Saturday, July 14, 2012

KINH NGHIỆM HÀNH THIỀN - 003

Trích lời bài kinh Mahā-Satipaṭṭthāna (Đại Niệm Xứ):

Kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Vedanāsu vedanānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Citte cittānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ;
Dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ.

"Kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṃ": Vị ấy trú nơi thân, có quán sát thân, tinh cần, tỉnh giác và chánh niệm (có niệm) để được lìa xa tham, ưu ở đời. (viharati,đt, vị ấy trú, vị ấy ở; kāyānupassī, có sự quán sát thân; kāye, định sở cách, trên thân, nơi thân; ātāpī, tinh tấn, nhiệt tâm; sampajāno, tỉnh giác, thấy đúng, thấy như thực; satimā, có niệm, có ghi nhận rõ; vineyya, để được lìa xa, để được bỏ đi; abhijjhā, tham, domanassaṃ, ưu; loke, đsc, trên đời, trên thế gian).
Trong thiền minh sát, chúng ta cần chú trọng đến sự chánh niệm trên các đề mục vật chất và tâm. Các đề mục vật chất và tâm còn được gọi là năm uẩn bao gồm sắc, thọ, tưởng, hành, thức; trong Kinh Đại Niệm Xứ gọi là các đề mục thân, thọ, tâm, pháp. Vì sao chỉ cần chú trọng đến chánh niệm trên đề mục vật chất và tâm để hành thiền! Lý do là:
Thứ nhất, chánh niệm là một trong tám chi phần của Bát Chánh Đạo, là con đường dẫn đến sự giác ngộ Niết-bàn, giải thoát khỏi mọi phiền não từ thô đến vi tế.
Thứ hai, chánh niệm là một thuộc tính của tâm, có tác dụng làm quân bình các căn và hoàn toàn thiện lành. Theo Vi Diệu Pháp, chánh niệm hay tâm sở niệm (Niệm - Sati, là sự ghi nhận các đối tượng một cách đúng đắn rõ ràng) có mặt trong tất cả các loại tâm thiện (tâm đại thiện, tâm thiền và tâm siêu thế). Khi có chánh niệm rồi thì tất nhiên có luôn sự vô tham, vô sân,... nên các bất thiện không có cơ hội xen vào chiếm ngự tâm (Các bất thiện tâm, chúng rất lịch sự, sẽ không bao giờ nhảy vào chiếm chỗ ngồi của các thiện tâm khi các thiện tâm này vẫn đang còn an tọa!!!). Do đó, mọi người ai cũng có thể sẵn sàng sử dụng chánh niệm được nếu chỉ cần cố gắng hành thiền, không phải mất công tìm kiếm chánh niệm ở đâu xa bên ngoài thân tâm này. Một người muốn làm phước thiện bố thí cúng dường phải mất công làm việc thật tốt để tạo ra vật thực, tịnh tài mới thực hiện được việc bố thí ấy. (Mặc dầu vậy, người hành thiền cũng cần có phước bố thí cúng dường để làm duyên lành thanh lọc tâm, dễ dàng tái sinh cõi trời người, mong đạt được chánh niệm và chánh trí). Chánh niệm vì vậy như là một món quà quý báu miễn phí mà tạo hóa đã ban tặng cho người hành thiền, đức Phật chỉ là người đã dẫn ra cho chúng sanh thấy rõ chánh niệm thôi, và chỉ người hành thiền minh sát mới sử dụng chánh niệm để thực hành đưa đến sự giác ngộ giải thoát mà thôi; người tu định ngoài đạo Phật sử dụng chánh niệm để chứng đắc các tầng thiền và dừng lại ở đó, không giải thoát khổ được nếu không hướng tâm đến sự giác ngộ giải thoát; còn người không biết hành thiền nói rằng họ đi cũng biết đi, ngồi cũng biết ngồi,... nhưng sự thật tâm họ không an trú mạnh mẽ trên đề mục được và luôn vọng động ra bên ngoài đề mục, vọng động đến những chuyện quá khứ và tương lai của họ một cách không cần thiết.
Đức Phật dạy rằng đề mục của thiền minh sát phải là các đề mục dễ kiếm, dễ thấy và dễ ghi nhận nhất, đó là các đề mục chứa sẵn trong thân và tâm của chúng ta, cũng gọi là vật chất và tâm; quan trọng hơn là các đề mục này phải giúp người hành thiền minh sát dễ dàng phát triển chánh trí là thấy được tính chất vô thường, bất toại nguyện và vô ngã của đề mục ấy. Vô thường là vì bị biến đổi, sinh diệt. Khổ là vì không bền vững, mất mát. Vô ngã là vì không điều khiển được, không có thực tính. Đề mục tâm thì vô hình vô tướng, luôn thay đổi, sinh diệt rất nhanh, khó ghi nhận, nên lúc mới hành thiền chúng ta nên ưu tiên chọn đề mục vật chất để dễ ghi nhận.
Vì vậy cho nên người hành thiền minh sát cần phải tinh cần để phát triển chánh niệm trên đề mục chính của mình. Đề mục của thiền minh sát là vật chất và tâm, cách dễ nhất là chọn đề mục vật chất . Đề mục vật chất dễ thấy rõ nhất để ghi nhận là sự phồng xẹp ở bụng. Vật chất có các đặc tính cơ bản của nó là nóng, lạnh, cứng, mềm, chuyển động và sức hút. Có thể kể thêm đề mục vật chất khác là sự nóng lạnh hay sự chuyển động của hơi gió nơi lỗ mũi. Như vậy chúng ta đã phát triển hai phương tiện sẵn có là chánh tinh tấn và chánh niệm bên trong chúng ta. Kế tiếp chúng ta cần ý thức sáng suốt (tỉnh giác) để hay biết sự biến đổi, hay biết sự sinh diệt của đề mục. Ngoài ra còn có sự hay biết phụ khác là hay biết tâm bị rời khỏi đề mục chính do phóng dật và dã dượi buồn ngủ. Khi tâm sáng suốt hay biết như vậy để làm duyên phát triển tuệ giác, như tuệ về nhân quả (Ví dụ thấy đề mục biến mất là nhân thì quả là tâm sẽ không ghi nhận được đề mục đó nữa, chánh niệm mạnh mẽ thì sẽ thấy sự phồng xẹp có đoạn chấm dứt là nhân và quả là tâm sẽ không ghi nhận được nên phải hướng tâm ghi nhận đề mục khác như sự xúc chạm, cảm thọ đau nhức tê ngứa,...). Yếu tố quan trọng nữa là chúng ta hành thiền minh sát để hướng đến sự giác ngộ giải thoát khổ nên phải hướng tâm để thấy rõ sự vô thường, vô ngã của đề mục. Từ đó chúng ta thấy đề mục là không bền vững, luôn biến hoại, vô vị, không nghĩa lý, không đáng để dính mắc, tham đắm vào chúng. Đề mục vật chất là vậy thì đề mục tâm là sự biết, là sự ra lệnh và điều khiển mọi hoạt động về thân, khẩu, ý này cũng như thế, cũng không bền, biến hoại, không thực chất, nhàm chán nếu tham đắm vào. Suy ra mọi sự vật hiện tượng trên thế gian này đều là không nghĩa lý, không có giá trị gì; là bấp bênh, là chất độc hại,...Vì thấy mọi sự là bấp bênh, là chất độc đáng sợ hãi như vậy nên chúng ta cần gấp rút vứt bỏ, tránh xa chúng càng sớm càng tốt. Ví như người mò cua bắt ốc ngoài ao hồ đầm lầy, do bị lầm tưởng con lươn mà bắt nhầm con rắn lên thì người ấy phải gấp rút mà vứt bỏ nó đi càng nhanh càng tốt. Chúng ta thực hành liên tục như vậy cho đến khi đạt được sự thản nhiên trước bất cứ sự đến đi nào của mọi đối tượng, của mọi hạnh phúc và khổ đau, diệt trừ được mọi tham đắm và ưu phiền, não hại liên quan đến thân và tâm của chúng ta trong cuộc đời (Hành Xả Tuệ).
Tóm lại, người hành thiền minh sát nhờ nhiệt tâm, tinh cần (có Chánh tinh tấn), ý thức sáng suốt (Tỉnh giác, hay trí tuệ thấy rõ sự sinh diệt của đề mục vật chất và tâm, thấy rõ nhân quả, thấy rõ tâm vọng động hay tâm mê mờ, tức có Chánh kiến) để ghi nhận đề mục phồng xẹp, đề mục chuyển động của gió nơi hơi thở (có Chánh niệm), và cuối cùng là hướng tâm đến sự giác ngộ giải thoát khổ ngay trong hiện tại (có thể gọi là Chánh tư duy, tư duy một cách chơn chánh đúng đắn đến sự giác ngộ giải thoát), thì người đó chắc chắn sẽ đạt được sự giải thoát giác ngộ một cách tốt đẹp, chấm dứt hay đoạn trừ được các phiền não từng phần hay không còn dư sót. Đương nhiên, muốn hành thiền minh sát để có được kết quả tốt đẹp và an tịnh, có lương tâm bình thản, hay có được sự quân bình của thân tâm thì hành giả phải giữ giới cho được trong sạch, xả bỏ mọi hối hận bất thiện trong quá khứ bằng cách phát triển tâm từ và tự tha thứ cho chính mình, có tâm xả ly chia sẻ (gọi là có Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng). Tiếp đến là hành giả ghi nhận đề mục chính một cách liên tục thì tâm sẽ ổn định được trên nó (có Chánh định). Như vậy chỉ cần bốn yếu tố ban đầu là tinh cần, tỉnh giác, hướng tâm đến sự giải thoát giác ngộ và đặc biệt là chánh niệm, mà tất cả tám yếu tố của Bát Chánh Đạo đều có mặt đầy đủ. Có thể nói là chỉ cần trở về chú ý ghi nhận sự phồng xẹp, hay trở về chú ý ghi nhận hơi gió nơi cái mũi không thôi cũng đưa đến giác ngộ, thoát khỏi khổ đau. Cũng có thể nói là chỉ cần có chánh niệm nơi sự phồng xẹp, chánh niệm nơi sự chuyển động của hơi thở cũng đưa tới giải thoát giác ngộ hay thành Phật được! Hành giả cố gắng hành thiền như vậy, không nên lo lắng, sợ hãi việc hành thiền (người phản đối việc hành thiền là người phá hoại đạo Phật vô cùng!). Vì đây là cách làm đúng theo con đường hay phương pháp chỉ dẫn trong Tam Tạng Pali của đức Phật Gotama và đã được kế thừa, lưu giữ, bảo trì qua bao thế hệ nơi các nước Nam truyền, chắc chắn sẽ đạt được giác ngộ Niết-bàn ngay trong kiếp sống hiện tại này.

**TP.PA**

Monday, May 7, 2012

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN CỦA NGÀY ĐẠI LỄ VESAK – PL.2556 – DL.2012

Đạo từ Vesak 2556 của Ngài Giới Đức - Trưởng lão Tăng già Theravāda TT-Huế:

Ý NGHĨA VÀ GIÁ TRỊ NHÂN VĂN
CỦA NGÀY ĐẠI LỄ VESAK – PL.2556 – DL.2012
(Tổ chức tại chùa Thiền Lâm – Tp.Huế, ngày 5 tháng 5 năm 2012)

Namo Buddhāya,
Hôm nay, cử hành đại lễ Vesak, còn được gọi là ngày lễ Tam Hợp, kỷ niệm Bồ-tát đản sanh, Bồ-tát thành đạo và đức Phật Niết-bàn. Là cái ngày mà nhân loại nghiêng mình, đê đầu cung kính đón chào một hiện thân siêu việt, một bậc vĩ nhân đã có mặt trên trần hoàn. Để hòa chung niềm vui với nhân loại, với thế giới năm châu, chúng ta hãy thắp sáng lên một ước mơ cháy bỏng: Cầu cho thế giới hòa bình, trái đất khỏi phải điêu tàn, đổ nát và lòng người hướng đến điều thiện, lẽ chân, thương yêu nhau trong kỷ nguyên mới để hàn gắn tất thảy khổ đau, điêu linh cùng những xáo trộn đầy bất trắc, hoạn nạn, tai ương trên trần thế!

Kính thưa chư đại đức Tăng Ni, quý cô tu nữ, Phật tử các giới cùng quý vị quan khách,
Theo thông lệ, đại lễ Vesak, cả thế giới, ai cũng nhắc đến kỷ niệm ba sự kiện lớn cùng hội tụ trong một ngày trăng tròn tháng Vesak: Thứ nhất là nhân và duyên mà đức Bồ-tát của chúng ta từ cung trời Tusita (Đẩu Suất) hạ phàm vào lòng mẹ Mahāmāyā (Ma-da), kinh thành Kapilavatthu (Ca-tỳ-la-vệ), đản sanh tại vườn Lumbinī (Lâm-tỳ-ni); thứ hai là đức Bồ-tát của chúng ta sau sáu năm lầm lạc tu tập khổ hạnh tại núi Gayāsisa (Tượng Đầu sơn), sau đó từ bỏ lối tu hành ép xác, thực hiện pháp hành trung đạo rồi đắc thành quả vị Chánh Đẳng Giác dưới cội bồ-đề, bên sông Nerañjārā (Ni-liên-thuyền) tại xứ Uruvelā; thứ ba là sau 45 năm hoàng hóa trên hằng chục quốc gia và tiểu quốc hai bên lưu vực sông Gaṅgā (Hằng), đem lại lợi lạc tối thượng là giải thoát và an vui cho trời và người – lúc 80 tuổi, đức Phật đã thị tịch Niết-bàn giữa hai cội cây sāla, tại Kusinārā, quốc độ Malla. Ở đây, chúng tôi không nhắc đến ba tích ấy, ba sự kiện lớn ấy, ba nội dung vĩ đại ấy – vì đã là Phật tử thì ai cũng đã biết rõ cả rồi. Chúng tôi muốn nói đến điều khác, cái khác, cái ẩn tiềm bên trong ba sự kiện ấy.
Trên thế gian, có những cái hình mất đi nhưng còn lưu lại bóng, có những âm thanh diệt mất nhưng còn lại tiếng vang, có một vài loại hoa đã tàn nhưng hương thơm còn phảng phất. Hiện thân của đức Phật và giáo pháp của ngài cũng tương tự như thế. Chính cái còn lại, chính cái tồn tại qua thời gian, chính cái ý nghĩa và giá trị nhân văn của đạo Phật mới nội hàm một sức sống mãnh liệt, một năng lượng tâm linh sung mãn, mát mẻ và an lành có thể cứu độ cho xã hội và con người trong thời đại hiện nay đang trên đà suy thoái văn hóa đạo đức, đang bị ô nhiễm cả tinh thần lẫn vật chất.

Kính thưa liệt quý vị,
Đạo Phật là đạo hòa bình, không đao, không trượng, không chia rẽ, không hận thù, không chiến tranh, không giết chóc. Đạo Phật là vì con người và cho cuộc đời. Hơn hai ngàn rưỡi năm qua, đạo Phật đi đến đâu thì mang đến đấy trí tuệ và từ bi. Thông điệp của đức Chánh Đẳng Giác từ ngàn xưa, bây giờ đã đi vào những trường thiền, những lớp học thiền trên khắp thế giới; đã đi vào những trại tù binh, những bệnh xá, bệnh viện và trên 250 trường đại học khắp các quốc gia tiên tiến; đã đi vào chương trình nghị sự của Liên Hiệp Quốc về những vấn nạn chiến tranh tôn giáo, sắc tộc, khủng bố, biến đổi khí hậu, thời tiết, ô nhiễm môi sinh,...Nơi nào khổ đau thì nơi ấy đạo Phật có mặt: Những khổ đau về tinh thần và thể xác. Những khổ đau vì dịch bệnh, bão lũ, động đất, sóng thần, núi lửa. Những khổ đau do xung đột quốc gia, chủng tộc, cha mẹ, vợ chồng, con cái. Những khổ đau do vô cảm, ích kỷ, bạo tàn. Những khổ đau vì si mê, cuồng tín, kiêu căng và độc ác. Những khổ đau do tham vọng tâm linh hay tham vọng quyền lực,... Tất thảy, tất thảy đều cần phương thuốc trí tuệ và từ bi của đạo Phật. Cũng từ trí tuệ và từ bi ấy mà những giá trị tinh thần tương thuộc như sáng suốt, tỉnh thức, giác niệm, tình thương, bao dung, nhân ái,... sẽ đi vào lòng người và xã hội – không phân biệt giai cấp, chủng tộc, nam nữ hay trẻ già,... Và những đóa hoa trí tuệ và từ bi có giá trị hiện thực ấy đang được nở rộ khắp mọi nơi. Thế giới đang ngưỡng vọng về đức Phật và giáo Pháp của ngài – một chân lý đại toàn và thực tiễn – có thể cứu độ khổ đau vô lượng cho muôn sinh. Do vậy, người tu Phật, mọi người tu Phật phải tu tập thực sự để chuyển hóa chính mình chứ không phải là trầm hương nghi ngút, cúng sao giải hạn, van vái cầu xin những ước mơ dung tục của đời thường. Mệnh lệnh tối hậu của giáo pháp Phật là giải thoát tất thảy mọi khổ đau nội tâm trong những hoàn cảnh tương sinh, tương thuộc. Rồi giúp đỡ cho mọi người xung quanh mình, người này và người kia, quốc độ này và quốc độ khác. Từ đó, những phẩm tính trong lành và tốt đẹp ở trong tôi, trong anh, trong chị, trong mọi gia đình, xã hội sẽ lây lan ảnh hưởng, tạo nên một năng lượng an lành phủ trùm mọi châu lục. Và khi ấy, cây khô cũng nẩy chồi, sa mạc cũng nở hoa, đêm tối cũng được thắp đèn, ngu dốt lại được sáng trí, độc ác cũng phải buông đao và tham vọng, ích kỹ cũng phải biết mở lòng độ lượng. Đấy mới chính là ý nghĩa đích thực và cao cả của ngày đại lễ Vesak có giá trị nhân văn ngàn đời mà không có một giáo chủ, một chân sư, một đại đạo sư, một chủ thuyết, một học thuyết, một triết lý, một tôn giáo nào trên thế gian này có thể thực hiện được, thành tựu được.
Cuối cùng, thay mặt chư tôn trưởng lão, đại đức Tăng Ni Phật giáo Nguyên Thủy Thừa Thiên – Huế, kính chúc chư Phật tử, quý vị quan khách cùng gia đình, thân quyến một mùa Vesak hỷ hoan, hiền thiện và an lành.
Xin kính chào và vô cùng trân trọng.
Namo Buddhāya.

Thursday, May 3, 2012

Lan man trước mùa Vesak 2556 về

Sống theo Pháp (Dhamma), hành theo Pháp, là những hành động không bình thường. Khác với mọi người chung quanh.

Khi đức Phật còn là Bồ tát ngồi dưới cội Bồ đề, trước khi thành Đạo Quả Chánh Đẳng Giác, khi nàng Sujātā mang dâng Ngài chiếc mâm vàng đựng cơm sữa, đức Bồ tát sau khi độ ngọ, đã thả chiếc mâm vàng xuống dòng sông trước mặt, và nguyện nếu như cái mâm trôi ngược so với dòng nước, thì Ngài sẽ giác ngộ. Và cái mâm đã trôi ngược dòng! Điều đó có lẽ muốn nhắn nhủ với chúng ta rằng khi ta sống với Pháp, chúng ta phải đi ngược lại với dòng chảy của bản năng, của các khuynh hướng tự nhiên ở đời. Chúng ta phải đi ngược lại với những sự dễ dãi, thoải mái, những gì mà tất cả mọi người khác đều theo đuổi. Chảy ngược dòng bao giờ cũng khó hơn là thuận, xuôi theo dòng.

Thành công của việc sống thuận theo Pháp thật ý nghĩa, thù thắng, vĩnh hằng qua bao kiếp sống. Mọi sự thành công của lý trí và vật chất chỉ vỏn vẹn vài ba chục năm của kiếp người, nếu có rơi sót lại chỉ để người khác hưởng. Vì sao đi ngược lại với bản năng, với khuynh hướng đời thường cho chúng ta sự thù thắng, bởi chúng ta đã vượt thoát khỏi sự sợ hãi, vượt qua sự chi phối của thời gian, đã làm chủ bản thân là cái tâm bị phiền não làm ô nhiễm. Làm chủ tâm ý tức là chúng ta sở hữu tài sản là sự định tâm và tỉnh giác, là nhân để giải phóng khỏi mọi ràng buộc - một sự thành công mỹ mãn và xứng đáng cho việc sống thuận theo Pháp, ngược theo dòng đời.

** TP.PA **

Tuesday, April 3, 2012

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỘNG TỪ “BIẾT” (JĀNĀTI)

By Bhikkhu Indacanda in  PALI-Chuyên Đề FB Group.
Những điều trình bày ở dưới đây ghi lại từ sự hiểu biết của cá nhân, theo trí nhớ, chỉ trình bày khái quát, mong rằng người đọc nên cẩn thận lúc tham khảo và sử dụng:
- jānāti = tri, biết. Danh từ liên quan có thể ghi là ñāṇaṃ = trí. ĐỘNG TỪ “BIẾT” ĐƯỢC HIỂU THEO NGHĨA THÔNG THƯỜNG CỦA TIẾNG VIỆT: Tôi biết cái đó.
- pajānāti = tuệ tri, nhận biết, (cái biết do nhận thức chơn chánh, sáng suốt, NTD). Danh từ là paññā = tuệ. CŨNG LÀ BIẾT, NHƯNG TRONG CÁI BIẾT NÀY CÓ MỘT SỰ HƯỚNG ĐẾN, CÓ MỘT SỰ NỖ LỰC, với sự thêm vào của tiếp đầu ngữ pa.
 (Hai từ Trí và Tuệ ở trên chỉ thấy được sử dụng ở ngữ cảnh khác có tầm quan trọng hơn).
- vijānāti = nhận thức (từ của HT. MC ?), (thức tri, cái biết do nhận thức bằng các giác quan đơn thuần, NTD). Danh từ là viññāṇaṃ = thức. BIẾT VỚI SỰ PHÂN BIỆT RẠCH RÒI, BIẾT CÁI NÀY VÀ CÁI KHÁC, tiếp đầu ngữ vi có thể hiểu là tách ra, chia chẻ.
- sañjānāti = tưởng tri, nhận biết (cái biết của tưởng hay tri giác). Danh từ là saññā = tưởng. BIẾT DO TỰ MÌNH, tiếp đầu ngữ saṃ có nghĩa là: do bản thân, của bản thân, tự mình. 
- parijānāti = liễu tri, biết toàn diện. BIẾT TRỌN VẸN, BIẾT ĐẦY ĐỦ, tiếp đầu ngữ pari có nghĩa là vòng tròn, bao quanh lại.
- abhijānāti = thắng tri, biết rõ ràng không bị mê mờ. BIẾT MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT, MỘT CÁCH QUAN TRỌNG, tiếp đầu ngữ abhi là ở trên, cao thượng.
- paṭijānāti = cho biết, hứa hẹn, bằng lòng, (to acknowledge, agree to, approve, promise, consent - ghi theo tự điển), (ứng tri: ứng ra để biết, NTD). LÀM CHO ĐỐI TƯỢNG KIA NHẬN BIẾT, tiếp đầu ngữ paṭi có nghĩa là nghịch lại, đối đầu. Ví dụ gacchati là đi, paṭigacchati là đi ngược chiều.
-------------------
- yathābhūtaṃ pajānāti = như thật tuệ tri, nhận biết đúng theo thực thể (biết như thực, biết như đang là, NTD). Cả cụm từ này mới là “seeing as it is”, as it is = yathābhūtaṃ.

Tuesday, March 27, 2012

NGÔN NGỮ CỦA TÂM

Ngài Ðại Ðức Acharn Mun dạy rằng tâm của tất cả mọi người đều có ngôn ngữ giống nhau. Dầu ta nói tiếng gì, dầu ta là người thuộc dân tộc nào, tâm chỉ là sự hay biết. (Lời người dịch: chữ tâm được phiên dịch từ phạn ngữ "चित्त - citta". Bản Chú giải định nghĩa là cái gì hay biết một đối tượng). Vì lẽ ấy Ngài nói rằng tất cả tâm đều có ngôn ngữ giống nhau. Khi một ý nghĩ phát sanh, chúng ta hiểu nó, nhưng khi chúng ta diễn đạt ra thành lời, nó trở thành ngôn ngữ này hay ngôn ngữ nọ. Do đó chúng ta không thật sự thông hiểu lẫn nhau. Mặc dầu vậy, những cảm giác sâu kín trong lòng mỗi người đều như nhau. Giáo Pháp thích ứng với tâm một cách toàn hảo bởi vì Giáo Pháp không phải là ngôn ngữ của một dân tộc đặc biệt nào. Giáo Pháp là ngôn ngữ của tâm. Giáo Pháp cùng ở chung với tâm.
Thỏa thích và đau khổ cùng ở chung với tâm. Những hành động tạo thỏa thích và đau khổ trước tiên được suy tư và phát xuất từ trong tâm. Tâm là cái gì hay biết hậu quả của những suy tư ấy, phát hiện dưới hình thức thỏa thích hay đau khổ. Tâm phải gồng gánh hậu quả những suy tư của chính nó. Ðây là lý do tại sao tâm và Giáo Pháp tương ứng với nhau một cách toàn vẹn. Dầu ngôn ngữ và quốc tịch của ta là gì, tất cả chúng ta đều có thể thấu hiểu Giáo Pháp, bởi vì Giáo Pháp và tâm là một cặp, do bản tánh tự nhiên của nó.
Tâm là phần nòng cốt bên trong cơ thể, là phần chánh yếu, là cái cốt lõi, là thực chất, là tinh chất cơ bản bên trong thể xác. Nó là nền tảng. Những hiện tượng khởi phát từ trong tâm, như những tư tưởng khởi hiện rồi tan biến, hiện rồi biến, mãi mãi lặp đi và lặp lại. Nơi đây chúng ta đề cập đến tình trạng khuấy động của tâm. Khi tâm chao động, đó là một tư tưởng vừa mới được cấu tạo. Tưởng uẩn, vốn liên quan đến sự liên tưởng, hồi nhớ và nhận ra, được gọi là saññā (सञ्ञा). Những "tư tưởng dài" là saññā, tưởng uẩn. "Tư tưởng ngắn" là saṅkhāra (सङ्खार), hành uẩn. Nói cách khác, khi tư tưởng được cấu thành -- "blip" -- đó là hành uẩn, saṅkhāraSaññā, tưởng uẩn hàm xúc ý nghĩ nhận ra và đặt tên. Thức uẩn, viññā(विञ्ञाण), là sự ghi nhận mỗi khi có trần cảnh xuất hiện và tiếp xúc với giác quan, như khi có một hình thể (sắc trần) giao tiếp với mắt (nhãn căn) ắt có sự thấy (nhãn thức). Tất cả những hiện tượng này luôn luôn tự nó phát sanh rồi hoại diệt, và Ðức Phật gọi là khandha (खन्ध), uẩn. Mỗi "đống" hay "nhóm" được gọi là khandha, uẩn. Năm uẩn (pañca khandha - पञ्चखन्ध, ngũ uẩn) này luôn luôn khởi phát rồi tan biến, không ngừng sanh diệt. Chí đến chư vị A-La-Hán cũng cùng ở trong trường hợp như vậy, giống hệt như một người bình thường và bất cứ ở đâu. Chỉ có điểm khác là ngũ uẩn của các Ngài hoàn toàn trong sạch và đơn giản, không chứa chấp những ô nhiễm truyền lệnh cho các Ngài phải làm điều này hay suy tư điều nọ. Thay vì thế, ngũ uẩn của các Ngài tự do sinh hoạt theo bản chất giải thoát tự nhiên của nó mà không bị bắt buộc phải suy tưởng thế này thế nọ như tâm của người thường nói chung. Ðể so sánh, ngũ uẩn của người thường giống như tù nhân trong ngục thất, luôn luôn bị sai khiến. Những tư tưởng, những ghi nhận, những nhận định và những suy diễn khác nhau của người thường luôn luôn bị ra lệnh, luôn luôn bị một năng lực ngoại lai nào đó bắt buộc phải phát hiện, suy tư, nhận định và diễn dịch như thế này hay thế nọ. Nói cách khác, nó bị ô nhiễm làm chủ, chỉ đường dẫn lối, sai khiến, cưỡng bách nó phải phát hiện. Ngũ uẩn của chư vị A-La-Hán thì không phải vậy. Khi một tư tưởng cấu hợp, nó chỉ đơn giản cấu hợp. Một khi đã hợp thành, nó đơn giản tan biến. Không có một chủng tử để nuôi dưỡng nó tiếp tục, không có chủng tử đè nặng trên tâm, bởi vì không có gì cưỡng bách, bắt buộc nó phải như thế nào, không giống như ngũ uẩn mà bị ô nhiễm thống trị hay nằm dưới quyền lãnh đạo của nó. Ðó là điểm khác biệt.
Nhưng bản chất của ngũ uẩn vẫn như nhau. Tất cả các uẩn mà chúng ta đề cập trên đây đều vô thường (anicca - अनिच्च). Nói cách khác, trạng thái bất ổn định và luôn luôn biến đổi là một phần dính liền theo bản chất tự nhiên của nó, bắt đầu từ sắc uẩn, cơ thể chúng ta, và thọ uẩn, những cảm giác thỏa thích (thọ lạc), đau khổ (thọ khổ) và những cảm giác không thỏa thích không đau khổ (thọ vô ký). Các uẩn này phát sanh rồi hoại diệt, triền miên lặp đi lặp lại. Tưởng uẩn, saññā, hành uẩn, saṅkhāra, và thức uẩn, viññāa, cũng ở trong trạng thái luôn luôn sanh diệt, vốn là một phần dính liền với bản chất tự nhiên của nó.
Nhưng sự hay biết thật sự -- vốn hợp thành nền tảng kiến thức của chúng ta về những sự vật khác nhau không ngừng sanh diệt -- thì không tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể tan biến. Ta có thể nói rằng tâm không thể khởi sanh. Như vậy, một cái tâm mà đã được thanh lọc đầy đủ không còn vấn đề phiền phức nào liên hệ đến hiện tượng sanh và tử của thân và các uẩn; và như vậy không còn sanh nữa, ở đây hay ở đâu khác, không còn phát hiện trong những hình thể thô thiển như một cá nhân, hay một chúng sanh bởi vì tâm đã hoàn toàn trong sạch. Nhưng còn những người mà tâm chưa được thanh lọc: Họ là những người còn ở trong sanh và tử triền miên, những người luôn luôn để mắt trông chừng nghĩa địa, và tất cả chỉ vì cái tâm không chết.
Vì lẽ ấy Ðức Thế Tôn ban truyền giáo huấn cho thế gian, đặc biệt là thế giới loài người, vì con người hiểu biết điều phải lẽ trái, biết điều nào là thiện và điều nào là bất thiện; biết bảo tồn nuôi dưỡng cái này và sửa sai chữa trị cái kia; thông hiểu ngôn ngữ của Giáo Pháp mà Ngài giảng dạy. Vì lẽ ấy Ngài dạy thế gian loài người vượt lên trên và vượt ra ngoài các thế gian khác. Ngài dạy để chúng ta có thể cố gắng chữa trị, sửa sai những gì gây thiệt hại và tổn thương, tách rời nó ra khỏi hành động, lời nói và tư tưởng, để chúng ta có thể gia công nuôi dưỡng và bảo tồn những gì tốt đẹp đã sẵn có và tạo duyên, làm khởi phát những thiện pháp mà ta chưa có. Ngài dạy chúng ta dưỡng nuôi và phát triển những thiện pháp sẵn có để cung ứng chất dinh dưỡng cho tâm, làm cho tâm tươi tỉnh và an lành, nâng đỡ cho nó ở một mức độ đức hạnh khả quan, trau giồi thiện pháp, để khi tách rời khỏi thân xác hiện tại này và hướng về bất luận nơi nào hoặc cảnh giới nào cái tâm mà đã được dưỡng nuôi trong thiện pháp sẽ là một cái tâm tốt. Bất luận nơi nào mà nó đến nó sẽ đến một cách tốt đẹp. Bất luận ở nơi đâu mà nó được tái sanh vào nó sẽ tái sanh an lành. Bất luận sống ở cảnh giới nào, đó là cảnh giới nhàn lạc. Nó sẽ tiếp tục chứng nghiệm trạng thái an vui hạnh phúc cho đến khi tích tụ đầy đủ khả năng, tiềm lực và phước báo để vượt qua khỏi thế gian và chứng ngộ giải thoát.
Khả năng, tiềm lực và phước báo phải được tuần tự trau giồi và phát triển từ quá khứ đến hiện tại. Hôm qua là quá khứ của ngày hôm nay, hôm nay là vị lai của ngày hôm qua, mỗi ngày trong tất cả những ngày quá khứ và hiện tại ấy ta phải gia công dưỡng nuôi và phát triển thiện pháp, tuần tự từng bước tiến cho đến khi, nhờ sự hỗ trợ của thiện pháp, tâm vững chắc dũng mãnh để vượt thoát ra khỏi thế gian. Một cái tâm như thế ấy không còn tái sanh nữa, dầu sanh vào cảnh giới nhàn lạc và vi tế nhất của chúng sanh, vốn còn tiềm tàng dấu vết của thực tại quy ước (sammuti - सम्मुति) -- đó là sanh và chết như chúng ta. Một cái tâm như thế ấy đã vượt ra khỏi những hiện tượng sanh và tử tương tợ. Ðó là tâm của chư Phật và chư vị A-La-Hán. Tích chuyện Ðại Ðức Vangisa cho ta một ý niệm về vấn đề này. Khi còn tại gia cư sĩ, Ðại Ðức Vangisa có biệt tài là biết được vong linh của một người chết đã tái sanh vào cảnh giới nào, dầu người ấy là ai. Ta không thể nói ông là một phù thủy hay một thầy bói. Thật sự ông là một đại sư nắm vững vấn đề tâm lý. Khi có người chết ông lấy sọ của người ấy và gõ trên đó -- cốc! cốc! cốc! -- rồi tập trung tư tưởng... và biết rõ người này tái sanh về đâu. Nếu người chết tái sanh vào địa ngục, hay cảnh Trời, làm thú hay làm ngạ quỷ ông ta có thể nói liền mọi trường hợp không chút do dự. Ông chỉ cần gõ trên cái sọ của người ấy. Khi nghe bạn bè mách bảo rằng Ðức Phật còn tài giỏi hơn gấp mấy lần như thế ấy thì ông muốn mở rộng kiến thức, đến hầu Phật xin thọ giáo để học hỏi thêm về khoa này. Khi đến nơi, Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A-La-Hán để ông gõ thử, "Ðược rồi! Để xem ông thiện nam có thể nói người này đã tái sanh về đâu không". Ðại Ðức Vangisa gõ vào cái sọ và lắng tai nghe. Im lặng. Ông gõ nữa và lắng nghe. Im lặng. Ông ngừng lại, suy gẫm. Im lặng. Ông tập trung tâm lực. Im lặng. Ông không thể tìm thấy chủ của cái sọ đã tái sanh về đâu. Hết phương, ông thành thật nhìn nhận rằng mình không thể biết người chết này tái sanh về đâu. Lúc ban đầu vị cư sĩ mà sau này là Ðại Ðức Vangisa nghĩ rằng mình tài giỏi, thông minh và đã tinh thông lão luyện trong nghề nên có ý định đến so tài với Ðức Phật rồi mới xin thọ giáo. Nhưng khi đến nơi, Ðức Phật đưa cho ông cái sọ của một vị A-La-Hán để gõ -- và ngay tại đây ông thảm bại. Giờ đây thật sự ông muốn xin học thêm, nghĩ rằng sau khi gia công tu luyện ông sẽ còn tài giỏi hơn trong hiện tại nhiều -- quả thật đặc biệt! Sự việc đã xảy ra như vậy, ông xin theo học với Ðức Phật. Và Ðức Phật dạy ông khoa học. Ngài dạy ông một phương pháp -- nói cách khác, Ngài dạy ông khoa học của Giáo Pháp. Ðại Ðức Vangisa thực hành và gia công thực hành cho đến khi cuối cùng, đắc Quả A-La-Hán. Từ đó Ðại Ðức không còn hứng thú gõ vào sọ ai nữa, ngoại trừ "cái sọ của chính mình". Một khi đã thấu rõ ràng thì vấn đề tự nhiên chấm dứt. Ðiều này gọi là "gõ đúng vào cái sọ".
Lần nọ, Ðức Phật có nêu lên vấn đề cái tâm mà không còn tái sanh -- đầu lâu của người mà tâm đã được thanh lọc hoàn toàn. Dầu Ðại Ðức Vangisa có gõ vào đó bao nhiêu lần và dầu Ngài đã tinh thông lão luyện về khoa này đến đâu cũng không thể biết được cái tâm ấy tái sanh về đâu, bởi vì nơi chốn mà tâm hoàn toàn trong sạch tái sanh vào, quả thật không thể tìm biết. Trường hợp của Ðại Ðức Godhika cũng vậy: Câu chuyện này có thể là thức ăn tinh thần rất bổ ích. Ðại Ðức Godhika hành thiền, tiến bộ dần dần từng bậc, nhưng rồi bị trở ngại, thụt lùi. Tích chuyện thuật rằng Ngài thoái bộ sáu lần như vậy. Sau khi thất bại lần thứ bảy, vì tinh thần quá suy sụp, Ngài dùng dao tự khứa cổ mình, nhưng không chết. Lúc tỉnh lại Ngài quán chiếu Giáo Pháp và đắc Quả A-La-Hán vào khoảnh khắc cuối cùng. Vắn tắt, đó là câu chuyện. Khi Ngài tịch diệt, đạo quân của Ma Vương kéo nhau đi tìm hương linh của Ngài. Nói một cách đơn giản, chúng quậy trời khuấy nước để tìm biết Ngài tái sanh về đâu, nhưng không thể được. Lúc bấy giờ Ðức Thế Tôn mở lời, "Dầu có đào xới, tìm tòi hay tra hỏi thế nào đi nữa bọn ngươi sẽ không thể tìm ra hương linh của Godhika, con Như Lai, vốn đã viên mãn hoàn thành nhiệm vụ. Dầu có lật ngược, làm đảo lộn thế gian đi nữa cũng chỉ thế mà thôi, bởi vì điều ấy đã vượt ra ngoài phạm vi của thực tại quy ước". Làm sao Ma Vương tâm xấu ác và đạo binh của Ma Vương có thể tìm được? Làm thế nào khả năng của người còn ô nhiễm trong tâm có thể hiểu biết được tâm lực đã đoạn tận ô nhiễm của một vị A-La-Hán? Không thể được!
Trong phạm vi quy ước của người thế gian không ai có thể theo dõi con đường mà tâm của một vị A-La-Hán trải qua, bởi vì tâm của vị A-La-Hán đã vượt qua khỏi thế gian quy ước, mặc dầu vẫn giống như của chúng ta vị đó cũng sống trong thế giới quy ước. Hãy suy gẫm về điểm này: Dầu cái tâm chao động và chậm tiến của ta có sao đi nữa, khi đã thanh lọc tuần tự, liên tục, không ngừng, không gián đoạn, một cách kiên trì không thối chuyển, nó cũng sẽ dần dần đến vi tế cùng tột. Ðến chừng đó chính trạng thái vi tế cũng sẽ tan biến -- bởi vì trạng thái vi tế cũng là thực tại quy ước -- chỉ còn lại bản chất vàng ròng thuần túy, bản chất uyên nguyên của Giáo Pháp, gọi đó là tâm thanh tịnh, hoàn toàn trong sạch. Chừng đó chính chúng ta cũng sẽ không còn vấn đề khó khăn nào nữa, như các vị A-La-Hán, bởi vì tâm của chúng ta đã trở thành siêu tuyệt, giống như tâm của những vị đã thành đạt giải thoát.
Tất cả tâm cùng loại ấy đều giống nhau, không có sự phân biệt nào chia cách nam và nữ. Nam tính hay nữ tính chỉ là vấn đề quy ước của thế gian. Ðối với tâm không có sự phân chia giữa nam và nữ, và tất cả, dầu là quý ông hay quý bà, đều có khả năng giống nhau để thực hành Giáo Pháp. Cả hai phái, nam và nữ, đều có khả năng thành đạt những tầng Thánh Quả khác nhau, dài dài suốt Con Ðường, cho đến mức giải thoát. Trong lãnh vực này không có hạn định nào cho bất cứ ai. Tất cả những gì cần thiết chỉ là phát triển đầy đủ năng lực và tiềm năng. Rồi tất cả mọi chúng ta đều có thể vượt sang bờ bên kia.
Vì lẽ ấy chúng ta nên tận lực rèn luyện tâm và trí. Tối thiểu đi nữa chúng ta cũng nên đạt đến tình trạng tĩnh lặng và an lạc, với bất luận đề mục hành thiền (hay công án) nào có thể ru dỗ tâm vào trạng thái vắng lặng, và từ vắng lặng phát sanh an lạc thanh bình và thoải mái bên trong. Thí dụ như pháp niệm hơi thở, vốn là đề mục rất phổ thông trong giới hành giả, hình như thích hợp với nhiều người hơn các đề mục khác. Nhưng dầu bất cứ đề mục nào, hãy lấy đó làm nguyên tắc căn bản, làm nơi ẩn trú, làm chỗ nương tựa cho tâm. Hãy áp dụng nó vào pháp hành để rèn luyện, làm cho tâm ngơi nghỉ và an lạc.
Khi tâm bắt đầu lắng đọng, chúng ta sẽ khởi sự nhìn thấy bản chất chánh yếu và giá trị của nó. Chúng ta sẽ bắt đầu nhận thức tâm là gì và tâm là thế nào. Nói cách khác, khi tất cả những thành phần của tâm tập trung lại và tụ hội vào một điểm duy nhất như chỉ đơn giản là sự hay biết bên trong nó thì đó được gọi là "tâm" (citta). Trạng thái gom tâm xảy diễn ở nhiều tầng lớp khác nhau, tương ứng với khả năng và những mức độ vi tế khác nhau. Cho dù tâm còn ở mức độ thô thiển đi nữa ta cũng có thể hiểu biết khi nó tụ hội lại bên trong. Khi tâm trở nên ngày càng vi tế hơn chúng ta sẽ hiểu biết trạng thái vi tế của nó -- "Tâm này thật là vi tế... Tâm này quả thật sáng ngời... Tâm này vô cùng tĩnh lặng... Tâm này thật vô cùng kỳ diệu" -- càng ngày càng thêm lên, tiến từng bước một, cũng chính cái tâm này!
Trong khi gội rửa và rèn luyện tâm nhằm đạt đến trạng thái vắng lặng, trong khi, với trí tuệ (paññā - पञ्ञा), quán chiếu, nhìn vào và giải quyết những vấn đề khó khăn của tâm -- vốn là phương cách làm cho tâm tiến triển hay làm cho ta có khả năng thấu đạt thực tướng của tâm, từng bước một, bằng những phương tiện đề cập ở trên -- dầu tâm còn thô thiển thế nào, không nên lo ngại. Nếu chúng ta thật sự tinh tấn và chúng ta liên tục kiên trì, với cái vốn kiên trì nỗ lực chuyên cần ấy, trạng thái thô thiển sẽ dần dần phai mờ và tan biến. Trạng thái tâm vi tế sẽ dần dần phát hiện, do nhờ công phu thực hành và đức kiên trì tinh tấn của ta, chí đến khi chúng ta có đủ khả năng vượt qua khỏi bờ mê và thành tựu giải thoát bằng cách phá vỡ, đập tan nhiễm ô ra từng mảnh vụn. Ðây là điều chắc thật cho tất cả, nam cũng như nữ.
Tuy nhiên, trong khi ta chưa đạt đến mức độ có khả năng làm được như vậy, chớ nên lo ngại. Tất cả những gì cần làm trong hiện tại là phải giữ cái tâm trong khuôn khổ kỷ cương để nó có thể là nơi ẩn trú, là chỗ nương tựa cho chính nó. Còn thân này, chúng ta đã nương nhờ nơi nó từ thủa mới ra đời. Ai cũng biết như vậy. Chúng ta đã làm cho nó sống, nằm, ngồi, đi tiểu tiện, đại tiện, làm việc, sinh sống. Ta đã sử dụng nó và nó đã sử dụng chúng ta. Ta đã sai khiến nó và nó truyền lệnh điều khiển chúng ta. Thí dụ như chúng ta bắt nó làm việc và nó làm cho chúng ta đau khổ, đau chỗ này, nhức nơi nọ, và chúng ta phải tìm thuốc để chữa trị cho nó. Nó là người bị đau và nó là người đi tìm thuốc. Cũng nó là người giúp phương tiện. Và cứ thế, ngày này qua ngày khác, chúng ta tự hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau.
Khó mà nói rõ là ai chịu trách nhiệm, thân này hay ta. Ðôi lúc chúng ta sai khiến nó, nhưng luôn luôn nó điều khiển ta. Bệnh hoạn, đói, khát, buồn ngủ: Tất cả chỉ là một khối đau khổ và phiền lụy trong đó cơ thể này không ngừng sai khiến chúng ta, và nó sai khiến từ mọi phía. Ta chỉ có thể điều khiển nó được đôi chút. Do đó, khi thời cơ đến, đúng lúc ta có thể điều khiển, "hãy bắt nó hành thiền".
Vậy, hãy bắt tay vào việc. Ngày giờ nào mà cơ thể này còn sinh hoạt bình thường, dầu công việc có bề bộn hay nặng nhọc đến đâu, hãy tiến hành ngay. Nhưng khi thân không thể hoạt động bình thường như lúc bịnh hoạn, ta cần phải để ý xem nó có thể làm việc được đến đâu.
Còn cái tâm thì khác, hãy tiếp tục kiên trì tinh tấn, hãy nỗ lực không thối chuyển, bởi vì đó là nhiệm vụ chánh yếu của quý vị.
Từ thủa nào, đã quá lâu rồi, quý vị sống tùy thuộc nơi thân. Giờ đây nó đã hao mòn suy nhược, hãy hiểu biết rằng thân của quý vị đã mỏi mòn yếu kém -- phần nào còn có thể hoạt động, phần nào đã hết khả năng sinh hoạt. Quý vị là người gánh chịu trách nhiệm. Quý vị hoàn toàn hiểu biết như vậy. Chính quý vị phải tự lo liệu và châm chước để giữ thăng bằng.
Nhưng cái tâm thì không cùng bệnh hoạn với thân. Tâm phải gia tăng cố gắng để tránh khỏi việc lỡ mất cơ hội thọ lãnh những lợi ích mà thân có thể tạo cho. Hãy nâng cao mức độ của tâm và khép nó vào khuôn khổ kỷ cương -- kỷ cương trong cuộc sống, kỷ cương lúc lìa đời. Bất luận nơi nào mà nó tái sanh vào, hãy làm cho nó nằm trong khuôn khổ mẫu mực, ở mức độ đạo đức thanh cao. Cái mà được gọi là phước báo (puñña - पुञ्ञ) không bao giờ phản bội niềm hy vọng và lòng trông đợi của quý vị. Phước báo lúc nào cũng sẽ cung cấp cho quý vị những hoàn cảnh thuận lợi đúng theo nghiệp lành tích trử và những tình trạng an vui hạnh phúc mà toàn thể thế gian đều ham muốn và không ai cho là quá đủ. Nói cách khác, điều mà thế gian hằng mong mỏi muốn được là tình trạng an lành, bất cứ loại an lành nào, và đặc biệt là trạng thái tâm an lành, phát sanh dần dần từng giai đoạn nhờ vào những nghiệp lành cao thượng và tốt đẹp.
Ðó là tình trạng an lành hợp thành phần nòng cốt hay tinh chất chánh yếu rất quan trọng bên trong tâm. Ta phải kiên trì nỗ lực trong khi thân này còn hoạt động, bởi vì khi kiếp sống đã đến mức tận cùng thì không thể làm gì được. Dầu có thành tựu được nhiều hay ít ta phải chấm dứt tại thời điểm này. Chúng ta ngưng công việc, gác qua một bên, rồi gặt hái phần thưởng của việc làm -- trong kiếp hiện tại này hay trong một kiếp tới. Bất luận gì có thể làm, hãy làm ngay trong hiện tại. Nếu ta có thể vượt qua và thành đạt giải thoát, đó là mức cùng tột của tất cả những vấn đề khó khăn. Sẽ không còn gì lôi cuốn ta vào phiền lụy.
Nơi đây chúng ta đề cập đến tâm vì tâm là vấn đề căn bản sơ khởi. Chúng ta ra đi an lành hay không, hạnh phúc hay đau khổ tất cả đều chỉ do nơi tâm.
Cái mà người ta gọi là nghiệp bất thiện (akusala kamma - अकुसलकम्म) cũng nằm bên trong tâm và do nơi tâm tạo nên. Dầu ta còn nhớ nó không, hột giống đã gieo -- đã nằm bên trong tâm -- không thể ngăn cản nó trổ quả, bởi vì nó đã đâm chồi mọc rễ trong tâm. Chúng ta phải chấp nhận cái nghiệp của mình. Không nên chạy tội. Một khi đã tạo nghiệp thì nghiệp đã được tạo rồi, làm cách nào có thể chối cãi? Bàn tay đã viết ra chữ, vậy chính bàn tay phải bôi (tẩy) những chữ đã viết. Chúng ta phải chấp nhận theo đúng tinh thần thể thao ngay thẳng trung thực (FairPlay). Ðó là đường lối tự nhiên. Ðối với nghiệp báo nó là vậy, cho đến khi chúng ta thành đạt giải thoát -- chừng đó mọi vấn đề khó khăn sẽ chấm dứt.


Bác Phạm Kim Khánh dịch sang tiếng Việt từ các bài giảng của Venerable Ācariya Mahā Boowa Ñāṇasampanno. Bản tiếng Anh: Straight from the Heart: Thirteen Talks on the Practice of Meditation, Thanissaro Bhikkhu dịch từ tiếng Thái.

Sunday, March 25, 2012

How type in Devanāgarī

The Devanāgarī-QWERTY keyboard layout is designed to ease the process of typing in the Devanāgarī script for those using Roman-alphabet. Wherever possible, Devanāgarī letters are mapped to similar Roman-alphabet keys. The layout is quite simple and consisent, with only a few exceptions.
Consonants:
* Most keystrokes type a single full syllable (with inherent "a" vowel):
    t = त | d = द | n = न | s = स
* The Shift-key usually imply aspiration, or alternate nasals/sibilants:
    T = थ | D = ध | N = ण | S = श
* The AltGr-key(⌥) (Option in Mac OS, Ctrl+Alt or Right-Alt in Windows) allows access to Retroflex consonants, as well as additional nasals/sibilants. Again, adding the Shift-key usually implies aspiration or alternate nasals/sibilants:
    (AltGr-key) t = ट | D = ढ | ñ = ञ | S = ष
Vowels:
* Vowel keys typically represent post-consonantal forms. The Shift-key allows access to long forms:
    t + i = त + ि = ति | d + I = द + ी = दी
* The AltGr-key(⌥) (Option in Mac OS, Ctrl+Alt or Right-Alt in Windows) allows access to full vowel forms:
    (AltGr-key) a = अ | A = आ | e = ए | E = ऐ
Special Characters, Conjuncts, and Shortcuts:
* Common characters like the Anusvara, Visarga, Virama, Avagraha, and Danda can be accessed using the following keys:
    M = ं | H = ः | f = ् | (AltGr-key) ' = ऽ
    . = । | (AltGr-key) >   = ॥
* Consonantal Conjuncts can be formed by placing a Virama in between each consonant in the conjunct:
    t + f + v = त + ् + व = त्व
* Several common letters and conjuncts can be accessed through shortcuts:
    x = ष | X = क्ष | (AltGr-key) s = श्र | (AltGr-key) j = ज्ञ
Roman Letters:
Should you need quick access, the Caps Lock key will allow you to type in the Roman alphabet. Pressing Shift while Caps Lock is active will allow you to type in Roman capitals.

Tuesday, March 20, 2012

MỘT CẢM NHẬN TỪ BÀI KỆ CỦA THIỀN SƯ ĐẠO NGUYÊN

“Thầy là đỉnh núi đá cô liêu ngàn đời tịch mặc,
Trò là con sông dài cuồn cuộn bỏ núi ra khơi.
Còn đây áo cũ ngậm ngùi
Còn đây biển núi nụ cười an nhiên”.

Những viên ngọc ma-ni lấp lánh ẩn mình trên chiếc áo cũ, nó được điểm xuyết bởi một Du Tăng. Vị Du Tăng ấy không ai khác hơn là Ô Chu, đệ tử đầu tiên của Thiền sư Đạo Nguyên thời Kiếm Thương (Kamukara), trong khoảng thế kỷ XI-XII ở Nhật Bản.

Câu chuyện bắt đầu từ một chiếc áo, kỷ vật đơn sơ mộc mạc mà Thiền sư Đạo Nguyên trao cho học trò mình trước lúc ra đi tìm về chân lý. Buổi từ giã hôm đó là một buổi mờ sương, Lão thiền sư ân cần trao cho đệ tử một chiếc áo cũ: “Thầy không có gì để kỷ niệm trước lúc con đi. Đây là chiếc áo năm xưa thầy cho, con bỏ đi, nay thầy khâu vá lại. Con đừng quên nó nhé!”.

Thế rồi, con đường du tăng học đạo của chàng trai ấy dường như không dừng nghỉ. Nghe đâu, chàng nhiều lần bỏ áo, băng rừng, vượt biển để cầu học với các Pháp sư, Thiền sư người Trung Hoa, Miến Điện, Tích Lan và cả Đại Hàn. Chàng đâu biết mỏi mệt, lại ra đi, lại lên đường, con đường nhiêu khê vô định, trên vai vẫn gói hành lý giản đơn: “Bạch thầy ạ ! Con chưa thể dừng chân được. Sinh tử là định mệnh hối thúc không rời. Tri thức con phóng vọt tới đằng trước như một con ngựa bất kham. Nó không cần biết vực thẳm hay thảo nguyên, quê xưa hay đất trích. Bạch thầy ạ, tuy thế còn có chiếc áo cũ của thầy, giáo huấn, nhắc nhở con mỗi khi lầm lỡ. Nó vẫn còn đây. Nó vẫn còn đây”.

Nỗi khát khao cháy bỏng xuất phát từ trái tim vì đạo yêu đời của chàng khiến việc học lẫn việc hành thiền trở thành nỗi đam mê vô hạn. Nơi thiền phòng bao giờ chàng cũng là người đến trước mà ra sau. Rồi chàng lại tiếp tục ra đi, một mình chênh vênh trên núi đá ở vùng Tây bắc Akita, ăn rau, trái cây, sống đời khổ hạnh. Từ giã núi khổ hạnh, chàng về Đông Kinh đăng đàn thuyết pháp. Người người bàng hoàng trước sự thu hút mạnh mẽ của chàng. Chàng rống tiếng Sư tử trước mười ngàn thính chúng cử tọa bao gồm môn sinh và tăng lữ các Tu viện, Thiền viện, Phật học viện … Tiếng tăm về chàng lan rộng khắp nơi và được mọi người kính trọng. Cùng lúc, chàng mất tích.

Giã từ tông phái Nhật Liên của Nhật Liên thượng nhân (Nichiren shonin), thì mái tóc đã điểm bạc, chàng quay lưng về ngọn núi Phú Sĩ bạc đầu, xuyên qua mấy rừng hoa anh đào trở về miền xuôi …

- Bạch thầy ạ, đây là chiếc áo cũ năm xưa, bây giờ con muốn mặc lại, xin thầy cho phép.

Giọng chàng như lạt hẳn đi.

Đôi mắt Lão thiền sư rướm lệ. Có lẽ, đó là những hạt nước mắt đầu tiên và cuối cùng.

- Con nói gì nữa không Ô Chu ! Tóc con bắt đầu đã điểm muối sương rồi.

- Dạ ! ! !

Im lặng.

Tiếng chim vành khuyên hòa nhẹ vào không gian tĩnh lặng, một vài chiếc lá vàng nhạt lạnh mình trên phiến đá, Ô Chu bước vào thiền viện như buổi ban đầu, buổi ban đầu của tân môn sinh đầy vất vả, cực nhọc. Mọi người nhìn Ô Chu nhỏ bé lắm, tầm thường lắm. Bởi lẽ, chữ Phật, chữ Pháp còn không biết thì làm gì, chỉ còn một cách là chấp lao phục dịch.

Ô Chu miệt mài với công việc. Trên người Ô Chu vẫn mặc chiếc áo cũ, chiếc áo đồng hành đã giúp chàng vượt qua biết bao thử thách. Chiếc áo của hạnh nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn,… mà mắt thường không sao thấy được. Những lúc gặp phải chướng duyên nghịch cảnh, Ô Chu mỉm cười với chính mình, mỉm cười với chiếc áo – một nụ cười hoan hỷ.

Đêm về, một màu đen lan tỏa cả không gian thiền viện, tiếng chuông Bát nhã bỗng vang lên dồn dập… 

Thầy vừa tịch.

 . . .

Ô Chu lặng lẽ luồn mình qua các vòm cây, đến quỳ trước tháp thầy, giã từ thiền viện, âm thầm cô liêu hơn cả kẻ từ giã cuộc đời. Chàng đến một động đá trịnh trọng khoát chiếc áo cũ lên người rồi an nhiên thị tịch. Qua ánh sáng mờ từ cửa động hắt vào, người ta thấy được từ trên chiếc áo ấy những dòng chữ chân phương sắc sảo của Lão thiền sư quá cố:

“Y pháp bất y nhân
Y nhân bất y pháp
Nhân pháp liễu mật thâm
Mạc cầu phi thủ trước”.

(Thiền tông đời thứ hai, kiếm thương hưng khởi, Đạo Nguyên Tỳ-kheo; phụng truyền đệ tử trưởng đắc pháp đời thứ ba là Ô Chu).

Pháp, nhân đã cùng tịch diệt với nhau trong động đá. Cỏ cây thản nhiên cùng trời đất, nhịp của đá trổi lên thanh âm vi diệu, nó sống mãi trong lòng nhân sinh.

(Lược truyện Chiếc Áo Cũ ).

P/s:

Bài kệ mà Pháp huynh tình cờ đọc lên nửa dẫn chứng nửa nhắc nhở tôi sau bao vấn đề và sự cố dồn dập trong đời và đạo đầu năm Nhâm Thìn - 2012:
“Y pháp bất y nhân
Y nhân bất y pháp
Nhân pháp liễu mật thâm
Mạc cầu phi thủ trước”. (Thiền sư Đạo Nguyên)

Ngày trước, tôi là người “Y Pháp bất y nhân”. Ngày nay tôi gần như “Y Nhân bất y Pháp”. Như thế đã đủ chưa? Gặp lúc Pháp bất chợt đến hành hạ cho mới bật ngửa ra. Trẻ con lúc đang tập đứng tập đi sau bao vấp ngã phải cẩn thận hơn và biết khôn lên mới trưởng thành được. Chắc người tu phải tiến đến mức thâm sâu hơn, phải hiểu rõ người và Pháp như thực, tức “Nhân Pháp liễu mật thâm”, thì còn chi nữa để mong cầu và chấp thủ. Bản ngã khô héo dần và Sự nghi ngờ ngày càng được khắc phục, Trí Minh Sát ngày càng sáng tỏ. Thật đúng Pháp là người thầy vĩ đại, Bậc Chánh Đẳng Giác là người đầu tiên chỉ ra cho chúng sanh sau bao thiên thu mộng mị vì đắm chìm trong phiền não, thiền sư Đạo Nguyên đúc kết thành bài kệ đầy ý nghĩa và thực tế, hàng hậu thế như tôi chỉ lấy đó làm kim chỉ nam trong bước đường tu tập Đạo Giải thoát Giác ngộ của mình.