Sunday, February 16, 2014

Cha và Mẹ là không thể trả ơn hết được


“Có hai hạng người, này các Tỷ-kheo, ta nói không thể trả ơn được. Thế nào là hai? Mẹ và Cha. Nếu một bên vai cõng mẹ, này các Tỷ-kheo, nếu một bên vai cõng cha, làm vậy suốt trăm năm, cho đến trăm tuổi; nếu đấm bóp, thoa xức, tắm rửa, xoa gội, và dầu tại đấy, mẹ cha có vãi tiểu tiện đại tiện, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Hơn nữa, này các Tỷ-kheo, nếu có an trí cha mẹ vào quốc độ với tối thượng uy lực, trên quả đất lớn với bảy báu này, như vậy, này các Tỷ-kheo, cũng chưa làm đủ hay trả ơn đủ mẹ và cha. Vì cớ sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, cha mẹ đã làm nhiều cho con cái, nuôi nấng, nuôi dưỡng chúng lớn, giới thiệu chúng vào đời này.”
(Phẩm Tâm Thăng Bằng, Kinh Tăng Chi, HT. Minh Châu dịch Việt).

Saturday, February 15, 2014

Happy Māghapūja!

Đại hội Thánh Tăng 1250 vị có Đức Phật chủ trì tại Tịnh Xá Trúc Lâm

Đêm qua thức suốt đêm để chờ Trăng! Nguyên Tiêu năm nay không có trăng, ảnh hưởng chút ít đêm thọ Đầu-đà. Trăng chỉ bị mây lấy mất ánh sáng thôi, chứ trăng muôn đời vẫn lơ lửng ở đó:

Trải mấy thu nay vẫn hãy còn,
Cớ sao khi khuyết lại khi tròn.
Hỏi con Ngọc Thỏ đà bao tuổi,
Chớ chị Hằng Nga đã mấy con?
Đêm vắng cớ chi soi gác tía,
Ngày xanh sao lại thẹn vừng son?
Năm canh lơ lửng chờ ai đó?
Hay có tình riêng với nước non?
(Hỏi Trăng - Hồ Xuân Hương)

"Phước thiện" mà mình đã làm được trong ngày rằm tháng Giêng năm nay, đại lễ Māghapūja, cũng như đêm thọ đầu-đà cúng dường cho đại lễ, mình đã chia phước đến các bậc hữu ân, cha mẹ, quyến thuộc, thầy tổ, "bạn Pháp", chư thiên khắp các cõi, tất cả chúng sanh hiện diện! Mong tất cả các bậc hữu ân hằng được an vui! 

Trên bước đường thực hành thiện pháp cao quý và chông gai "ngược dòng" này, một mình "độc đạo", dể duôi,... vẫn luôn hiện diện, năm canh (cùng ánh trăng khuất) lại quạnh hiu, tình riêng (với núi non, cây cỏ, côn trùng,...) vẫn nhạt nhòa! Hãy cố gắng lên, ơi hơi thở của tôi, người bạn mãi gắng bó, nếu không có mi thì chắc gì ta đã còn đếm được năm canh dài, chắc gì ta còn lượn quanh ngôi bảo tháp Thiền Lâm mà đợi ánh trăng khuya, lắng nghe tiếng tụng kinh ra rả của mấy tín nữ cúng dường lên Tam Bảo!

Nguyên Tiêu, Giáp Ngọ - 2014
__Thuận Pháp__

Friday, February 7, 2014

Vấn đề cúng tế thức ăn đúng cách và hồi hướng phước đúng cách, đúng đối tượng.


Mừng tất niên, giao thừa, đầu năm, người người cúng-đốt, nhà nhà cúng-đốt, tư gia cũng cúng-đốt, cơ quan cũng cúng-đốt. Cúng thì người chết không dùng được mà đốt (vàng mã) thì gây ô nhiễm môi trường! Cúng tế đúng cách là mang thức ăn, đồ uống,... đến cho người đáng dùng để thưởng thức, rồi lấy thiện phước này hồi hướng cho thân quyến ngạ quỷ nhiều đời trong quá khứ.

Ai thật may mắn nếu là người không chủ trương cúng tế, vàng mã, chỉ làm phước bố thí cúng dường theo khả năng, rồi hồi hướng phước báu đó đúng cách cho chúng sanh cần nhận. Như bài Kinh Phật sau đây giải thích:

(10. 4. 2. 11) Jāṇussoṇi: Jāṇussoṇisuttaṃ (609)
1. Rồi Bà-la-môn Jāṇussoṇi đi đến Thế Tôn, sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên.
2. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jāṇussoṇi bạch Thế Tôn: 
- Thưa Tôn-giả Gotama, Bà-la-môn chúng tôi, cho bố thí, làm các lễ cúng cho người chết. Mong rằng, bố thí này cho bà con huyết thống đã chết được lợi ích! Mong rằng các bà con huyết thống đã chết thọ hưởng bố thí này! Thưa Tôn-giả Gotama, bố thí có lợi ích gì cho các bà con huyết thống đã chết không? Các bà con huyết thống đã chết có được thọ hưởng bố thí ấy hay không? 
- Này Bà-la-môn, nếu có tương ưng xứ, thời có lợi ích, không có lợi ích nếu không có tương ưng xứ.
- Thưa Tôn-giả Gotama, thế nào là tương ưng xứ, thế nào là không tương ưng xứ? 
3. - Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Vị ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào địa ngục. Món ăn của chúng sanh ở địa ngục ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở nơi đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
4. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy sanh vào loại bàng sanh. Món ăn của chúng sanh ở bàng sanh ăn, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ; trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
5. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có Chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh cộng trú với loài Người. Món ăn của loài người như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
6. Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có Chánh kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung được sanh cộng trú với chư Thiên. Món ăn của chư Thiên như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn đây là không tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy không được lợi ích của bố thí ấy.
7. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân, có tà kiến. Người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi ngạ quỷ. Món ăn của chúng sanh ngạ quỷ như thế nào, tại đấy, vị ấy nuôi sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Món ăn nào các bạn bè, hoặc thân hữu, hoặc bà con, hoặc người cùng huyết thống từ đấy muốn hướng cúng cho vị ấy, tại đấy vị ấy sống với món ăn ấy; tại đấy, vị ấy tồn tại với món ăn ấy. Này Bà-la-môn, đây là tương ưng xứ, trú ở đây, vị ấy được lợi ích của bố thí ấy.
8. - Thưa Tôn-giả Gotama, nếu bà con huyết thống ấy đã chết, không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy? 
- Này Bà-la-môn, các bà con huyết thống khác đã chết, được sanh vào chỗ ấy, những người ấy được hưởng bố thí ấy.
- Thưa Tôn-giả Gotama, nếu bà con huyết thống đã chết, không sanh vào chỗ ấy, và các bà con huyết thống khác cũng không sanh vào chỗ ấy, thời ai hưởng bố thí ấy? 
- Không có trường hợp ấy, không có cơ hội ấy, này Bà-la-môn, rằng chỗ ấy có thể trống không trong một thời gian dài, không có người bà con huyết thống đã chết. Nhưng này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có hưởng quả.
- Có phải Tôn-giả Gotama nói một giả thuyết không thể xảy ra? 
- Này Bà-la-môn, Ta nói một giả thuyết không thể xảy ra. Ở đây, này Bà-la-môn, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến. Người ấy bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi…; với các loài ngựa…; với các loài bò…; với các loài gia cầm. Tại đây, vị ấy được đồ ăn, đồ uống, vòng hoa, các loại trang sức khác. Vì rằng, ở đây, này Bà-la-môn, có sát sanh, lấy của không cho, tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời độc ác, nói lời phù phiếm, có tham ái, có sân tâm, có tà kiến, do vậy người ấy, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với các loài voi…; với các loài ngựa…; với các loài bò…; với các loài gia cầm. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy vị ấy được các món ăn, các đồ uống, vòng hoa, các đồ trang sức khác. 
Ở đây, này Bà-la-môn, có hạng người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có Chánh kiến. Người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Vị ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với loài Người. Tại đấy, vị ấy được năm loại dục công đức sai khác, thuộc về loài Người. Vì rằng, này Bà-la-môn, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có sân tâm, có Chánh kiến, sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với loài Người. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, ở đấy vị ấy được năm dục công đức của loài Người. 
Ở đây, này Bà-la-môn, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có Chánh kiến, người ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc. Người ấy sau khi thân hoại mạng chung, được sanh cộng trú với chư Thiên. Vị ấy tại đấy được năm loại dục công đức của chư Thiên. Vì rằng ở đây, vị ấy từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham ái, từ bỏ sân tâm, có Chánh kiến, cho nên sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh cộng trú với chư Thiên. Vì rằng vị ấy có bố thí cho Sa-môn hay Bà-la-môn các món ăn, đồ uống, vải mặc, xe cộ, các vòng hoa, hương liệu, phấn sáp, giường nằm, trú xứ, đèn đuốc; do vậy, tại đấy, vị ấy được năm dục công đức của chư Thiên. 
Tuy vậy, này Bà-la-môn, người bố thí không phải không có kết quả.
9. - Thật vi diệu thay, Tôn-giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn-giả Gotama! Cho đến như thế này, thưa Tôn-giả Gotama, là vừa đủ để bố thí, là vừa đủ để tổ chức các tín thí. Vì rằng, ở đây, người bố thí không phải không có kết quả (như đã được nói).
- Như vậy, này Bà-la-môn, người bố thí này không phải không có kết quả.
- Thật kỳ diệu thay, Tôn-giả Gotama! Thật hy hữu thay, Tôn-giả Gotama! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn-giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày giải thích. Con quy y Tôn-giả Gotama, quy y Pháp và quy y Tỷ-kheo Tăng. Mong Tôn-giả Gotama nhận con làm đệ tử, từ này trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.

(Suttantapiṭake-Aṅguttaranikāyo-Chaṭṭhanipato-Dasakanipāto-Catutthapaṇṇāsako-Jāṇussoṇivaggo-Jāṇussoṇi: Kinh Tạng, Kinh Bộ Tăng Chi, tập 6, Chương 10 Pháp, Nhóm 50 bài Kinh thứ 4, Phẩm Jāṇussoṇi, bài Kinh Jāṇussoṇi thứ 11, HT. Minh Châu dịch Việt).

P/s. Trong lúc chờ đợi MB lên xuống, suy nghĩ câu thơ bói xuân tết Giáp Ngọ, không biết sự thành là gì, phúc đường tới đâu? Chỉ mong sự thành là hiểu được một lời Phật dạy, phúc đường là tạo được một thiện pháp nho nhỏ để được làm trời người kiếp sau bằng cách từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói lời độc ác, từ bỏ nói lời phù phiếm, không có tham ái, không có tâm sân hận, có Chánh kiến.

Xuân Giáp Ngọ, 2014
__Thuận Pháp__

Thursday, February 6, 2014

Báo hiếu cho chính mình!


Đời người có hai sự dại dột lớn. Đó là bất hiếu với cha mẹ. Thứ hai là bất hiếu với chính bản thân mình.
Bất hiếu với cha mẹ là rất dại dột. Nhưng không có sự dại dột nào lớn bằng sự bất hiếu với chính bản thân mình. Bất hiếu với chính mình là để phiền não (tham, sân, si) chế ngự và lôi kéo bản thân đọa vào ác xứ, cõi khổ để không thể cứu vãn trong một đời mà nhiều đời nhiều kiếp. Ngài Sāriputta (Xá-lợi-phất) chỉ cần một đêm cuối đời là báo hiếu xong cho mẹ Ngài, nhưng Ngài phải trải qua thời gian dài vô cùng tận mới báo hiếu hoàn toàn cho chính mình! Ăn cướp 1 đồng đọa làm ma đói 500 kiếp, tham nhũng 1 đồng đọa làm ma đói 5000 kiếp (vì tham nhũng là lấy tiền của công), giết 1 con vật đọa vào ác xứ 500 kiếp, giết 1 con người đọa vào cõi khổ 5000 kiếp,... Đây đều là do chúng ta để phiền não tham, sân, si sai xử. Vì sao chỉ gây ra một nhân có thể coi là nhỏ nhoi mà lại trả quả đau khổ lớn lao và lâu dài thế kia? Đó là do sự vận hành tâm lý mà một người không biết kiểm soát tâm, không biết "dừng lại" gây nên. Đoạn trừ tham, sân, si cho đến diệt tận hết chúng là một việc làm có hiếu nhất đối với bản thân chúng ta. Còn đoạn trừ tham, sân, si như thế nào là một quá trình gian nan nữa,...
Đức Phật Gotama là một người có lòng bi mẫn không có giới hạn. Ngài dạy con người phải có tâm từ bao trùm đối với tất cả các loài không chân, loài hai chân và loài nhiều chân,... hay tất cả chúng sanh không phân biệt. (Lời dạy của Ngài là phi tôn giáo, phi tông phái, phi hệ phái,...). Đạo Phật gốc hay Đạo Phật Nguyên Thủy vốn không có tông phái, hệ phái, tôn giáo. Đạo Phật của Đức Phật ngày xưa chỉ sống thuận theo quy luật tự nhiên (Luật của Pháp, còn lời dạy của Ngài gọi là Phật Pháp) để đạt được "sự bình an trong nội tâm". Nên khoác chiếc áo tu hành là tông phái, hệ phái nhưng đối xử với nhau phải phi tôn giáo, phi hệ phái, nếu không thì sẽ xảy ra sự đấu tranh, chống trái nhau và người ta chỉ chạy theo sự ảo tưởng do phiền não thích (tham) hay không thích (sân) giật dây, không bao giờ sờ mó được Chân lý chứ đừng nói gì đến sự giải thoát giác ngộ cho cao siêu! Đứng ở góc độ này mà phản ánh, phán xét góc độ khác bằng ngôn từ thì cách gì cũng không đúng, vì Chân lý vốn vô ngôn, tự cảm nhận, tự kinh nghiệm.
Lời dạy cao quý nhất, lợi ích nhất, duy nhất cho sự thực hành (con đường độc nhất) là Tứ Niệm Xứ (đại diện là Niệm, hay Chánh Niệm). Chỉ có Tứ Niệm Xứ mới có khả năng nâng đỡ một người phàm phu bình thường trở thành bậc Thánh Nhân, là bậc đã đoạn trừ từng phần hay đã đoạn tận mọi lậu hoặc, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi. Chúng ta phải thực hành Tứ Niệm Xứ mọi lúc mọi nơi. Chúng ta phải sống trong Diệu Pháp này. (Vi Diệu Pháp (Abhidhamma)! Nó quá khó mà cũng quá đơn giản, chỉ cần trực nhận, tự kinh nghiệm Chân lý như thực, không cần dùng ngôn từ hay chế định để giải thích gì nhiều; Còn khi dùng qua ngôn từ thì không thể chính xác nữa vì khi đó đã rời khỏi bản chất như thực rồi, nhiều lúc nói không ai tin...!).

Tết Giáp Ngọ, 2014
__Thuận Pháp__

Friday, January 24, 2014

Chánh niệm là con đường duy nhất thanh lọc tâm!


Chánh niệm, một chi phần của Bát Chánh Đạo, được Đức Phật nhắc lại nhiều lần, gián tiếp cũng như trực tiếp, được biết như là "con đường duy nhất" để thanh lọc tâm, tịnh hóa chúng sanh, chứng đạt Thánh Đạo, chứng ngộ Niết-bàn, "không còn con đường nào khác". Xuất hiện cả trong Kinh Trung Bộ, Trường Bộ và Kinh Pháp Cú của Tiểu Bộ:

Trong Trung Bộ 10 và Trường Bộ 22:

‘‘Ekāyano ayaṃ, bhikkhave, maggo sattānaṃ visuddhiyā, sokaparidevānaṃ [pariddavānaṃ (sī. pī.)] samatikkamāya, dukkhadomanassānaṃ atthaṅgamāya, ñāyassa adhigamāya, nibbānassa sacchikiriyāya, yadidaṃ cattāro satipaṭṭhānā.

‘‘Katame cattāro? Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ; dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

Trong Pháp Cú 273 - 275:

Maggānaṭṭhaṅgiko seṭṭho, saccānaṃ caturo padā;
Virāgo seṭṭho dhammānaṃ, dvipadānañca cakkhumā.

Eseva [esova (sī. pī.)] maggo natthañño, dassanassa visuddhiyā;
Etañhi tumhe paṭipajjatha, mārassetaṃ pamohanaṃ.

Etañhi tumhe paṭipannā, dukkhassantaṃ karissatha;
Akkhāto vo [akkhāto ve (sī. pī.)] mayā maggo, aññāya sallakantanaṃ [sallasanthanaṃ (sī. pī.), sallasatthanaṃ (syā.)].

Wednesday, January 22, 2014

Sách tấn!


Sadā jāgaramānānaṃ ahorattānusikkhinaṃ
Nibbānaṃ adhimuttānaṃ atthaṃ gacchanti āsavā.
(Dhammapada - 226)

Ai luôn luôn tỉnh giác
Ngày đêm thường tu tập
Tâm nhất hướng Niết-bàn
Lậu hoặc sẽ tiêu tan.
(Kệ Pháp Cú thứ 226)

P/s: Đọc lại câu kệ này để tự sách tấn cho sự tu tập: Niết-bàn không phải chỉ của riêng ai (bậc Thánh)! Một phút chốc nào mà trong tâm hướng đến sự vô tham, vô sân, vô si (là ân đức của Niết-bàn) thì một lậu hoặc đã tiêu tan. Tỉnh giác miết vậy, lậu hoặc có ngày sẽ tiêu tan hết.
Cuối năm là mùa dể duôi của hành giả đang vướng bụi trần, là mùa của các cuộc tất niên liên tục (tất niên tổ, đội, phòng, ban, công ty, công ty bạn, thân nhân, bằng hữu,...) của trú xứ nghèo mà say hưởng thụ, ai đó sẽ có lúc thất niệm, mất tỉnh giác. Để rồi "ta cứ ngỡ xuống trần chơi một chốc, nào ngờ đâu ở mãi đến hôm nay" (Bùi Giáng), nhưng rồi lại sách tấn "tâm nhất hướng Niết-bàn, lậu hoặc sẽ tiêu tan" (Đức Phật Gotama)!

__Thuận Pháp__

Thursday, January 9, 2014

TÁM TƯ TƯỞNG CỦA BẬC ĐẠI NHÂN


1. Thiểu dục (ít ham muốn);
2. Tri túc (biết đủ), bằng lòng với những gì đã có và những gì đã nhận được;
3. Sống ẩn cư, cả tâm ẩn cư lẫn thân ẩn cư;
4. Tinh tấn;
5. Chánh niệm vào những gì đang khởi sinh trong hiện tại;
6. Định tâm;
7. Có sự hiểu biết căn bản về luật nhân quả và nghiệp báo;
8. Không thích thú trong tham ái (taṇhā), mạn (māna) và tà kiến (micchādiṭṭhi). Những trạng thái này gọi là Papañca, một trạng thái bành trướng hay kéo dài con đường luân hồi. Không thích thú trong papañca có nghĩa là hướng đến sự giải thoát, giác ngộ, Niết-bàn (Cách thực hành ban đầu là hướng tâm vào sự vô thường của tất cả sự vật).

(Cố trưởng lão Silānanda Sayadaw)