak, còn được gọi là ngày lễ Tam Hợp, kỷ niệm Bồ-tát đản sanh, Bồ-tát thành đạo và đức Phật Niết-bàn. Là cái ngày mà nhân loại nghiêng mình, đê đầu cung kính đón chào một hiện thân siêu việt, một bậc vĩ nhân đã có mặt trên trần hoàn. Để hòa chung niềm vui với nhân loại, với thế giới năm châu, chúng ta hãy thắp sáng lên một ước mơ cháy bỏng: Cầu cho thế giới hòa bình, trái đất khỏi phải điêu tàn, đổ nát và lòng người hướng đến điều thiện, lẽ chân, thương yêu nhau trong kỷ nguyên mới để hàn gắn tất thảy khổ đau, điêu linh cùng những xáo trộn đầy bất trắc, hoạn nạn, tai ương trên trần thế!

Kính thưa chư đại đức Tăng Ni, quý cô tu nữ, Phật tử các giới cùng quý vị quan khách,
Theo thông lệ, đại lễ Vesak, cả thế giới, ai cũng nhắc đến kỷ niệm ba sự kiện lớn cùng hội tụ trong một ngày trăng tròn tháng Vesak: Thứ nhất là nhân và duyên mà đức Bồ-tát của chúng ta từ cung trời Tusita (Đẩu Suất) hạ phàm vào lòng mẹ Mahāmāyā (Ma-da), kinh thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), đản sanh tại vườn Lumbinī (Lâm-tỳ-ni); thứ hai là đức Bồ-tát của chúng ta sau sáu năm lầm lạc tu tập khổ hạnh tại núi Gayāsisa (Tượng Đầu sơn), sau đó từ bỏ lối tu hành ép xác, thực hiện pháp hành trung đạo rồi đắc thành quả vị Chánh Đẳng Giác dưới cội bồ-đề, bên sông Nerañjārā (Ni-liên-thuyền) tại xứ Uruvelā; thứ ba là sau 45 năm hoàng hóa trên hằng chục quốc gia và tiểu quốc hai bên lưu vực sông Gaṅgā (Hằng), đem lại lợi lạc tối thượng là giải thoát và an vui cho trời và người – lúc 80 tuổi, đức Phật đã thị tịch Niết-bàn giữa hai cội cây sāla, tại Kusinārā, quốc độ Malla. Ở đây, chúng tôi không nhắc đến ba tích ấy, ba sự kiện lớn ấy, ba nội dung vĩ đại ấy – vì đã là Phật tử thì ai cũng đã biết rõ cả rồi. Chúng tôi muốn nói đến điều khác, cái khác, cái ẩn tiềm bên trong ba sự kiện ấy.
Trên thế gian, có những cái hình mất đi nhưng còn lưu lại bóng, có những âm thanh diệt mất nhưng còn lại tiếng vang, có một vài loại hoa đã tàn nhưng hương thơm còn phảng phất. Hiện thân của đức Phật và giáo pháp của ngài cũng tương tự như thế. Chính cái còn lại, chính cái tồn tại qua thời gian, chính cái ý nghĩa và giá trị nhân văn của đạo Phật mới nội hàm một sức sống mãnh liệt, một năng lượng tâm linh sung mãn, mát mẻ và an lành có thể cứu độ cho xã hội và con người trong thời đại hiện nay đang trên đà suy thoái văn hóa đạo đức, đang bị ô nhiễm cả tinh thần lẫn vật chất.

Kính thưa liệt quý vị,
Đạo Phật là đạo hòa bình, không đao, không trượng, không chia rẽ, không hận thù, không chiến tranh, không giết chóc. Đạo Phật là vì con người và cho cuộc đời. Hơn hai ngàn rưỡi năm qua, đạo Phật đi đến đâu thì mang đến đấy trí tuệ và từ bi. Thông điệp của đức Chánh Đẳng Giác từ ngàn xưa, bây giờ đã đi vào những trường thiền, những lớp học thiền trên khắp thế giới; đã đi vào những trại tù binh, những bệnh xá, bệnh viện và trên 250 trường đại học khắp các quốc gia tiên tiến; đã đi vào chương trình nghị sự của Liên Hiệp Quốc về những vấn nạn chiến tranh tôn giáo, sắc tộc, khủng bố, biến đổi khí hậu, thời tiết, ô nhiễm môi sinh,...Nơi nào khổ đau thì nơi ấy đạo Phật có mặt: Những khổ đau về tinh thần và thể xác. Những khổ đau vì dịch bệnh, bão lũ, động đất, sóng thần, núi lửa. Những khổ đau do xung đột quốc gia, chủng tộc, cha mẹ, vợ chồng, con cái. Những khổ đau do vô cảm, ích kỷ, bạo tàn. Những khổ đau vì si mê, cuồng tín, kiêu căng và độc ác. Những khổ đau do tham vọng tâm linh hay tham vọng quyền lực,... Tất thảy, tất thảy đều cần phương thuốc trí tuệ và từ bi của đạo Phật. Cũng từ trí tuệ và từ bi ấy mà những giá trị tinh thần tương thuộc như sáng suốt, tỉnh thức, giác niệm, tình thương, bao dung, nhân ái,... sẽ đi vào lòng người và xã hội – không phân biệt giai cấp, chủng tộc, nam nữ hay trẻ già,... Và những đóa hoa trí tuệ và từ bi có giá trị hiện thực ấy đang được nở rộ khắp mọi nơi. Thế giới đang ngưỡng vọng về đức Phật và giáo Pháp của ngài – một chân lý đại toàn và thực tiễn – có thể cứu độ khổ đau vô lượng cho muôn sinh. Do vậy, người tu Phật, mọi người tu Phật phải tu tập thực sự để chuyển hóa chính mình chứ không phải là trầm hương nghi ngút, cúng sao giải hạn, van vái cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường. Mệnh lệnh tối hậu của giáo pháp Phật là giải thoát tất thảy mọi khổ đau nội tâm trong những hoàn cảnh tương sinh, tương thuộc. Rồi giúp đỡ cho mọi người xung quanh mình, người này và người kia, quốc độ này và quốc độ khác. Từ đó, những phẩm tính trong lành và tốt đẹp ở trong tôi, trong anh, trong chị, trong mọi gia đình, xã hội sẽ lây lan ảnh hưởng, tạo nên một năng lượng an lành phủ trùm mọi châu lục. Và khi ấy, cây khô cũng nẩy chồi, sa mạc cũng nở hoa, đêm tối cũng được thắp đèn, ngu dốt lại được sáng trí, độc ác cũng phải buông đao và tham vọng, ích kỹ cũng phải biết mở lòng độ lượng. Đấy mới chính là ý nghĩa đích thực và cao cả của ngày đại lễ Vesak có giá trị nhân văn ngàn đời mà không có một giáo chủ, một chân sư, một đại đạo sư, một chủ thuyết, một học thuyết, một triết lý, một tôn giáo nào trên thế gian này có thể thực hiện được, thành tựu được.
Cuối cùng, thay mặt chư tôn trưởng lão, đại đức Tăng Ni Phật giáo Nguyên Thủy Thừa Thiên – Huế, kính chúc chư Phật tử, quý vị quan khách cùng gia đình, thân quyến một mùa Vesak hỷ hoan, hiền thiện và an lành.
Xin kính chào và vô cùng trân trọng.
Namo Buddhāya.

Thursday, May 3, 2012

Lan man trước mùa Vesak 2556 về

Sống theo Pháp (Dhamma), hành theo Pháp, là những hành động không bình thường. Khác với mọi người chung quanh.

Khi đức Phật còn là Bồ tát ngồi dưới cội Bồ đề, trước khi thành Đạo Quả Chánh Đẳng Giác, khi nàng Sujātā mang dâng Ngài chiếc mâm vàng đựng cơm sữa, đức Bồ tát sau khi độ ngọ, đã thả chiếc mâm vàng xuống dòng sông trước mặt, và nguyện nếu như cái mâm trôi ngược so với dòng nước, thì Ngài sẽ giác ngộ. Và cái mâm đã trôi ngược dòng! Điều đó có lẽ muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng khi ta sống với Pháp, chúng ta phải đi ngược lại với dòng chảy của bản năng, của các khuynh hướng tự nhiên ở đời. Chúng ta phải đi ngược lại với những sự dễ dãi, thoải mái, những gì mà tất cả mọi người khác đều theo đuổi. Chảy ngược dòng bao giờ cũng khó hơn là thuận, xuôi theo dòng.

Thành công của việc sống thuận theo Pháp thật ý nghĩa, thù thắng, vĩnh hằng qua bao kiếp sống. Mọi sự thành công của lý trí và vật chất chỉ vỏn vẹn vài ba chục năm của kiếp người, nếu có rơi sót lại chỉ để người khác hưởng. Vì sao đi ngược lại với bản năng, với khuynh hướng đời thường cho chúng ta sự thù thắng, bởi chúng ta đã vượt thoát khỏi sự sợ hãi, vượt qua sự chi phối của thời gian, đã làm chủ bản thân là cái tâm bị phiền não làm ô nhiễm. Làm chủ tâm ý tức là chúng ta sở hữu tài sản là sự định tâm và tỉnh giác, là nhân để giải phóng khỏi mọi ràng buộc - một sự thành công mỹ mãn và xứng đáng cho việc sống thuận theo Pháp, ngược theo dòng đời.

** TP.PA **

Tuesday, April 3, 2012

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG TỪ “BIẾT” (JĀNĀTI)

By Bhikkhu Indacanda in  PALI-Chuyên Đề FB Group.
Những điều trình bày ở dưới đây ghi lại từ sự hiểu biết của cá nhân, theo trí nhớ, chỉ trình bày khái quát, mong rằng người đọc nên cẩn thận lúc tham khảo và sử dụng:
- jānāti = tri, biết. Danh từ liên quan có thể ghi là ñāṇaṃ = trí. ĐỘNG TỪ “BIẾT” ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA THÔNG THƯỜNG CỦA TIẾNG VIỆT: Tôi biết cái đó.
- pajānāti = tuệ tri, nhận biết, (cái biết do nhận thức chơn chánh, sáng suốt, NTD). Danh từ là paññā = tuệ. CŨNG LÀ BIẾT, NHƯNG TRONG CÁI BIẾT NÀY CÓ MỘT SỰ HƯỚNG ĐẾN, CÓ MỘT SỰ NỖ LỰC, với sự thêm vào của tiếp đầu ngữ pa.
 (Hai từ Trí và Tuệ ở trên chỉ thấy được sử dụng ở ngữ cảnh khác có tầm quan trọng hơn).
- vijānāti = nhận thức (từ của HT. MC ?), (thức tri, cái biết do nhận thức bằng các giác quan đơn thuần, NTD). Danh từ là viññāṇaṃ = thức. BIẾT VỚI SỰ PHÂN BIỆT RẠCH RÒI, BIẾT CÁI NÀY VÀ CÁI KHÁC, tiếp đầu ngữ vi có thể hiểu là tách ra, chia chẻ.
- sañjānāti = tưởng tri, nhận biết (cái biết của tưởng hay tri giác). Danh từ là saññā = tưởng. BIẾT DO TỰ MÌNH, tiếp đầu ngữ saṃ có nghĩa là: do bản thân, của bản thân, tự mình. 
- parijānāti = liễu tri, biết toàn diện. BIẾT TRỌN VẸN, BIẾT ĐẦY ĐỦ, tiếp đầu ngữ pari có nghĩa là vòng tròn, bao quanh lại.
- abhijānāti = thắng tri, biết rõ ràng không bị mê mờ. BIẾT MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT, MỘT CÁCH QUAN TRỌNG, tiếp đầu ngữ abhi là ở trên, cao thượng.
- paṭijānāti = cho biết, hứa hẹn, bằng lòng, (to acknowledge, agree to, approve, promise, consent - ghi theo tự điển), (ứng tri: ứng ra để biết, NTD). LÀM CHO ĐỐI TƯỢNG KIA NHẬN BIẾT, tiếp đầu ngữ paṭi có nghĩa là nghịch lại, đối đầu. Ví dụ gacchati là đi, paṭigacchati là đi ngược chiều.
-------------------
- yathābhūtaṃ pajānāti = như thật tuệ tri, nhận biết đúng theo thực thể (biết như thực, biết như đang là, NTD). Cả cụm từ này mới là “seeing as it is”, as it is = yathābhūtaṃ.

Tuesday, March 27, 2012

NGÔN NGỮ CỦA TÂM

Ngài Ðại Ðức Acharn Mun dạy rằng tâm của tất cả mọi người đều có ngôn ngữ giống nhau. Dầu ta nói tiếng gì, dầu ta là người thuộc dân tộc nào, tâm chỉ là sự hay biết. (Lời người dịch: chữ tâm được phiên dịch từ phạn ngữ "चित्त - citta". Bản Chú giải định nghĩa là cái gì hay biết một đối tượng). Vì lẽ ấy Ngài nói rằng tất cả tâm đều có ngôn ngữ giống nhau. Khi một ý nghĩ phát sanh, chúng ta hiểu nó, nhưng khi chúng ta diễn đạt ra thành lời, nó trở thành ngôn ngữ này hay ngôn ngữ nọ. Do đó chúng ta không thật sự thông hiểu lẫn nhau. Mặc dầu vậy, những cảm giác sâu kín trong lòng mỗi người đều như nhau. Giáo Pháp thích ứng với tâm một cách toàn hảo bởi vì Giáo Pháp không phải là ngôn ngữ của một dân tộc đặc biệt nào. Giáo Pháp là ngôn ngữ của tâm. Giáo Pháp cùng ở chung với tâm.
Thỏa thích và đau khổ cùng ở chung với tâm. Những hành động tạo thỏa thích và đau khổ trước tiên được suy tư và phát xuất từ trong tâm. Tâm là cái gì hay biết hậu quả của những suy tư ấy, phát hiện dưới hình thức thỏa thích hay đau khổ. Tâm phải gồng gánh hậu quả những suy tư của chính nó. Ðây là lý do tại sao tâm và Giáo Pháp tương ứng với nhau một cách toàn vẹn. Dầu ngôn ngữ và quốc tịch của ta là gì, tất cả chúng ta đều có thể thấu hiểu Giáo Pháp, bởi vì Giáo Pháp và tâm là một cặp, do bản tánh tự nhiên của nó.
Tâm là phần nòng cốt bên trong cơ thể, là phần chánh yếu, là cái cốt lõi, là thực chất, là tinh chất cơ bản bên trong thể xác. Nó là nền tảng. Những hiện tượng khởi phát từ trong tâm, như những tư tưởng khởi hiện rồi tan biến, hiện rồi biến, mãi mãi lặp đi và lặp lại. Nơi đây chúng ta đề cập đến tình trạng khuấy động của tâm. Khi tâm chao động, đó là một tư tưởng vừa mới được cấu tạo. Tưởng uẩn, vốn liên quan đến sự liên tưởng, hồi nhớ và nhận ra, được gọi là saññā (सञ्ञा). Những "tư tưởng dài" là saññā, tưởng uẩn. "Tư tưởng ngắn" là saṅkhāra (सङ्खार), hành uẩn. Nói cách khác, khi tư tưởng được cấu thành -- "blip" -- đó là hành uẩn, saṅkhāraSaññā, tưởng uẩn hàm xúc ý nghĩ nhận ra và đặt tên. Thức uẩn, viññā(विञ्ञाण), là sự ghi nhận mỗi khi có trần cảnh xuất hiện và tiếp xúc với giác quan, như khi có một hình thể (sắc trần) giao tiếp với mắt (nhãn căn) ắt có sự thấy (nhãn thức). Tất cả những hiện tượng này luôn luôn tự nó phát sanh rồi hoại diệt, và Ðức Phật gọi là khandha (खन्ध), uẩn. Mỗi "đống" hay "nhóm" được gọi là khandha, uẩn. Năm uẩn (pañca khandha - पञ्चखन्ध, ngũ uẩn) này luôn luôn khởi phát rồi tan biến, không ngừng sanh diệt. Chí đến chư vị A-La-Hán cũng cùng ở trong trường hợp như vậy, giống hệt như một người bình thường và bất cứ ở đâu. Chỉ có điểm khác là ngũ uẩn của các Ngài hoàn toàn trong sạch và đơn giản, không chứa chấp những ô nhiễm truyền lệnh cho các Ngài phải làm điều này hay suy tư điều nọ. Thay vì thế, ngũ uẩn của các Ngài tự do sinh hoạt theo bản chất giải thoát tự nhiên của nó mà không bị bắt buộc phải suy tưởng thế này thế nọ như tâm của người thường nói chung. Ðể so sánh, ngũ uẩn của người thường giống như tù nhân trong ngục thất, luôn luôn bị sai khiến. Những tư tưởng, những ghi nhận, những nhận định và những suy diễn khác nhau của người thường luôn luôn bị ra lệnh, luôn luôn bị một năng lực ngoại lai nào đó bắt buộc phải phát hiện, suy tư, nhận định và diễn dịch như thế này hay thế nọ. Nói cách khác, nó bị ô nhiễm làm chủ, chỉ đường dẫn lối, sai khiến, cưỡng bách nó phải phát hiện. Ngũ uẩn của chư vị A-La-Hán thì không phải vậy. Khi một tư tưởng cấu hợp, nó chỉ đơn giản cấu hợp. Một khi đã hợp thành, nó đơn giản tan biến. Không có một chủng tử để nuôi dưỡng nó tiếp tục, không có chủng tử đè nặng trên tâm, bởi vì không có gì cưỡng bách, bắt buộc nó phải như thế nào, không giống như ngũ uẩn mà bị ô nhiễm thống trị hay nằm dưới quyền lãnh đạo của nó. Ðó là điểm khác biệt.
Nhưng bản chất của ngũ uẩn vẫn như nhau. Tất cả các uẩn mà chúng ta đề cập trên đây đều vô thường (anicca - अनिच्च). Nói cách khác, trạng thái bất ổn định và luôn luôn biến đổi là một phần dính liền theo bản chất tự nhiên của nó, bắt đầu từ sắc uẩn, cơ thể chúng ta, và thọ uẩn, những cảm giác thỏa thích (thọ lạc), đau khổ (thọ khổ) và những cảm giác không thỏa thích không đau khổ (thọ vô ký). Các uẩn này phát sanh rồi hoại diệt, triền miên lặp đi lặp lại. Tưởng uẩn, saññā, hành uẩn, saṅkhāra, và thức uẩn, viññāa, cũng ở trong trạng thái luôn luôn sanh diệt, vốn là một phần dính liền với bản chất tự nhiên của nó.
Nhưng sự hay biết thật sự -- vốn hợp thành nền tảng kiến thức của chúng ta về những sự vật khác nhau không ngừng sanh diệt -- thì không tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể khởi sanh. Như vậy, một cái tâm mà đã được thanh lọc đầy đủ không còn vấn đề phiền phức nào liên hệ đến hiện tượng sanh và tử của thân và các uẩn; và như vậy không còn sanh nữa, ở đây hay ở đâu khác, không còn phát hiện trong những hình thể thô thiển như một cá nhân, hay một chúng sanh bởi vì tâm đã hoàn toàn trong sạch. Nhưng còn những người mà tâm chưa được thanh lọc: Họ là những người còn ở trong sanh và tử triền miên, những người luôn luôn để mắt trông chừng nghĩa địa, và tất cả chỉ vì cái tâm không chết.
Vì lẽ ấy Ðức Thế Tôn ban truyền giáo huấn cho thế gian, đặc biệt là thế giới loài người, vì con người hiểu biết điều phải lẽ trái, biết điều nào là thiện và điều nào là bất thiện; biết bảo tồn nuôi dưỡng cái này và sửa sai chữa trị cái kia; thông hiểu ngôn ngữ của Giáo Pháp mà Ngài giảng dạy. Vì lẽ ấy Ngài dạy thế gian loài người vượt lên trên và vượt ra ngoài các thế gian khác. Ngài dạy để chúng ta có thể cố gắng chữa trị, sửa sai những gì gây thiệt hại và tổn thương, tách rời nó ra khỏi hành động, lời nói và tư tưởng, để chúng ta có thể gia công nuôi dưỡng và bảo tồn những gì tốt đẹp đã sẵn có và tạo duyên, làm khởi phát những thiện pháp mà ta chưa có. Ngài dạy chúng ta dưỡng nuôi và phát triển những thiện pháp sẵn có để cung ứng chất dinh dưỡng cho tâm, làm cho tâm tươi tỉnh và an lành, nâng đỡ cho nó ở một mức độ đức hạnh khả quan, trau giồi thiện pháp, để khi tách rời khỏi thân xác hiện tại này và hướng về bất luận nơi nào hoặc cảnh giới nào cái tâm mà đã được dưỡng nuôi trong thiện pháp sẽ là một cái tâm tốt. Bất luận nơi nào mà nó đến nó sẽ đến một cách tốt đẹp. Bất luận ở nơi đâu mà nó được tái sanh vào nó sẽ tái sanh an lành. Bất luận sống ở cảnh giới nào, đó là cảnh giới nhàn lạc. Nó sẽ tiếp tục chứng nghiệm trạng thái an vui hạnh phúc cho đến khi tích tụ đầy đủ khả năng, tiềm lực và phước báo để vượt qua khỏi thế gian và chứng ngộ giải thoát.
Khả năng, tiềm lực và phước báo phải được tuần tự trau giồi và phát triển từ quá khứ đến hiện tại. Hôm qua là quá khứ của ngày hôm nay, hôm nay là vị lai của ngày hôm qua, mỗi ngày trong tất cả những ngày quá khứ và hiện tại ấy ta phải gia công dưỡng nuôi và phát triển thiện pháp, tuần tự từng bước tiến cho đến khi, nhờ sự hỗ trợ của thiện pháp, tâm vững chắc dũng mãnh để vượt thoát ra khỏi thế gian. Một cái tâm như thế ấy không còn tái sanh nữa, dầu sanh vào cảnh giới nhàn lạc và vi tế nhất của chúng sanh, vốn còn tiềm tàng dấu vết của thực tại quy ước (sammuti - सम्मुति) -- đó là sanh và chết như chúng ta. Một cái tâm như thế ấy đã vượt ra khỏi những hiện tượng sanh và tử tương tợ. Ðó là tâm của chư Phật và chư vị A-La-Hán. Tích chuyện Ðại Ðức Vangisa cho ta một ý niệm về vấn đề này. Khi còn tại gia cư sĩ, Ðại Ðức Vangisa có biệt tài là biết được vong linh của một người chết đã tái sanh vào cảnh giới nào, dầu người ấy là ai. Ta không thể nói ông là một phù thủy hay một thầy bói. Thật sự ông là một đại sư nắm vững vấn đề tâm lý. Khi có người chết ông lấy sọ của người ấy và gõ trên đó -- cốc! cốc! cốc! -- rồi tập trung tư tưởng... và biết rõ người này tái sanh về đâu. Nếu người chết tái sanh vào địa ngục, hay cảnh Trời, làm thú hay làm ngạ quỷ ông ta có thể nói liền mọi trường hợp không chút do dự. Ông chỉ cần gõ trên cái sọ của người ấy. Khi nghe bạn bè mách bảo rằng Ðức Phật còn tài giỏi hơn gấp mấy lần như thế ấy thì ông muốn mở rộng kiến thức, đến hầu Phật xin thọ giáo để học hỏi thêm về khoa này. Khi đến nơi, Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A-La-Hán để ông gõ thử, "Ðược rồi! Để xem ông thiện nam có thể nói người này đã tái sanh về đâu không". Ðại Ðức Vangisa gõ vào cái sọ và lắng tai nghe. Im lặng. Ông gõ nữa và lắng nghe. Im lặng. Ông ngừng lại, suy gẫm. Im lặng. Ông tập trung tâm lực. Im lặng. Ông không thể tìm thấy chủ của cái sọ đã tái sanh về đâu. Hết phương, ông thành thật nhìn nhận rằng mình không thể biết người chết này tái sanh về đâu. Lúc ban đầu vị cư sĩ mà sau này là Ðại Ðức Vangisa nghĩ rằng mình tài giỏi, thông minh và đã tinh thông lão luyện trong nghề nên có ý định đến so tài với Ðức Phật rồi mới xin thọ giáo. Nhưng khi đến nơi, Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A-La-Hán để gõ -- và ngay tại đây ông thảm bại. Giờ đây thật sự ông muốn xin học thêm, nghĩ rằng sau khi gia công tu luyện ông sẽ còn tài giỏi hơn trong hiện tại nhiều -- quả thật đặc biệt! Sự việc đã xảy ra như vậy, ông xin theo học với Ðức Phật. Và Ðức Phật dạy ông khoa học. Ngài dạy ông một phương pháp -- nói cách khác, Ngài dạy ông khoa học của Giáo Pháp. Ðại Ðức Vangisa thực hành và gia công thực hành cho đến khi cuối cùng, đắc Quả A-La-Hán. Từ đó Ðại Ðức không còn hứng thú gõ vào sọ ai nữa, ngoại trừ "cái sọ của chính mình". Một khi đã thấu rõ ràng thì vấn đề tự nhiên chấm dứt. Ðiều này gọi là "gõ đúng vào cái sọ".
Lần nọ, Ðức Phật có nêu lên vấn đề cái tâm mà không còn tái sanh -- đầu lâu của người mà tâm đã được thanh lọc hoàn toàn. Dầu Ðại Ðức Vangisa có gõ vào đó bao nhiêu lần và dầu Ngài đã tinh thông lão luyện về khoa này đến đâu cũng không thể biết được cái tâm ấy tái sanh về đâu, bởi vì nơi chốn mà tâm hoàn toàn trong sạch tái sanh vào, quả thật không thể tìm biết. Trường hợp của Ðại Ðức Godhika cũng vậy: Câu chuyện này có thể là thức ăn tinh thần rất bổ ích. Ðại Ðức Godhika hành thiền, tiến bộ dần dần từng bậc, nhưng rồi bị trở ngại, thụt lùi. Tích chuyện thuật rằng Ngài thoái bộ sáu lần như vậy. Sau khi thất bại lần thứ bảy, vì tinh thần quá suy sụp, Ngài dùng dao tự khứa cổ mình, nhưng không chết. Lúc tỉnh lại Ngài quán chiếu Giáo Pháp và đắc Quả A-La-Hán vào khoảnh khắc cuối cùng. Vắn tắt, đó là câu chuyện. Khi Ngài tịch diệt, đạo quân của Ma Vương kéo nhau đi tìm hương linh của Ngài. Nói một cách đơn giản, chúng quậy trời khuấy nước để tìm biết Ngài tái sanh về đâu, nhưng không thể được. Lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn mở lời, "Dầu có đào xới, tìm tòi hay tra hỏi thế nào đi nữa bọn ngươi sẽ không thể tìm ra hương linh của Godhika, con Như Lai, vốn đã viên mãn hoàn thành nhiệm vụ. Dầu có lật ngược, làm đảo lộn thế gian đi nữa cũng chỉ thế mà thôi, bởi vì điều ấy đã vượt ra ngoài phạm vi của thực tại quy ước". Làm sao Ma Vương tâm xấu ác và đạo binh của Ma Vương có thể tìm được? Làm thế nào khả năng của người còn ô nhiễm trong tâm có thể hiểu biết được tâm lực đã đoạn tận ô nhiễm của một vị A-La-Hán? Không thể được!
Trong phạm vi quy ước của người thế gian không ai có thể theo dõi con đường mà tâm của một vị A-La-Hán trải qua, bởi vì tâm của vị A-La-Hán đã vượt qua khỏi thế gian quy ước, mặc dầu vẫn giống như của chúng ta vị đó cũng sống trong thế giới quy ước. Hãy suy gẫm về điểm này: Dầu cái tâm chao động và chậm tiến của ta có sao đi nữa, khi đã thanh lọc tuần tự, liên tục, không ngừng, không gián đoạn, một cách kiên trì không thối chuyển, nó cũng sẽ dần dần đến vi tế cùng tột. Ðến chừng đó chính trạng thái vi tế cũng sẽ tan biến -- bởi vì trạng thái vi tế cũng là thực tại quy ước -- chỉ còn lại bản chất vàng ròng thuần túy, bản chất uyên nguyên của Giáo Pháp, gọi đó là tâm thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch. Chừng đó chính chúng ta cũng sẽ không còn vấn đề khó khăn nào nữa, như các vị A-La-Hán, bởi vì tâm của chúng ta đã trở thành siêu tuyệt, giống như tâm của những vị đã thành đạt giải thoát.
Tất cả tâm cùng loại ấy đều giống nhau, không có sự phân biệt nào chia cách nam và nữ. Nam tính hay nữ tính chỉ là vấn đề quy ước của thế gian. Ðối với tâm không có sự phân chia giữa nam và nữ, và tất cả, dầu là quý ông hay quý bà, đều có khả năng giống nhau để thực hành Giáo Pháp. Cả hai phái, nam và nữ, đều có khả năng thành đạt những tầng Thánh Quả khác nhau, dài dài suốt Con Ðường, cho đến mức giải thoát. Trong lãnh vực này không có hạn định nào cho bất cứ ai. Tất cả những gì cần thiết chỉ là phát triển đầy đủ năng lực và tiềm năng. Rồi tất cả mọi chúng ta đều có thể vượt sang bờ bên kia.
Vì lẽ ấy chúng ta nên tận lực rèn luyện tâm và trí. Tối thiểu đi nữa chúng ta cũng nên đạt đến tình trạng tĩnh lặng và an lạc, với bất luận đề mục hành thiền (hay công án) nào có thể ru dỗ tâm vào trạng thái vắng lặng, và từ vắng lặng phát sanh an lạc thanh bình và thoải mái bên trong. Thí dụ như pháp niệm hơi thở, vốn là đề mục rất phổ thông trong giới hành giả, hình như thích hợp với nhiều người hơn các đề mục khác. Nhưng dầu bất cứ đề mục nào, hãy lấy đó làm nguyên tắc căn bản, làm nơi ẩn trú, làm chỗ nương tựa cho tâm. Hãy áp dụng nó vào pháp hành để rèn luyện, làm cho tâm ngơi nghỉ và an lạc.
Khi tâm bắt đầu lắng đọng, chúng ta sẽ khởi sự nhìn thấy bản chất chánh yếu và giá trị của nó. Chúng ta sẽ bắt đầu nhận thức tâm là gì và tâm là thế nào. Nói cách khác, khi tất cả những thành phần của tâm tập trung lại và tụ hội vào một điểm duy nhất như chỉ đơn giản là sự hay biết bên trong nó thì đó được gọi là "tâm" (citta). Trạng thái gom tâm xảy diễn ở nhiều tầng lớp khác nhau, tương ứng với khả năng và những mức độ vi tế khác nhau. Cho dù tâm còn ở mức độ thô thiển đi nữa ta cũng có thể hiểu biết khi nó tụ hội lại bên trong. Khi tâm trở nên ngày càng vi tế hơn chúng ta sẽ hiểu biết trạng thái vi tế của nó -- "Tâm này thật là vi tế... Tâm này quả thật sáng ngời... Tâm này vô cùng tĩnh lặng... Tâm này thật vô cùng kỳ diệu" -- càng ngày càng thêm lên, tiến từng bước một, cũng chính cái tâm này!
Trong khi gội rửa và rèn luyện tâm nhằm đạt đến trạng thái vắng lặng, trong khi, với trí tuệ (paññā - पञ्ञा), quán chiếu, nhìn vào và giải quyết những vấn đề khó khăn của tâm -- vốn là phương cách làm cho tâm tiến triển hay làm cho ta có khả năng thấu đạt thực tướng của tâm, từng bước một, bằng những phương tiện đề cập ở trên -- dầu tâm còn thô thiển thế nào, không nên lo ngại. Nếu chúng ta thật sự tinh tấn và chúng ta liên tục kiên trì, với cái vốn kiên trì nỗ lực chuyên cần ấy, trạng thái thô thiển sẽ dần dần phai mờ và tan biến. Trạng thái tâm vi tế sẽ dần dần phát hiện, do nhờ công phu thực hành và đức kiên trì tinh tấn của ta, chí đến khi chúng ta có đủ khả năng vượt qua khỏi bờ mê và thành tựu giải thoát bằng cách phá vỡ, đập tan nhiễm ô ra từng mảnh vụn. Ðây là điều chắc thật cho tất cả, nam cũng như nữ.
Tuy nhiên, trong khi ta chưa đạt đến mức độ có khả năng làm được như vậy, chớ nên lo ngại. Tất cả những gì cần làm trong hiện tại là phải giữ cái tâm trong khuôn khổ kỷ cương để nó có thể là nơi ẩn trú, là chỗ nương tựa cho chính nó. Còn thân này, chúng ta đã nương nhờ nơi nó từ thủa mới ra đời. Ai cũng biết như vậy. Chúng ta đã làm cho nó sống, nằm, ngồi, đi tiểu tiện, đại tiện, làm việc, sinh sống. Ta đã sử dụng nó và nó đã sử dụng chúng ta. Ta đã sai khiến nó và nó truyền lệnh điều khiển chúng ta. Thí dụ như chúng ta bắt nó làm việc và nó làm cho chúng ta đau khổ, đau chỗ này, nhức nơi nọ, và chúng ta phải tìm thuốc để chữa trị cho nó. Nó là người bị đau và nó là người đi tìm thuốc. Cũng nó là người giúp phương tiện. Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, chúng ta tự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Khó mà nói rõ là ai chịu trách nhiệm, thân này hay ta. Ðôi lúc chúng ta sai khiến nó, nhưng luôn luôn nó điều khiển ta. Bệnh hoạn, đói, khát, buồn ngủ: Tất cả chỉ là một khối đau khổ và phiền lụy trong đó cơ thể này không ngừng sai khiến chúng ta, và nó sai khiến từ mọi phía. Ta chỉ có thể điều khiển nó được đôi chút. Do đó, khi thời cơ đến, đúng lúc ta có thể điều khiển, "hãy bắt nó hành thiền".
Vậy, hãy bắt tay vào việc. Ngày giờ nào mà cơ thể này còn sinh hoạt bình thường, dầu công việc có bề bộn hay nặng nhọc đến đâu, hãy tiến hành ngay. Nhưng khi thân không thể hoạt động bình thường như lúc bịnh hoạn, ta cần phải để ý xem nó có thể làm việc được đến đâu.
Còn cái tâm thì khác, hãy tiếp tục kiên trì tinh tấn, hãy nỗ lực không thối chuyển, bởi vì đó là nhiệm vụ chánh yếu của quý vị.
Từ thủa nào, đã quá lâu rồi, quý vị sống tùy thuộc nơi thân. Giờ đây nó đã hao mòn suy nhược, hãy hiểu biết rằng thân của quý vị đã mỏi mòn yếu kém -- phần nào còn có thể hoạt động, phần nào đã hết khả năng sinh hoạt. Quý vị là người gánh chịu trách nhiệm. Quý vị hoàn toàn hiểu biết như vậy. Chính quý vị phải tự lo liệu và châm chước để giữ thăng bằng.
Nhưng cái tâm thì không cùng bệnh hoạn với thân. Tâm phải gia tăng cố gắng để tránh khỏi việc lỡ mất cơ hội thọ lãnh những lợi ích mà thân có thể tạo cho. Hãy nâng cao mức độ của tâm và khép nó vào khuôn khổ kỷ cương -- kỷ cương trong cuộc sống, kỷ cương lúc lìa đời. Bất luận nơi nào mà nó tái sanh vào, hãy làm cho nó nằm trong khuôn khổ mẫu mực, ở mức độ đạo đức thanh cao. Cái mà được gọi là phước báo (puñña - पुञ्ञ) không bao giờ phản bội niềm hy vọng và lòng trông đợi của quý vị. Phước báo lúc nào cũng sẽ cung cấp cho quý vị những hoàn cảnh thuận lợi đúng theo nghiệp lành tích trử và những tình trạng an vui hạnh phúc mà toàn thể thế gian đều ham muốn và không ai cho là quá đủ. Nói cách khác, điều mà thế gian hằng mong mỏi muốn được là tình trạng an lành, bất cứ loại an lành nào, và đặc biệt là trạng thái tâm an lành, phát sanh dần dần từng giai đoạn nhờ vào những nghiệp lành cao thượng và tốt đẹp.
Ðó là tình trạng an lành hợp thành phần nòng cốt hay tinh chất chánh yếu rất quan trọng bên trong tâm. Ta phải kiên trì nỗ lực trong khi thân này còn hoạt động, bởi vì khi kiếp sống đã đến mức tận cùng thì không thể làm gì được. Dầu có thành tựu được nhiều hay ít ta phải chấm dứt tại thời điểm này. Chúng ta ngưng công việc, gác qua một bên, rồi gặt hái phần thưởng của việc làm -- trong kiếp hiện tại này hay trong một kiếp tới. Bất luận gì có thể làm, hãy làm ngay trong hiện tại. Nếu ta có thể vượt qua và thành đạt giải thoát, đó là mức cùng tột của tất cả những vấn đề khó khăn. Sẽ không còn gì lôi cuốn ta vào phiền lụy.
Nơi đây chúng ta đề cập đến tâm vì tâm là vấn đề căn bản sơ khởi. Chúng ta ra đi an lành hay không, hạnh phúc hay đau khổ tất cả đều chỉ do nơi tâm.
Cái mà người ta gọi là nghiệp bất thiện (akusala kamma - अकुसलकम्म) cũng nằm bên trong tâm và do nơi tâm tạo nên. Dầu ta còn nhớ nó không, hột giống đã gieo -- đã nằm bên trong tâm -- không thể ngăn cản nó trổ quả, bởi vì nó đã đâm chồi mọc rễ trong tâm. Chúng ta phải chấp nhận cái nghiệp của mình. Không nên chạy tội. Một khi đã tạo nghiệp thì nghiệp đã được tạo rồi, làm cách nào có thể chối cãi? Bàn tay đã viết ra chữ, vậy chính bàn tay phải bôi (tẩy) những chữ đã viết. Chúng ta phải chấp nhận theo đúng tinh thần thể thao ngay thẳng trung thực (FairPlay). Ðó là đường lối tự nhiên. Ðối với nghiệp báo nó là vậy, cho đến khi chúng ta thành đạt giải thoát -- chừng đó mọi vấn đề khó khăn sẽ chấm dứt.


Bác Phạm Kim Khánh dịch sang tiếng Việt từ các bài giảng của Venerable Ācariya Mahā Boowa Ñāṇasampanno. Bản tiếng Anh: Straight from the Heart: Thirteen Talks on the Practice of Meditation, Thanissaro Bhikkhu dịch từ tiếng Thái.

Sunday, March 25, 2012

How type in Devanāgarī

The Devanāgarī-QWERTY keyboard layout is designed to ease the process of typing in the Devanāgarī script for those using Roman-alphabet. Wherever possible, Devanāgarī letters are mapped to similar Roman-alphabet keys. The layout is quite simple and consisent, with only a few exceptions.
Consonants:
* Most keystrokes type a single full syllable (with inherent "a" vowel):
    t = त | d = द | n = न | s = स
* The Shift-key usually imply aspiration, or alternate nasals/sibilants:
    T = थ | D = ध | N = ण | S = श
* The AltGr-key(⌥) (Option in Mac OS, Ctrl+Alt or Right-Alt in Windows) allows access to Retroflex consonants, as well as additional nasals/sibilants. Again, adding the Shift-key usually implies aspiration or alternate nasals/sibilants:
    (AltGr-key) t = ट | D = ढ | ñ = ञ | S = ष
Vowels:
* Vowel keys typically represent post-consonantal forms. The Shift-key allows access to long forms:
    t + i = त + ि = ति | d + I = द + ी = दी
* The AltGr-key(⌥) (Option in Mac OS, Ctrl+Alt or Right-Alt in Windows) allows access to full vowel forms:
    (AltGr-key) a = अ | A = आ | e = ए | E = ऐ
Special Characters, Conjuncts, and Shortcuts:
* Common characters like the Anusvara, Visarga, Virama, Avagraha, and Danda can be accessed using the following keys:
    M = ं | H = ः | f = ् | (AltGr-key) ' = ऽ
    . = । | (AltGr-key) >   = ॥
* Consonantal Conjuncts can be formed by placing a Virama in between each consonant in the conjunct:
    t + f + v = त + ् + व = त्व
* Several common letters and conjuncts can be accessed through shortcuts:
    x = ष | X = क्ष | (AltGr-key) s = श्र | (AltGr-key) j = ज्ञ
Roman Letters:
Should you need quick access, the Caps Lock key will allow you to type in the Roman alphabet. Pressing Shift while Caps Lock is active will allow you to type in Roman capitals.

Tuesday, March 20, 2012

MỘT CẢM NHẬN TỪ BÀI KỆ CỦA THIỀN SƯ ĐẠO NGUYÊN

“Thầy là đỉnh núi đá cô liêu ngàn đời tịch mặc,
Trò là con sông dài cuồn cuộn bỏ núi ra khơi.
Còn đây áo cũ ngậm ngùi
Còn đây biển núi nụ cười an nhiên”.

Những viên ngọc ma-ni lấp lánh ẩn mình trên chiếc áo cũ, nó được điểm xuyết bởi một Du Tăng. Vị Du Tăng ấy không ai khác hơn là Ô Chu, đệ tử đầu tiên của Thiền sư Đạo Nguyên thời Kiếm Thương (Kamukara), trong khoảng thế kỷ XI-XII ở Nhật Bản.

Câu chuyện bắt đầu từ một chiếc áo, kỷ vật đơn sơ mộc mạc mà Thiền sư Đạo Nguyên trao cho học trò mình trước lúc ra đi tìm về chân lý. Buổi từ giã hôm đó là một buổi mờ sương, Lão thiền sư ân cần trao cho đệ tử một chiếc áo cũ: “Thầy không có gì để kỷ niệm trước lúc con đi. Đây là chiếc áo năm xưa thầy cho, con bỏ đi, nay thầy khâu vá lại. Con đừng quên nó nhé!”.

Thế rồi, con đường du tăng học đạo của chàng trai ấy dường như không dừng nghỉ. Nghe đâu, chàng nhiều lần bỏ áo, băng rừng, vượt biển để cầu học với các Pháp sư, Thiền sư người Trung Hoa, Miến Điện, Tích Lan và cả Đại Hàn. Chàng đâu biết mỏi mệt, lại ra đi, lại lên đường, con đường nhiêu khê vô định, trên vai vẫn gói hành lý giản đơn: “Bạch thầy ạ ! Con chưa thể dừng chân được. Sinh tử là định mệnh hối thúc không rời. Tri thức con phóng vọt tới đằng trước như một con ngựa bất kham. Nó không cần biết vực thẳm hay thảo nguyên, quê xưa hay đất trích. Bạch thầy ạ, tuy thế còn có chiếc áo cũ của thầy, giáo huấn, nhắc nhở con mỗi khi lầm lỡ. Nó vẫn còn đây. Nó vẫn còn đây”.

Nỗi khát khao cháy bỏng xuất phát từ trái tim vì đạo yêu đời của chàng khiến việc học lẫn việc hành thiền trở thành nỗi đam mê vô hạn. Nơi thiền phòng bao giờ chàng cũng là người đến trước mà ra sau. Rồi chàng lại tiếp tục ra đi, một mình chênh vênh trên núi đá ở vùng Tây bắc Akita, ăn rau, trái cây, sống đời khổ hạnh. Từ giã núi khổ hạnh, chàng về Đông Kinh đăng đàn thuyết pháp. Người người bàng hoàng trước sự thu hút mạnh mẽ của chàng. Chàng rống tiếng Sư tử trước mười ngàn thính chúng cử tọa bao gồm môn sinh và tăng lữ các Tu viện, Thiền viện, Phật học viện … Tiếng tăm về chàng lan rộng khắp nơi và được mọi người kính trọng. Cùng lúc, chàng mất tích.

Giã từ tông phái Nhật Liên của Nhật Liên thượng nhân (Nichiren shonin), thì mái tóc đã điểm bạc, chàng quay lưng về ngọn núi Phú Sĩ bạc đầu, xuyên qua mấy rừng hoa anh đào trở về miền xuôi …

- Bạch thầy ạ, đây là chiếc áo cũ năm xưa, bây giờ con muốn mặc lại, xin thầy cho phép.

Giọng chàng như lạt hẳn đi.

Đôi mắt Lão thiền sư rướm lệ. Có lẽ, đó là những hạt nước mắt đầu tiên và cuối cùng.

- Con nói gì nữa không Ô Chu ! Tóc con bắt đầu đã điểm muối sương rồi.

- Dạ ! ! !

Im lặng.

Tiếng chim vành khuyên hòa nhẹ vào không gian tĩnh lặng, một vài chiếc lá vàng nhạt lạnh mình trên phiến đá, Ô Chu bước vào thiền viện như buổi ban đầu, buổi ban đầu của tân môn sinh đầy vất vả, cực nhọc. Mọi người nhìn Ô Chu nhỏ bé lắm, tầm thường lắm. Bởi lẽ, chữ Phật, chữ Pháp còn không biết thì làm gì, chỉ còn một cách là chấp lao phục dịch.

Ô Chu miệt mài với công việc. Trên người Ô Chu vẫn mặc chiếc áo cũ, chiếc áo đồng hành đã giúp chàng vượt qua biết bao thử thách. Chiếc áo của hạnh nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn,… mà mắt thường không sao thấy được. Những lúc gặp phải chướng duyên nghịch cảnh, Ô Chu mỉm cười với chính mình, mỉm cười với chiếc áo – một nụ cười hoan hỷ.

Đêm về, một màu đen lan tỏa cả không gian thiền viện, tiếng chuông Bát nhã bỗng vang lên dồn dập… 

Thầy vừa tịch.

 . . .

Ô Chu lặng lẽ luồn mình qua các vòm cây, đến quỳ trước tháp thầy, giã từ thiền viện, âm thầm cô liêu hơn cả kẻ từ giã cuộc đời. Chàng đến một động đá trịnh trọng khoát chiếc áo cũ lên người rồi an nhiên thị tịch. Qua ánh sáng mờ từ cửa động hắt vào, người ta thấy được từ trên chiếc áo ấy những dòng chữ chân phương sắc sảo của Lão thiền sư quá cố:

“Y pháp bất y nhân
Y nhân bất y pháp
Nhân pháp liễu mật thâm
Mạc cầu phi thủ trước”.

(Thiền tông đời thứ hai, kiếm thương hưng khởi, Đạo Nguyên Tỳ-kheo; phụng truyền đệ tử trưởng đắc pháp đời thứ ba là Ô Chu).

Pháp, nhân đã cùng tịch diệt với nhau trong động đá. Cỏ cây thản nhiên cùng trời đất, nhịp của đá trổi lên thanh âm vi diệu, nó sống mãi trong lòng nhân sinh.

(Lược truyện Chiếc Áo Cũ ).

P/s:

Bài kệ mà Pháp huynh tình cờ đọc lên nửa dẫn chứng nửa nhắc nhở tôi sau bao vấn đề và sự cố dồn dập trong đời và đạo đầu năm Nhâm Thìn - 2012:
“Y pháp bất y nhân
Y nhân bất y pháp
Nhân pháp liễu mật thâm
Mạc cầu phi thủ trước”. (Thiền sư Đạo Nguyên)

Ngày trước, tôi là người “Y Pháp bất y nhân”. Ngày nay tôi gần như “Y Nhân bất y Pháp”. Như thế đã đủ chưa? Gặp lúc Pháp bất chợt đến hành hạ cho mới bật ngửa ra. Trẻ con lúc đang tập đứng tập đi sau bao vấp ngã phải cẩn thận hơn và biết khôn lên mới trưởng thành được. Chắc người tu phải tiến đến mức thâm sâu hơn, phải hiểu rõ người và Pháp như thực, tức “Nhân Pháp liễu mật thâm”, thì còn chi nữa để mong cầu và chấp thủ. Bản ngã khô héo dần và Sự nghi ngờ ngày càng được khắc phục, Trí Minh Sát ngày càng sáng tỏ. Thật đúng Pháp là người thầy vĩ đại, Bậc Chánh Đẳng Giác là người đầu tiên chỉ ra cho chúng sanh sau bao thiên thu mộng mị vì đắm chìm trong phiền não, thiền sư Đạo Nguyên đúc kết thành bài kệ đầy ý nghĩa và thực tế, hàng hậu thế như tôi chỉ lấy đó làm kim chỉ nam trong bước đường tu tập Đạo Giải thoát Giác ngộ của mình.

Tuesday, February 21, 2012

NGÔN NGỮ PALI LÀ MẸ ĐẺ CỦA NGÔN NGỮ SANSKRIT?

Nguyên tác: Pali is mother of Sanskrit.
Tác giả: HaBir Angar Ee.
Dịch giả: Hữu Minh.

CHƯƠNG I.
NHỮNG BÍ ẨN NƠI TIẾNG SANSKRIT.

Vấn đề ngôn ngữ tại Ấn Độ là một bài toán khó giải quan trọng và khẩn trương, vì đã từ lâu trong quá khứ vấn đề này đã ảnh hưởng to lớn đến sự phát triển giáo dục, xã hội và chính trị cho toàn quốc gia. Một số ngôn ngữ được chăm sóc kỹ lưỡng theo quan điểm nghiên cứu học thuật, làm phương tiện giảng dạy và nghiên cứu. Còn một số lớn các ngôn ngữ khác hầu hết đều không được quan tâm và thậm chí còn bị khinh miệt và phải chịu nhiều giới hạn và chỉ được sử dụng làm phương tiện truyền thông mà thôi. Không chỉ các nhà trí thức nhưng rất nhiều các nhà tư duy ngôn ngữ cũng không nhận ra vai trò tích cực và ảnh hưởng của nhiều ngôn ngữ khác nhau tại Ấn Độ trong qui trình các cuộc cách mạng và phản cách mạng xã hội, tôn giáo, chính trị và văn hóa hiện tại và tương lai.
Tiếng Pali, tiếng Sanskrit và tiếng Prakrit là những ngôn ngữ cổ điển chính tại Ấn Độ. Tiếng Pali và Prakrit không được cư dân Ấn Độ biết đến cho đến thời kỳ người Anh có mặt tại Ấn Độ, vì tiếng Pali đã bị xóa sổ hoàn toàn khỏi lãnh thổ Ấn Độ, còn tiếng Prakrit lại phải bị rập khuôn với nhiều ngôn ngữ địa phương khác. Dân Ấn Độ đã lãng quên hoàn toàn tiếng Pali. Họ chỉ còn biết đến tiếng Sanskrit (Sankrit) vì hai lý do đối nghịch nhau, một là ngôn ngữ chư vị Bà là môn nhất quyết phải duy trì hiện hữu và truyền bá sâu rộng trong dân, để họ có thể duy trì được địa vị cao nhất trong Xã Hội Ấn Độ, và hai là ngược lại ngôn ngữ này nhất quyết phải được loại bỏ hoàn toàn khỏi cộng đồng những người Shudra (đẳng cấp nô bộc tại xã hội Ấn Độ) bao gồm phần lớn dân chúng Ấn Độ, để kìm hãm họ trong hiện trạng thấp nhất trong xã hội Ấn Độ.
Vì Xã hội Ấn Độ được chia thành nhiều đẳng cấp phụ, các cộng đồng dân chúng, các tôn giáo khác nhau. Ngôn ngữ cũng được chia thành một số lớn ngôn ngữ phù hợp với từng đẳng cấp, từng cộng đồng và từng tôn giáo khác nhau
Kể từ thế kỷ mười tám trở về trước, những cuộc nghiên cứu lịch sử và những khai quật khảo cổ học, thường chủ yếu do người Anh thực hiện, đã chứng thực một thực tế là tiếng Pali và tiếng Prakrit cũng là những ngôn ngữ cổ đại. Cho dù cả hai ngôn ngữ này cũng được hoàn toàn chấp nhận như là các ngôn ngữ cổ đại tại Ấn Độ. Tiếng Pali & Prakrit đã hoàn toàn bị chôn vùi trong lịch sử và khảo cổ học trong một thời gian dài. Cả hai ngôn ngữ đã và đang không được chấp nhận vì cả hai ngôn ngữ này chưa bao giờ được coi như là di sản xã hội và văn hóa của Ấn Độ cả. Chính vì thế hiện nay vẫn còn tồn tại một niềm tin mãnh liệt nơi não trạng của người dân là ngôn ngữ Sanskrit (Sanskrit) mới là một ngôn ngữ cổ đại của Ấn Độ, mà toàn bộ nền văn hoá và văn chương Ấn Độ tuỳ thuộc vào; và Tiếng Pali & Prakrit, là thứ bị khai trừ đã bị loại bỏ và không được chấp nhận giống như hạng người cùng đinh và đẳng cấp Shudras vậy.      
Vì lý do gì mà tín điều này không được đụng chạm tới trong toàn bộ giai đoạn dưới thời cai trị của Đạo Hồi và những ngày khởi đầu người Anh Thống trị Ấn Độ? Đây là lý do: (i) Dưới thời Hồi giáo thống trị đất nước Ấn Độ. Những người theo đạo Hồi không quan tâm đến ngôn ngữ, văn chương và văn hóa Ấn Độ; vì mục tiêu của họ chỉ là triệt phá hay cải đạo những người theo đạo Hindu và Phật Giáo trở lại đạo Hồi vì thánh Allah mà thôi. (ii) Người Anh lại có tầm nhìn hoàn toàn khác với người theo đạo Hồi. Họ chỉ quan tâm đến việc tận dụng được nguồn triết lý văn chương và văn hóa Ấn Độ lúc bấy giờ đang bị coi thường một cách khủng khiếp khắp nơi chỉ có ngôn ngữ tiếng Sanskrit mà thôi; chính vì thế họ lại dễ dàng trở thành món mồi ngon cho cùng những quan điểm giáo điều truyền thống của người Bà la môn.            
Do thiếu hiểu biết, am tường và các nguồn đầy đủ. Các vị trí thức người Anh, ngay lúc đầu đã dựng lại từng mảng và toàn bộ nền văn chương cổ đại Ấn Độ dựa vào tên tuổi ngôn ngữ Tiếng Sanskrit (Sankrit), thay vì phân biệt rạch ròi được là thừa kế của ngôn ngữ khác biệt và trung thực, như tiếng Pali và tiếng Prakrit chẳng hạn v.v….
Chỉ sau khi các nhà trí thức người Anh nghiên cứu kỹ lưỡng những phát hiện lịch sử và khảo cổ học; họ mới thay đổi những hành động đánh giá cổ lỗ xĩ và những quan điểm phi lô gíc của họ. Nhưng họ không gặp thuận lợi để tạo ra những thay đổi cần thiết đủ trong lãnh vực triết lý, văn hóa và ngôn ngữ dưới thời họ còn cai trị Ấn Độ. Tuy nhiên họ đã là những người đầu tiên và duy nhất đã tìm hiểu, điều tra những kho tàng châu báu văn hoá Pali đã tích luỹ được và đã bị hoàn toàn lãng quên và khiến cho người Ấn Độ tiếp cận được với gia tài quí báu nhất tại Ấn Độ và Á Châu này.
Ngày nay, các vị học giả và các vị ngôn ngữ học Bà la môn đang gieo rắc ngoài cái giáo điều truyền thống cho rằng Tiếng Sanskrit (Sankhrit) là mẹ sanh ra toàn bộ các ngôn ngữ hiện hữu tại Ấn Độ cũng như một niềm tin cho rằng tiếng Pali & Prakrit cũng chỉ là hậu duệ của Tiếng Sanskrit (Sankhrit) mà thôi. Họ không dừng lại ở đây, nhưng còn đi xa hơn bằng cách chứng minh toàn bộ ngôn ngữ trên thế giới này đều xuất phát từ Tiếng Sanskrit (Sanskrit). Thái độ Bà la môn này nhằm tuyên truyền ích kỷ đến như vậy đang tạo ra biết bao nhiêu điều lộn xộn và dẫn đến một điều bối rối về Tiếng Sanskrit (Sanskrit) bằng cách tự gánh cho mình những mất mát to lớn gây ra cho tiếng Pali & Prakrit cho cả tiếng Urdu và tiếng Anh v.v….
Ngày nay lý thuyết tiến hóa được chấp nhận trên toàn thế giới trong việc nghiên cứu nguồn gốc từng ngôn ngữ. Lý thuyết này được chấp nhận và áp dụng với toàn bộ các ngôn ngữ hiện đaị cũng như cổ đại. Liên quan đến tiếng Pali &Prakrit toàn bộ các nhà tư tưởng Ấn Độ cũng như nước ngoài đã chấp nhận cùng một lý thuyết đó. Về nguồn gốc Tiếng Sanskrit, các nhà tư tưởng Châu Âu cũng có cùng một ý kiến giống nhau về lý thuyết tiến hóa như họ đang theo đuổi liên quan đến toàn bộ các ngôn ngữ khác trên thế giới này. Nhưng các vị tư duy Bà la môn lại không chấp nhận lý thụyết tiến hóa hay qui trình thay đổi từ từ liên quan đến nguồn gốc tiếng Sanskrit. Ngược lại họ đưa ra lý thuyết truyền thống và duy nhất và nguồn gốc tiếng Sanskrit như là một ngôn ngữ vô song được chính các vị “thần linh ban tặng.” Với niềm tin tầm thương này, giả định gia tăng nhanh chóng từ dạng một thổ ngữ các áng văn chương Phệ Đà. Nhưng lịch sử Ấn Độ cổ đại lại chỉ cho thấy một ranh giới của tiếng Sanskrit chỉ xuất phát từ thời Panini, là một nhà ngữ pháp nổi tiếng; người đã đánh bóng ngôn ngữ này. Tu luyện và sửa chữa những thổ ngữ bản xứ dưới thời của ông áp dụng các qui luật của chính ngữ pháp ông đã biên soạn được biết đến là ‘Astadhyayi”
Còn có một biến cố lịch sử nữa hầu như rất liên quan đến điều bí ẩn tiếng Sanskrit có thể được gọi là việc từ chối của tầng lớp Shudra không được học bản văn Phệ Đà; và con người ta biết với tên là Manu, là nhà văn viết ra qui lụât Manumurti có thể là cha đẻ của tiếng Sanskrit. Nhưng tại sao các vị kế tục của ông ta lại áp dụng một hình phạt khủng khiếp là cắt lưỡi, đổ chì vào tai hay xé xác những kẻ phạm pháp thuộc đẳng cấp cùng đinh làm hai vì đã phạm lỗi dám tụng, nghe và nhớ lại Kinh Phệ Đà? Liệu những lệnh trên phải được hiểu là phương tiện, và các niêm luật, là nguồn lực chính của điều bí ẩn nơi tiếng Sanskrit, mà sau này trở thành một tai hoạ không chỉ trên người cùng đinh. Nhưng còn cả trên toàn bộ xã hội Ấn Độ và là một vết nhơ tủi nhục giáng trên nền văn hoá Hindu và cả di sản Phệ Đà nữa.
Thứ ba, còn tại sao những phát hiện khảo cổ được khai quật liên quan đến tiếng Sanskrit nơi các hồ sơ ghi lại chỉ được tìm thấy có niên đại từ thế kỷ thứ hai sau CN lại là một nghi ngờ đáng chú ý nhất xét từ quan điểm việc phát triển tiếng Sanskrit. Câu ghi khắc Rudraman đầu tiên, và câu ghi khắc trên đồng tiền Satuyadaman đầu tiên, các mẫu tự Devanagari đầu tiên được biết tới như là Brahmi lipi và từ Sanskrit được xử dụng với ý nghĩa khác như là đuợc tinh luyện lại được phát hiện từ thế kỷ thứ hai trước CN và không sớm hơn niên đại đó.
Đây là những biến cố quan trọng nơi lịch sử Ấn Độ liên quan tới bối rối chính nơi ngôn ngữ tiếng Sanskrit. Cần phải thẩm định, nhưng việc thẩm định này không thể hoàn hảo được trừ phi chúng ta khám phá ra vị trí hiện tại của đạo Bà la môn và tiếng Sanskrit xuất hiện nơi những mặt nạ khác của đạo Hindu và ngôn ngữ Hindu. Liên quan đến điều này, là điều ý nghĩa nhất, đó là cộng động Bà la môn đã quay sang một khúc quanh khác (như đã được khẳng định sau ngày độc lập) đó là việc họ tự tuyên bố trở thành những người Hindu bằng cách giới thiệu một định nghĩa mới về từ Hindu như là một dân tộc thâu tóm mọi cộng đồng Ấn Độ. Mặt khác, họ đang quảng bá tiếng Hindi. Dựa trên cơ sở tiếng Sanskrit, như là một quốc ngữ của dân Hindu họ đang chiến đấu ác liệt để loại bỏ tiếng Anh và tiếng Urdu đã và đang trở nên súc tích và có ảnh hưởng rất lớn dưới mọi góc độ nơi văn hoá và văn chương Ấn Độ. Tại sao các vị sử học như P.N. Oak lại chấp nhận và sử dụng tiếng Anh thay vì tiếng Sanskrit hay hậu duệ của nó là tiếng Hindu. Trong những tác phẩm vừa rồi để chứng minh mục tiêu siêu vượt của tiếng Sanskrit là nguồn gốc phát sanh ra tiếng Anh cũng như toàn bộ các ngôn ngữ trên thế gian này?
Tại sao các nhà tư duy ngôn ngữ Bà la môn lại chơi thứ chính trị hai mặt nơi khía cạnh ngôn ngữ và văn chương? Đây chẳng phải là một thái độ nghịch lý của các nhà ngôn ngữ học Bà la môn hay sao? Có thể tạo ra những nghi ngờ về tính chất nguyên vẹn trí thức của họ nơi suy tư của những người có trí thức và có ý định không chân thành đàng sau việc lãnh đạo hướng dẫn của họ sao? Liệu những bản văn và nghiên cứu đó có trở thành hữu ích cho tất cả mọi người trên thế giới này hay chỉ cho các vị Bà la môn để giữ cho được vị thế siêu vượt của họ nơi tất cả mọi người trong tương lai?
Liệu các vị ngữ học và các nhà trí thức có giúp giải quyết được những điều bí ẩn của tiếng Sanskrit nhờ vào các sách và những viết lách của họ hay không? Hay để tăng cường những điều bí ẩn quá khứ bằng cách thêm vào đó những điều lộn xộn mới như các vị Bà la môn đã làm trong quá khứ và cho tới ngày nay để cho toàn thể mọi người trên trần gian này, ngoại trừ các vị Bà la môn và các cộng sự viên của họ, sẽ dẫn tới nguy cơ và tàn lụi trong tương lai?
Tại sao các vị ngôn ngữ học trí thức Ấn Độ và các vị bình luận lại không tiến hành nghiên cứu các sách phi lý đó về lịch sử và ngôn ngữ như cuốn ‘Di sản Phệ Đà của thế giới và cuốn Fowlers’ Howders và phản bác lại chính sách Bà là môn bằng cách thực thi những phần thêm bịa đặt trong những khoá nghiên cứu lịch sử, ngôn ngữ và văn hoá nơi hệ thống giáo dục của chính quyền và nơi những tuyên truyền hàng loạt người ủng hộ điều đó? Cũng có nhưng rất ít những nhà phân tích hoàn thành được hành vi đạo đức này.
Vào ngày 4 tháng 10 năm 1992, trong một bài viết đăng trên tạp chí Indian Express với tựa đề “Xuyên tạc lịch xử một cách lố bịch” Ông K. Govindan Kutty đã vạch trần những bài viết của ông P.N. Oak bằng cách chỉ trích tàn bạo như sau:
 “Có những kẻ khác đang bận tâm viết lại lịch sử, một cách lố bịch, ta có thể nói vậy, đôi khi ông P.N. Oak là một tay gạo cội trong lãnh vực này, cuộc nghiên cứu ông thực hiện nơi một số lãnh vực về Đạo Hồi đã mang lại những kết quả giật mình nhằm hạ nhục Barbarao Thieving.”
Tuy nhiên vẫn chưa đủ. Để có được một chút điều tốt về lịch sử trung thực về ngôn ngữ và văn hóa của chính chúng ta, các học giả nên tiến tới kiểm điểm một cách trung thực những trò bịp bợm kiểu đó bằng những trắc nghiệm khoa học trong từng lãnh vực một.
Đối với dân chúng Ấn Độ ở cả quốc nội lẫn hải ngoại, không chỉ có nguồn gốc tiếng Sanskrit mà còn cả tiếng Sanskrit xét một cách toàn diện, cách quảng bá, những điểm đặc trưng và sự phát triển của ngôn ngữ đó đã gây nên bối rối to lớn trên toàn thế giới. Điều đó đã bỏ qua chưa được giải quyết một cách toàn diện. Ta không thể nào hiểu được lịch sử ngôn ngữ hiện hành trong quá khứ và việc sử dụng thứ ngôn ngữ đó như là một ánh sáng nghiên cứu nhằm thức tỉnh các thế hệ tương lai và biến họ cảnh giác để cứu lấy những mất mát to lớn chính xã hội văn hóa của chính họ và tránh những đổ vỡ trong tương lai; cho đến khi nào và trừ phi những điều bí ẩn trong tiếng Sanskrit này được giải quyết một cách ráo rốt.
Công việc chính của tôi là thẩm định điều bối rối này, gìn giữ dưới sự bảo trợ của những điềøu bí ẩn tiếp theo, và lật tẩy mặt nạ giả dối này để đeo vào một bộ mặt thực tiễn. Tôi giới thiệu những điều bí ẩn sau đây:
1. Tiếng Sanskrit có thể là một ngôn ngữ siêu phàm chăng?
2. Phải chăng tiếng Sanskrit đã là ngôn ngữ Phệ Đà ?
3. Bằng cách nào các các thổ ngữ Phệ Đà trước tiên đã biến thành một thứ ngôn ngữ?
4. Ngôn ngữ nào xuất hiện trước tiên, tiếng Pali hay tiếng Sanskrit?
5. Ngôn ngữ nào là thừa tự ngôn ngữ đích thực cho văn chương Phệ Đà? Tiếng Pali hay tiếng Sanskrit?
6. Tại sao Panini đã Sanskrit hóa “các thổ ngữ hiện hữu Gandhara và Magadha? Đâu là những liên quan giữa tiếng Pali và tiếng Sanskrit? Hai ngôn ngữ này là bạn hữu hay thù địch?
7. Nguồn gốc từ “Sanskrit” bắt nguồn từ ngày tháng nào?
8. Bằng cách nào và khi nào tiếng Sanskrit đã xuất hiện như là một ngôn ngữ và trở thành ngôn ngữ chính cho Ấn độ (Linguao-franca”?
9. Tại sao tiếng Pali lại biến mất hay bị trục xuất khỏi lãnh thổ Ấn Độ; và tại sao đẳng cấp cùng đinh (Shudra) lại bị cấm không được sử dụng tiếng Sanskrit?
10. Ngôn ngữ nào xuất phát từ ngôn ngữ nào? Tiếng Pali bắt nguồn từ tiếng Sanskrit? Hay tiếng Sanskrit xuất phát từ tiếng Pali?
11. Tại Anh Quốc người Xen-tơ là ai? Là Bà la môn hay là Phật Tử? hay phải chăng Anh quốc là lãnh thổ Hindu hay lãnh thổ Phật giáo?

Phần còn lại, ở: http://phatgiaonguyenthuy.com/news-1905/Ngon-ngu-PALI-me-de-tieng-SANKRIT.html