Thursday, April 17, 2014

Về vấn đề tình dục trong các tôn giáo


Hầu hết các tôn giáo lớn của nhân loại đều bị ám ảnh ít nhiều bởi vấn đề tình dục. Sự ám ảnh đó chi phối và ảnh hưởng đến các sinh hoạt trong xã hội, các thói tục trong dân gian và có thể cả nền văn hóa của một dân tộc. Riêng đối với Phật giáo thì vấn đề tình dục không được nhắc nhở đến nhiều, không có mấy kinh sách đề cập thẳng đến vấn đề này. Sự yên lặng đó hình như đã chứng tỏ quan điểm hết sức hiển nhiên và tất yếu của giáo lý nhà Phật, không có gì phải bàn cãi hay luận bàn thêm.
Một cách đơn giản, đối với Phật giáo, tình dục là một trong những nguyên nhân và nguồn gốc mang lại si mê, trói buộc và khổ đau.
Ngài Bhante Gunaratana sinh năm 1927 tại Tích Lan (Sri Lanka), thụ phong sa-di lúc vừa được 12 tuổi. Năm 1947, ngài được Hội Maha Bodhi gởi sang Ấn độ chăm lo cho những người thuộc tầng lớp tiện dân sống trong các vùng đô thị lớn như New Delhi và Bombay. Năm năm sau thì ngài lại được gởi sang Mã Lai để giảng dạy Phật pháp và đã lưu lại quốc gia này trong suốt mười năm.
Đến năm 1968 ngài lại được cử sang Mỹ giữ chức vụ Tổng thư ký của Hội Buddhist Vihara tại Washington DC và giảng dạy Phật pháp cho các đại học Mỹ, nhưng về sau thì có một số các đại học khác ở Gia-nã-đại, Úc châu và Âu châu biết đến và cũng đã mời ngài thuyết giảng.
Hiện nay ngài giữ chức vụ chủ tịch Hội Bhavana, đồng thời cũng là viện trưởng trụ trì Tu viện Shenandoah Valley. Ngài phụ trách giảng dạy về thiền và hướng dẫn các khóa ẩn cư cho tu viện, học viên đến từ khắp nơi trên thế giới.
Ngài viết nhiều sách rất nổi tiếng, một trong những quyển sách được biết nhiều nhất là quyển "Hành Thiền Hàng Ngày" (Mindfulness in Plain English), đây là một trong những quyển sách tốt nhất hướng dẫn về thiền Vipassana.

Ký giả Simon Alev của tờ "Giác ngộ là gì" (What is Enlightenment) của Hoa Kỳ phỏng vấn một nhà sư Tích Lan, ngài Bhante Gunaratana về chủ đề Phật giáo và tình dục.

Simon Alev: Những người am tường Phật giáo đều hiểu rằng Đức Phật chủ trương một lối sống xa rời thế tục; và hôm nay đây, ngài là một trong số những người đã hy sinh rất nhiều thì giờ và sinh lực để quảng bá truyền thống tu tập ấy vào thế giới Tây phương. Vì lý do nào Đức Phật đã đặt nặng vấn đề trinh bạch của người tu hành? Tại sao Đức Phật lại xem điều đó quan trọng đến thế?
Bhante Gunaratana: Bởi vì bất cứ ai muốn giải thoát khỏi dukkha, tức là khỏi khổ đau, thì phải tuân thủ một số nguyên tắc đạo đức nào đó. Thật ra thì bất cứ ai muốn chọn cuộc sống của người tu hành đều phải giữ sự trinh bạch. Nếu như còn tiếp tục lăn lộn trong mọi thứ sinh hoạt tình dục thì họ có khác gì đâu với những người thế tục, họ sẽ luôn luôn bị vướng mắc vào vô số những rối rắm liên quan đến tình dục.
Bất cứ ai khao khát cuộc sống của người tu hành đều phải chọn cho mình một lối sống đơn sơ – và cũng chính vì lý do đó mà các truyền thống tu tập đã được hình thành – vì khi suy xét thật cẩn thận chúng ta sẽ nhận thấy chỉ khi nào loại bỏ được mọi ham muốn vô độ, dục vọng và thèm khát thì khi đó mới có thể tự giải thoát cho mình khỏi khổ đau.
Nếu đã quyết tâm muốn vượt lên trên mọi khổ đau thì phải loại bỏ nguyên nhân của chúng, và sự ham muốn tình dục là một trong những nguyên nhân nhất thiết sẽ mang lại khổ đau. Nếu muốn chọn một cuộc sống nơi tu viện thì phải chế ngự được sự ham muốn tình dục vì tu viện không phải là nơi nuôi dưỡng những gì có thể làm phát sinh ra sự thèm khát tình dục.
Simon Alev: Như thế thì trường hợp một người không xuất gia, tức một người thế tục sẽ khó tuân thủ sự trinh bạch, có thể nói là không thể nào thực hiện được?
Bhante Gunaratana: Kể cả những người thế tục cũng cần phải có một cuộc sống kỷ cương; họ phải biết tự kìm hãm trong một khuôn phép nào đó. Chính vì thế đã có những giới luật dành riêng cho họ. Tuy nhiên không bắt buộc những người bình thường cũng phải tôn trọng sự trinh bạch. Dù sao thì người thế tục cũng chỉ có thể đạt được giác ngộ trong một cấp bậc nào đó mà thôi – đây là trường hợp mà chúng tôi gọi chung là những người đã "bước vào dòng luân chuyển" nhưng sau đó "lại quay trở về chốn cũ" – chẳng qua vì họ không đủ sức nhận thấy những liên lụy phát sinh từ tình dục.
Tuy thế cũng có những người thế tục đã đạt được cấp bậc thánh thiện thứ ba, tức là "thể dạng không còn quay trở lại". Một thời gian ngắn sau khi đã bước vào con đường đó thì người thế tục sẽ nhận thấy qua kinh nghiệm và nhận xét của chính mình là những liên lụy với tình dục nhất định sẽ tạo ra cho họ thật nhiều khó khăn trên đường tu tập, và khi đã ý thức được điều đó thì họ sẽ tự động xa lánh những hành vi dục tính.
Sự giữ gìn trinh bạch là một thứ gì mà người ta không thể nào áp đặt bằng sức mạnh được.
Simon Alev: Nếu có thể thì xin ngài hãy trình bày cặn kẽ hơn về các chi tiết cho thấy tại sao phải vượt lên trên tình dục mới có thể thăng tiến trên đường tu tập tâm linh.
Bhante Gunaratana: Bởi vì khi nào còn vướng mắc trong đó, tâm thức ta sẽ luôn luôn bị quấy nhiễu, sẽ rơi vào u tối và hoang mang. Ta sẽ ngụp lặn trong ghen tuông, lo sợ, hận thù, căng thẳng, và những thứ đó sẽ tiếp tục lôi kéo những thứ khác nữa – tóm lại là tất cả những khó khăn phát sinh từ sự ham muốn tình dục. Vậy nếu muốn tự giải thoát khỏi những thứ ấy, trước hết phải loại bỏ những thèm khát tình dục.
Dù sao cũng có một số người không thích các chữ như "loại bỏ" mà chỉ thích dùng những chữ như "vượt lên trên" hay "biến cải". Nói như thế cũng đúng, vì ta có thể biến cải sự thèm khát tình dục thành không-còn-thèm-khát tình dục !
Simon Alev: Tuy nhiên căn cứ theo những gì ngài vừa trình bày thì phải nói là sự loại bỏ mọi ham muốn tình dục thì mới đúng, có phải như thế hay chăng?
Bhante Gunaratana: Đúng như vậy. Tuy nhiên khi nói là "loại bỏ" thì quá mạnh, quá tiêu cực và người ta thường tự hỏi "làm sao tôi có đủ sức để loại bỏ một thứ gì đó? Trong khi ấy, nếu ta nói "hãy biến cải nó thành một thứ gì khác", thì họ sẽ chấp nhận một cách dễ dàng hơn.
Simon Alev: Theo ý nghĩa những lời giảng của Đức Phật về vấn đề tình dục thì có phải đó là một thứ gì mang tính cách tiêu cực một cách nội tại?
Bhante Guanaratana: Đức Phật giảng rằng khi nào còn tự trói mình trong những hành động tình dục thì khi đó người ta vẫn chưa có thể nào chú tâm vào việc tu tập tâm linh một cách hiệu quả; nói một cách đơn giản hơn là tình dục và tu tập không thể nào đi đôi với nhau.
Tuy nhiên khi Đức Phật thuyết giảng về con đường thăng tiến tuần tự đưa đến giác ngộ thì đồng thời Ngài cũng giảng rằng những giác cảm liên quan đến tình dục và sự thèm muốn cũng hàm chứa sự thích thú trong đó. Ngài không phủ nhận sự thích thú. Tuy nhiên bạn có đủ sức hiểu được là chính cái thích thú ấy về sau sẽ biến thành khổ đau hay không? Khi cơn sốt của thèm muốn tình dục lúc ban đầu dần dần hạ xuống thì cãi vã sẽ phát sinh.
Bởi vì thèm khát tình dục sẽ làm phát sinh sự ham muốn quá độ, lo sợ, ghen tuông, hận thù, hoang mang và những cảnh ẩu đả lẫn nhau; tất cả những thứ tiêu cực ấy đều phát sinh từ sự thèm khát tình dục.
Nếu thật sự muốn nhận thấy được sự thật ấy thì cũng chẳng cần phải nhìn đâu cho xa, cứ nhìn thẳng vào xã hội mà chúng ta đang sống. Chỉ cần mở mắt thật to để nhìn chung quanh. Đã có không biết bao nhiêu triệu người từng đấm đá nhau chỉ vì nguyên nhân thèm muốn tình dục – nào chồng, nào vợ, nào bạn trai, bạn gái, bạn gái rồi lại bạn trai. Dù cho bạn thuộc vào loại người mang tính dục khác giới, hoặc đồng tính luyến ái hay lưỡng tính thì cũng chẳng quan hệ gì nhiều, vì tất cả rồi cũng sẽ hỗn chiến với nhau. Khi nào bạn vẫn còn vướng mắc trong những thèm khát ấy thì không thể nào tránh khỏi – cãi vã, thất vọng, giận dữ, hận thù, sát nhân – tất cả sẽ lôi kéo nhau mà sinh ra.
Vì thế khi Đức Phật nhìn thấy những khó khăn đi kèm với tình dục thì Ngài dạy chúng ta tốt hơn hết nên kiểm soát và khắc phục các giác quan để tìm lấy một cuộc sống thanh thản và an bình.
Tuy nhiên cần phải thực hiện từ từ, thật chậm, việc đó phải đi đôi với sự suy xét, nhất là không được đột ngột. Chuyện đó không thể gò ép được. Cần phải thực hiện với sự hiểu biết chín chắn. Nếu không hiểu được điều này mà cứ muốn ngưng ngay một cách đột ngột thì sẽ càng cảm thấy thiếu thốn và lo sợ nhiều hơn và từ đó sẽ phát sinh thêm những khó khăn khác nữa. Vì thế trong những lời giáo huấn liên quan đến cách tu tập tuần tự, Đức Phật giảng rằng lúc ban đầu tuy rằng có sự thích thú trong các sinh hoạt tình dục, nhưng sau đó sẽ sinh ra những điều bất ổn, và tiếp theo là mọi thứ khó khăn. Chỉ khi nào nhận ra được sự thật đó thì lúc ấy ta mới ý thức được những khó khăn và những gì tiêu cực đi đôi với tình dục – chúng là một thể dạng nội tại của dục tính. Các rối loạn và khó khăn ấy đều mang tính cách tự tại trong sự thèm khát tình dục.
Simon Alev: Nhất là trong thời đại chúng ta, điều ấy quả thật là hết sức căn bản.
Bhante Gunaratana: Quả đúng như thế. Tuy nhiên chỉ khi nào người ta tránh xa được những thứ ấy, xa lánh được những bài học ấy và đã đi xa hàng triệu cây số, vượt qua thời gian và không gian thì khi đó họ mới thật sự ý thức được điều ấy là căn bản – khi mà họ quay nhìn lại phía sau để nhìn thấy căn nguyên của khổ đau. Khi họ đã quay lưng ra đi từ lâu, xa lánh qua không gian và thời gian và bất chợt khi quay nhìn lại phía sau họ mới có thể thốt lên : « Hú vía ! giờ đây làm thế nào mình còn dám quay đầu lại với những thứ ấy nữa? Mình đã đi quá xa rồi, đã dấn thân quá sâu rồi ». Khi đó thì chuyện ấy mới trở thành một vấn đề căn bản đối với họ. Nhất định đấy là một vấn đề căn bản!
Simon Alev: Trong khi ngài đang nói thì tôi lại bất chợt nghĩ đến sự kiện ngài đề cập quá ít về những thích thú tình dục, và ngược lại thì ngài lại trình bày quá nhiều về những khía cạnh bất lợi, nhiều người...
Bhante Gunaratana: Vâng. Chỉ vì một chút thích thú, nhưng đã mang lại quá nhiều khổ đau, có đúng thế hay chăng?
Simon Alev: Quả là như thế!
Bhante Gunaratana: Bạn có lý. Người ta không chịu suy nghĩ. Họ chỉ muốn nghe những lời hợp ý với mình. Ngược lại thì chúng ta lại không muốn nói lên những lời mà họ thích nghe! Dù cho người nghe có thích hay không thích, thì chúng ta vẫn cứ nói lên sự thật. Chúng ta không nên sợ hãi khi nói thật. Dù cho thiên hạ có chấp nhận hay không... Thôi vậy, dù sao thì đấy cũng là một vấn đề khác rồi. Chúng ta không thể làm gì khác hơn được.
Simon Alev: Khi chúng tôi tra cứu để cố trích dẫn một vài lời giáo huấn liên quan đến cảm nghĩ của Đức Phật về vấn đề tình dục, thì bất ngờ chúng tôi lại tìm thấy một đoạn văn như sau: "Này, đừng có dại dột, (những ai đã từ bỏ gia đình), thà rằng đưa dương vật vào miệng một con rắn độc hay một con rắn hổ mang kinh tởm có lẽ còn tốt hơn là đưa nó vào một người đàn bà. Tốt hơn là đưa dương vật vào một lò nung đầy than hồng nóng bỏng, còn hơn là đưa nó vào một người đàn bà. Tại sao lại như thế ?
Trong cả hai trường hợp, có thể ta sẽ chết vì nọc độc hoặc vì đớn đau của lửa bỏng, nhưng sau khi chết và thân xác đã tan rã thì ta sẽ không còn quay lại với cái thế giới khốn khổ để mang thêm một số kiếp bất hạnh trong cảnh sa đọa và địa ngục này". (Trích dịch từ một tấm bưu thiếp của Thái Lan vào đầu thế kỷ thứ XX với tựa đề là: Địa ngục của những người có hành vi tình dục không lành mạnh).
Tôi nghĩ rằng đoạn văn trên đây phản ảnh khá minh bạch về những cảm nghĩ của Đức Phật liên quan đến tình dục. Tuy nhiên như ngài đã biết, ngày nay trong thế giới phương Tây có rất nhiều xu hướng khác nhau liên quan đến phần giáo lý cũng như các phương pháp tu tập Phật giáo, và hình như một số người Tây phương tu tập Phật giáo cũng bất đồng chính kiến giữa họ với nhau về quan điểm do Đức Phật chủ trương liên quan đến vấn đề ham muốn tình dục – và theo như ngài đã trình bày trên đây thì sự ham muốn ấy là sự biểu lộ của tham lam vô độ – cần phải vượt lên trên mới có thể đạt được Giác ngộ. Ngược lại, trong bối cảnh tự do của các xã hội Tây phương ngày nay, nhiều người có khuynh hướng nghĩ rằng tình dục là một cách biểu lộ lành mạnh và tự nhiên của con người – không những chỉ trong lãnh vực con người mà thôi mà có thể cả trong lãnh vực tâm linh nữa. Vậy ngài nghĩ như thế nào về những lời của Đức Phật về việc này?
Bhante Gunaratana: Trước khi chuyển sang đề tài khác, tôi muốn lưu ý vài lời về đoạn văn vừa trích dẫn trên đây. Bạn cũng hiểu là Đức Phật có nói đến vấn đề tình dục, tuy nhiên Ngài không phải chỉ đề cập đến sự trinh bạch của người đàn ông, mà cả của người phụ nữ nữa. Vậy trong trường hợp khi Ngài nói rằng thà nuốt một viên sắt nung đỏ còn hơn là dính líu vào những hành vi tình dục, thì phải hiểu rằng câu nói đó muốn nhắc nhở cả người phụ nữ nữa. Chúng ta cần phải xác định thật minh bạch về điểm này, nếu không sẽ làm cho người phụ nữ phật lòng nhiều lắm đấy. Họ sẽ nghĩ lầm là Đức Phật thù ghét người phụ nữ và muốn cho người đàn ông phải giữ gìn trinh bạch bằng cách lánh xa họ. Một người phụ nữ muốn giữ sự trinh bạch cũng phải lánh xa người đàn ông. Đấy là điểm mà tôi muốn làm sáng tỏ trước nhất.
Điểm thứ hai liên quan đến việc thành lập gia đình, có vợ, có con, vân vân và vân vân thì Đức Phật không hề cấm đoán; đời sống tình dục mang lại hạnh phúc trong gia đình của những người thế tục là một điều chính đáng, dù rằng điều đó, như tôi đã nói, không thể nào đưa đến Giác ngộ toàn vẹn được.
Để trả lời cho câu hỏi của bạn, không phải chỉ riêng trong các xã hội ngày nay mà cả trong thời đại Đức Phật còn tại thế, nhiều người đã từng tin rằng tình dục là một thứ gì rất thánh thiện, cao cả, thiêng liêng và mầu nhiệm. Vì thế sự kiện vừa được nêu lên trên đây không phải là một hiện tượng cá biệt của những xã hội tân tiến trong thế kỷ hai mươi. Tâm tính con người không thay đổi từ muôn thuở cho đến ngày nay, và trong tương lai cũng vẫn sẽ là như thế. Luôn luôn vẫn có người nghĩ rằng họ sẽ có thể tự giải thoát bằng tình dục, và đấy là những gì mà tôi gọi là một sự nhận thức méo mó, những ý nghĩ méo mó.
Simon Alev: Theo sự trình bày của ngài thì sự "nhận thức méo mó" đó có vẻ như đặc biệt phổ biến ngày nay, cũng như đã từng phổ biến từ ngàn xưa. Tôi chỉ muốn nêu lên khái niệm ngày càng trở nên phổ biến cho rằng nếu đưa tình dục đến điểm tột cùng thì cũng có thể xem đó như là một hình thức biểu lộ của Giác ngộ – nói theo chiều hướng đó thì tình dục cũng có thể được xem như là con đường dẫn đến giải thoát... Nếu ngài cố tình tránh né nó với bất cứ giá nào thì ngài sẽ không có một chút hy vọng nào để đạt được mục đích cuối cùng mà ngài mong muốn. Nếu có thể xin ngài chỉ dẫn thật minh bạch Đức Phật đã phát biểu ra sao về quan điểm ấy.
Bhante Ganaratana: Tôi khá thuộc lòng về điều này. Đức Phật nói rằng – đây là tôi dịch thẳng từ tiếng Pali – "Bất kể là ta có thể làm được gì hay thực hiện được gì – dù cho ta sống trong hang động hay một nơi vắng vẻ, thuộc làu tất cả kinh điển; hoặc dù cho ta là một nhà hùng biện thật thông thái, sống bằng đạo đức, hay tất cả những thứ đó kết hợp lại, vân vân và vân vân... – kể cả trường hợp ta làm được bất kể thứ gì khác cũng thế; nhưng cho đến khi nào ta chưa loại bỏ được thèm khát tình dục, hận thù và vô minh thì khi đó ta vẫn chưa có thể đạt được Giác ngộ". Đấy là những lời giáo huấn của Đức Phật.
Do đó nếu ta càng liên lụy đến các thứ sinh hoạt tình dục, thì ta lại càng bị trói buộc nhiều hơn trong sự thèm khát, càng rơi sâu hơn vào cảnh bất an và càng trở nên ghen tuông khốc liệt hơn. Bất kể đấy là trường hợp của một người đàn ông hay một người đàn bà, khi đã đắm mình trong những sinh hoạt tình dục với thật nhiều người thì người ấy cũng sẽ nhận lấy thật nhiều khổ đau, tương xứng với số người mà mình đã liên lụy và những hậu quả do chính mình tạo ra: khổ đau sẽ phát sinh từ ghen tuông, sợ hãi, căng thẳng, lo âu... Một cuộc sống như thế sẽ hết sức nguy hại.
Nếu một cá nhân nào đó liên lụy tình dục với thật nhiều mẫu người khác nhau, bằng mọi kiểu cách khác nhau, liên miên và bất tận, thì nhất định người ấy sẽ chết sớm vì những hành vi thiếu lành mạnh của mình. Đến đây, có lẽ bạn cũng đã hiểu rõ là sự sinh hoạt tình dục trong chừng mực và thận trọng không phải là một điều cấm đoán. Tuy nhiên nếu bảo đấy là cách «đạt được Giác ngộ bằng phương tiện tình dục» thì thật sự câu ấy chỉ có nghĩa là: đắm mình trong những sinh hoạt tình dục cho đến khi chết thế thôi! Và nhất định theo cách đó thì ta sẽ chết trước khi đạt được Giác ngộ!
Simon Alev: Qua các công cuộc thăm dò của chúng tôi thì chúng tôi nhận thấy khái niệm cho rằng tình dục mang tính cách thiêng liêng không những khá phổ biến ngày nay mà nhiều người thấm nhuần nền văn hóa Tây phương còn nhìn sự trinh bạch với con mắt sợ hãi và đầy ngờ vực. Theo ngài thì sự kiện ấy do đâu mà ra?
Bhante Gunaratana: Nếu như sự trinh bạch được giữ gìn một cách nghiêm túc thì người được thừa hưởng chính là người đã thực hiện được việc ấy. Bạn không thể đứng ra thành lập một học viện nghiên cứu và giảng dạy về sự trinh bạch. Sự trinh bạch không phải là một thứ gì có thể biến thành một thể chế được quy định bởi những quy tắc có tính cách tập thể. Nó không phải là một thứ gì lệ thuộc vào một tổ chức có tính cách quy mô. Không thể nào có một xã hội trinh bạch. Sự trinh bạch có tính cách hoàn toàn cá nhân và tự nguyện. Vậy, nếu có những người bài bác sự trinh bạch thì có thể chính những người ấy cũng sẽ đứng ra chống lại một tập thể chủ trương sự trinh bạch.
Simon Alev: Tuy nhiên, hình như bất cứ một ngôi chùa nào hay một học phái nào cũng thế, tất cả đều phải tuân thủ một số quy tắc nào đó. Thành thực phải nói là chúng tôi vừa thán phục lại vừa bối rối khi đọc qua những quy tắc tập luyện về Patimokkha (dịch âm là Ba-la-đề-mộc-xoa, dịch nghĩa là giới cấm, gồm một số các quy luật mà những nhà sư Phật giáo phải tuân thủ) và khám phá ra rằng Đức Phật hình như đã thiết đặt một hệ thống quy luật cấm đoán người tu hành liên hệ đến những giao du tình dục – chỉ xin nêu lên một vài thí dụ mà tôi chắc chắn là ngài đã biết – chẳng hạn những thứ như sọ người, thây ma, thú vật...
Căn cứ theo riêng sự hiểu biết của chúng tôi thì thái độ đó không còn thích nghi với thời đại ngày nay nữa – chưa kể là không nhất thiết còn đúng như thế – do đó chúng tôi tự hỏi: Đức Phật thiết lập các quy tắc như thế có đủ sức ngăn chận những gì mà người ta vẫn thường làm hay không? Trong số đó kể cả trường hợp của các người tu hành và các đệ tử của Đức Phật?
Bhante Gunaratana: Vâng. Khi Đức Phật đưa ra một quy tắc nào đó, thì các người tu hành kể cả trong thời buổi bấy giờ liền tìm ngay cách tránh né để tiếp tục thực thi như trước. Họ vẫn tiếp tục tìm cách sinh hoạt tình dục bằng cách này hay cách khác. Vì thế, khi Đức Phật đưa ra một quy tắc, họ không phá bỏ quy tắc ấy, nhưng lại tìm cách khác để tiếp tục vi phạm vào hành vi tình dục. Đức Phật lại phải đưa ra một quy tắc mới để ngăn chận. Giống hệt với trường hợp cảnh sát và những kẻ tội phạm ngày nay – khi có một đạo luật được đưa ra, thì bọn tội phạm sẽ tìm ngay cách tránh né để tiếp tục phạm pháp, và người ta lại phải đưa thêm một đạo luật mới.
Những chuyện như thế cũng đã từng xảy ra trong thời kỳ Đức Phật còn tại thế. Khi số người gia nhập Tăng đoàn càng nhiều thì họ cũng bắt đầu gây ra đủ mọi thứ rắc rối, và chính vì những rắc rối ấy nên cần phải thiết lập các quy tắc. Vì thế mà các quy tắc còn lưu lại cho đến ngày nay. Không phải vì lý do muốn phòng ngừa trước mà Đức Phật đã đặt ra những quy tắc như thế.
Simon Alev: Vậy thì chúng ta đang ở trong cái thời buổi tương lai như vừa nói, và ngài đã hướng sự tu tập của ngài vào việc truyền bá lối sống xuất gia do Đức Phật chủ trương vào thế giới phương Tây, vì thế tôi cũng rất tò mò muốn biết ngài đã gặt hái được những kinh nghiệm nào trong số những người Tây phương đã tìm đến ngài để học hỏi. Những người Tây phương tân tiến ngày nay có sẵn sàng và quyết tâm xuất gia hay không?
Bhante Gunaratana: Bạn có hiểu là bạn vừa nêu lên một câu hỏi thật là chí lý hay chăng? Chúng tôi gạn lọc thật cẩn thận trước khi cho họ gia nhập vào đời sống tu viện. Chúng tôi bắt họ phải vượt qua một thời gian thử thách hai năm để xem quyết tâm của họ có chín chắn hay chưa. Bởi vì đôi khi cũng có một số người chỉ muốn đến đây để tìm sự vui thích, hoặc để tìm sự thanh tịnh và an bình trong cảnh giới tu hành của chúng tôi, vân vân và vân vân, họ nghĩ rằng họ có thể lưu lại lâu dài để trở thành những nhà tu hành thật sự. Nhưng thật ra sau đó thì họ đổi ý. Chúng tôi không muốn đùa bỡn với cái trò ấy mà chỉ muốn duyệt xét xem họ có thành tâm hay không. Nếu như họ thành tâm thì chúng tôi chấp nhận.
Tuy nhiên số người đó không đông đảo gì. Có nhiều người đến tận đây, và cũng có nhiều người viết thư – và gần đây hơn thì họ dùng email – khẩn thiết xin chúng tôi được gia nhập vào đời sống tu viện trong mục đích tu tập để trở thành những nhà sư như chúng tôi. Tuy nhiên chúng tôi không chấp thuận đồng loạt cho tất cả, vì chúng tôi hiểu rằng sau đó phần lớn sẽ lơi là và không còn giữ được sự nhiệt thành như lúc ban đầu.
Tuy nhiên vẫn có một số người rất thực tâm muốn trở thành các nhà sư hay ni cô. Đấy cũng chẳng phải là một điều gì mới lạ. Từ những thời xa xưa cũng thế mà thôi, trong số hàng triệu người thì chỉ có một số nhỏ xuất gia để vào chùa tu hành. Trong các nước Phật giáo ngày nay cũng vậy, đâu phải tất cả mọi người đều xuất gia để vào chùa. Một vài quốc gia như Thái Lan, Miến Điện, Lào, Campuchia, và vân vân..., dân chúng có truyền thống xuất gia và vào chùa trong một thời gian ngắn. Đối với những người vào chùa ngắn hạn trên đây thì hầu hết đều cởi áo sau đó và trở về cuộc sống thế tục. Chỉ còn lại một nhóm rất ít mà thôi.
Các nước Tây phương không có truyền thống giống như thế, vì vậy mà số người xin vào chùa lại còn ít hơn nữa. Và trong số này, những người lưu lại lâu dài để tiếp tục tu hành lại còn hiếm hoi hơn gấp bội. Quả là như thế, sự kiện ấy khá giống nhau trên toàn thế giới, và từ xưa đến nay cũng vẫn thế mà thôi. Trong thế giới Tây phương con người ngày càng trở nên mệt mỏi dưới các áp lực của xã hội – quả thật những áp lực ấy hết sức nặng nề – và vì thế mà họ muốn xa lánh xã hội. Chúng tôi thành lập Trung tâm tu tập này cũng vì sự kiện đó, và thật ra từ xưa đến nay ở đâu cũng thế.
Simon Alev: Tôi muốn được biết thêm đôi chút về ngài, nhất là cuộc sống của một nhà sư như ngài. Chẳng hạn như việc giữ gìn sự trinh bạch đã ảnh hưởng như thế nào đến sự thăng tiến tinh thần trong việc tu tập của chính ngài?
Bhante Gunaratana: Này anh bạn của tôi ơi, chuyện đó đã mang lại cho tôi một sự an bình kỳ diệu. Tôi nói với tất cả sự thành thực đấy nhé. Bởi vì tôi có thể sống chung với tất cả chúng sinh mà chẳng có vấn đề gì cả. Không riêng gì đối với một người đàn bà nào, không riêng gì đối với một phụ nữ nào, không riêng gì đối với một cậu trai nào, hay một người đàn ông nào cả, bởi vì sự trinh bạch của tôi đã giúp cho tôi đối xử giống như nhau đối với tất cả chúng sinh.
Và điều đó đã giúp tôi tìm thấy một tâm thức an bình. Và tôi cũng tự nghĩ rằng có lẽ Đức Phật cũng mong muốn cho mỗi người trong chúng ta thực hiện được điều ấy – tức là một mối giây thân thiện, an bình với tất cả chúng sinh.
Chính vì thế mà việc ấy đã ảnh hưởng một cách tích cực vào cuộc sống của chính tôi.
Simon Alev: Tôi hiểu rằng ngài chọn cuộc sống của một người tu hành từ khi ngài được...
Bhante Gunaratana: Mười hai tuổi. Và hôm nay tôi đã bảy mươi bảy tuổi. Tôi đã khoác lên người chiếc áo cà-sa này trong suốt sáu mươi lăm năm!
Simon Alev: Nếu có một người nào đó muốn giữ gìn sự trinh bạch trên đường tu tập thì ngài sẽ khuyên họ như thế nào?
Bhante Guanaratana: Tôi sẽ khuyên người ấy rằng: "Nếu bạn ước muốn một cách lương thiện và thành thật được sống một cuộc sống an bình, có ý thức và trách nhiệm, một cuộc sống không bị rối rắm, một cuộc sống hy sinh cho tất cả mọi người không phân biệt bất cứ ai, thì cuộc sống trinh bạch sẽ là một cuộc sống tốt nhất, bởi vì khi giữ được sự trinh bạch thì ta mới có thể phát lộ được sự trìu mến và yêu thương đích thực, lòng từ bi đích thực. Lúc đó ta mới có đủ khả năng yêu mến bất cứ thứ gì hiển hiện ra trước mắt ta. Và ta mới có thể tạo được một tâm thức bình thản và không lệch lạc. Nếu ta còn bị vướng mắc vào người này hay người khác thì ta sẽ không thể nào thực hiện được những gì như vừa được nêu lên. Vì thế, nếu như bạn là một người ước mong thành thực và lương thiện muốn thực hiện cho được những điều vừa kể trên đây thì tốt nhất nên nghĩ ngay đến việc giữ gìn trinh bạch".
Tuy nhiên không bao giờ nên giữ gìn sự trinh bạch như là một thứ đức tin, hoặc là một thứ gì do người khác bắt buộc và áp đặt cho mình. Cần phải ý thức một cách nghiêm túc, và nhất là phải nghĩ đến vấn đề trinh bạch thật cẩn thận trước khi chấp nhận nó.
Simon Alev: Có nghĩa là chấp nhận điều đó với hai mắt mở to.
Bhante Gunaratana: Đúng như thế.
Simon Alev: Và người đó sẽ phải đương đầu với thật nhiều thử thách?
Bhante Gunaratana: Nhất định là như thế. Khi muốn giữ gìn sự trinh bạch thì luôn luôn phải đối đầu với mọi thử thách. Tất nhiên sẽ có nhiều người muốn giây giướng với ta, họ muốn gần ta và làm cho ta khó giữ được những lời nguyện. Chẳng qua vì họ hiểu rằng ta không phải là thứ người hư đốn, không phải là hạng người bỡn cợt, vì ta không gian díu với những gì xấu xa và không vướng vào mọi thứ bịnh tật và các thứ khác nữa. Mọi người đều hiểu ta là hạng người đoan trang và minh bạch. Thường thì vẫn có nhiều người thích gần gũi với những ai minh bạch, và chính đó là một thử thách.
Phải đương đầu là như thế đó.
Simon Alev: Ngài nói rằng ngài đã tuân thủ quy tắc trinh bạch đã sáu mươi lăm năm. Vậy những kinh nghiệm của ngài về việc giữ giới ấy đã biến đổi như thế nào, chúng có trở nên sâu sắc hơn qua thời gian hay không?
Bhante Gunaratana: Bạn có biết không, giai đoạn đầu hết sức khó khăn. Nhất là vào thời kỳ tôi còn trẻ, từ thời niên thiếu cho đến khi tôi hai mươi tuổi, đó thật là một sự thử thách lớn lao. Tuy nhiên nhờ vào tu tập tôi đã phát huy được tinh thần trách nhiệm trước bổn phận của tôi, sứ mạng của tôi, và lời nguyện ước của tôi trước Phật pháp, và nhất là còn một lý do khác quan trọng hơn thế nữa, ấy là sự kính trọng đối với các vị thầy và cha mẹ tôi. Tôi rất thương các bậc giáo huấn và cha mẹ tôi, vì thế mà tôi không muốn phản bội và đánh mất sự kính trọng của tôi đối với họ.
Tình trạng đó kéo dài trong nhiều năm trước khi tôi hoàn toàn trở thành chín chắn. Chính là như thế đó, tôi đã tự khám phá ra cho tôi cái ý nghĩa sâu xa của sự trinh bạch.

Ký giả Simon Alev
Báo Giác ngộ là gì (What is Enlightenment), Hoa Kỳ

Theo Người đưa tin
Diệp Thanh (lược dịch, tổng hợp theo tư liệu nước ngoài)

Bản tiếng Anh: SEX, CELIBACY and the SPIRITUAL LIFE, Bhante Henepola Gunaratana
URL: http://www.budsas.net/ebud/ebdha097.htm

Wednesday, March 19, 2014

Đời sống của một Linh Đồng (Đại Sư)

"Nếu mình luôn giữ ngọn lửa của "Đạo Giải Thoát" trong tâm thì chuyện tái sanh đi tái sanh lại không là vấn đề bận tâm, cũng vui vẻ đó chứ! Được trải nghiệm ở tất cả miền quê hương tâm linh, thân cận các bậc thầy và pháp hữu. Điều này có thể là tham, chết có thể luôn mở một mắt, nhưng ai biết rằng ngọn lửa đó sẽ hết sưởi ấm khi chưa đoạn tận hết phiền não, chưa đặt chân đến cánh cửa giải thoát bất tử!"

Thiền quán về bốn loại thức ăn


Biết về đoàn thực, ngũ dục được hiểu biết.
Biết về xúc thực, ba cảm thọ được hiểu biết.
Biết về tư niệm thực, dục ái - hữu ái - phi hữu ái được hiểu biết.
Biết về thức thực, danh sắc được hiểu biết.
Khi hiểu biết bốn loại thức ăn này bằng trí tuệ thiền tuệ, vị Thánh đệ tử không cần làm gì thêm nữa!

Bài kinh "Thịt Ðứa Con" (Tạp 15.11 Tử Nhục, Ðại 2, 102b) (S.ii,97)

1) ...Ở Sàvatthi.

2) ...Này các Tỷ-kheo, có bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay chúng sanh.

3) Thế nào là bốn? Ðoàn thực hoặc thô, hoặc tế; thứ hai là xúc thực; thứ ba là tư niệm thực; thứ tư là thức thực.

Này các Tỷ-kheo, bốn loại đồ ăn này đưa đến sự tồn tại, hay sự chấp thủ tái sanh cho các loài hữu tình hay các loài chúng sanh.

4) Và này các Tỷ-kheo, đoàn thực cần phải nhận xét như thế nào?

5) Ví như, này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng đem theo một ít lương thực đi qua một quãng đường hoang dã, với một đứa con khả ái, thương mến.

6) Rồi này các Tỷ-kheo, trong khi hai vợ chồng ấy đang đi trên con đường hoang vu, số lương thực ít ỏi ấy đi đến hao mòn, khánh tận. Và một vùng hoang vu còn lại chưa được họ vượt qua.

7) Rồi này các Tỷ-kheo, hai vợ chồng người ấy suy nghĩ: "Ðồ lương thực ít ỏi của chúng ta đã bị hao mòn, khánh tận; còn lại vùng hoang vu này chưa được vượt qua; vậy chúng ta hãy giết đứa con một, khả ái, dễ thương này, làm thành thịt khô và thịt ướp, ăn thịt đứa con và vượt qua vùng hoang vu còn lại này, chớ để tất cả ba chúng ta đều bị chết hại".

8) Rồi hai vợ chồng ấy giết đứa con một, khả ái, dễ thương ấy, làm thịt khô và thịt ướp, ăn thịt người con và vượt qua vùng hoang vu còn lại ấy. Họ vừa ăn thịt con, vừa đập ngực, than khóc: "Ðứa con một ở đâu? Ðứa con một ở đâu?"

9) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Họ ăn món ăn có phải để vui chơi? Hay họ ăn món ăn để tham đắm? Hay họ ăn món ăn để trang sức? Hay họ ăn món ăn để béo tốt?

-- Thưa không phải vậy, bạch Thế Tôn.

10) -- Có phải họ ăn các món ăn chỉ với mục đích vượt qua vùng hoang vu?

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

11) -- Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói đoàn thực cần phải nhận xét như vậy. Này các Tỷ-kheo, khi đoàn thực được hiểu biết, thời lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết. Khi lòng tham đối với năm dục trưởng dưỡng được hiểu biết, thời không còn kiết sử, do kiết sử này, một vị Thánh đệ tử bị trói buộc để phải sanh lại đời này.

12) Và này các Tỷ-kheo, xúc thực cần phải nhận xét như thế nào?

13) Này các Tỷ-kheo, ví như một con bò cái bị lở da, nếu nó đứng dựa vào tường, thời các sanh vật sống ở tường cắn nó. Nếu nó đứng dựa vào cây, thời các sanh vật sống ở cây cắn nó. Nếu nó đứng ở trong nước, thời các sanh vật sống ở trong nước cắn nó. Nếu nó đứng giữa hư không, thời các sanh vật giữa hư không cắn nó. Này các Tỷ-kheo, con bò cái ấy đứng dựa vào chỗ nào, thời các sanh vật trong các chỗ ấy cắn nó. Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói xúc thực cần phải được nhận xét.

14) Này các Tỷ-kheo, khi xúc thực được hiểu biết, thời ba cảm thọ được hiểu biết. Khi ba cảm thọ được hiểu biết, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

15) Và này các Tỷ-kheo, tư niệm thực cần phải nhận xét như thế nào?

16) Này các Tỷ-kheo, ví như một hố than hừng, sâu hơn một thân người, chứa đầy than cháy đỏ rực, hừng cháy không có khói. Rồi một người đi đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, chán ghét khổ. Rồi hai người lực sĩ đi đến, nắm chặt hai cánh tay người ấy, kéo người ấy đến hố than hừng ấy. Này các Tỷ-kheo, người ấy quyết chí muốn lánh xa, tinh cần muốn lánh xa, phát nguyện muốn lánh xa hố than hừng ấy.

17) Vì sao? Này các Tỷ-kheo, người ấy chỉ nghĩ như sau: "Nếu ta rơi vào hố than hừng này, do nhân duyên ấy, ta đi đến chết, hay đi đến khổ gần như chết". Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng tư niệm thực cần phải nhận xét.

18) Này các Tỷ-kheo, khi tư niệm thực được hiểu biết, thời ba ái được hiểu biết. Khi ba ái được hiểu biết, Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không có gì cần phải làm thêm nữa.

19) Và này các Tỷ-kheo, thức thực cần phải nhận xét như thế nào?

20) Ví như, này các Tỷ-kheo, người ta bắt một người ăn trộm, một người phạm tội, dẫn đến vua và thưa: "Thưa Ðại vương, người này là người ăn trộm, một người phạm tội. Hãy trừng phạt người ấy nếu như Ngài muốn". Vị vua nói như sau về người ấy: "Các Ông hãy đi và đánh người này với một trăm hèo vào buổi sáng". Và họ đánh người ấy với một trăm hèo vào buổi sáng.

21) Rồi vị vua vào buổi trưa nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi trưa". Và họ đánh người ấy một trăm hèo vào buổi trưa.

22) Rồi vị vua vào buổi chiều nói: "Này các Ông, người ấy như thế nào?" -- "Thưa Ðại vương, người ấy vẫn còn sống". Rồi vua nói về người ấy: "Này các Ông, các Ông hãy đi và đánh người này một trăm hèo vào buổi chiều".

23) Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Người ấy trong ngày bị đánh đến ba trăm hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu không?

-- Bạch Thế Tôn, chỉ bị đánh một hèo, do nhân duyên ấy có cảm thọ khổ ưu, còn nói gì bị đánh đến ba trăm hèo!

24) -- Như vậy, này các Tỷ-kheo, Ta nói thức thực cần phải nhận xét.

25) Này các Tỷ-kheo, khi thức thực đựơc hiểu rõ, thời danh sắc được hiểu rõ. Khi danh sắc được hiểu rõ, thời Ta nói rằng vị Thánh đệ tử không làm gì thêm nữa.

Thursday, March 13, 2014

Phẩm Người Tối Thắng

1-10 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các đệ tử Tỷ-kheo đã lâu ngày của Ta, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Anna Kondanno (A-nhã Kiều-trần-như).
2. Trong các vị đệ tử... đại trí tuệ, tối thắng là Sàriputta.
3. Trong các vị đệ tử... có thần thông, tối thắng là Mahàmoggalàna.
4. Trong các vị đệ tử... thuyết về hạnh đầu đà, tối thắng là Mahàkassapa.
5. Trong các vị đệ tử... thiên nhãn, tối thắng là Anuruddha.
6. Trong các vị đệ tử... thuộc gia đình quý tộc, tối thắng là Bhaddiya Kàligodhàputta.
7. Trong các vị đệ tử... có âm thanh vi diệu, tối thắng là Lakuntaka (người lùn) Bhaddiya.
8. Trong các vị đệ tử... rống tiếng rống con sư tử, tối thắng là Pindola Bhàradvàja.
9. Trong các vị đệ tử... thuyết pháp, tối thắng là Punna Mantàniputta.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, thuyết giảng rộng rãi những điều được nói lên một cách vắn tắt, tối thắng là Mahàkaccàna.
1-11 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các vị Tỷ-kheo của Ta có thể dùng ý hóa thân, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Cullapanthaka.
2. Trong các vị đệ tử... thiện xảo về tâm thắng tiến, tối thắng là Cullapanthaka.
3. Trong các vị đệ tử... thiện xảo về tưởng thắng tiến, tối thắng là Mahàpanthaka.
4. Trong các vị đệ tử... trú không có tranh luận, tối thắng là Subhuti.
5. Trong các vị đệ tử... đáng được cúng dường, tối thắng là Subhuti.
6. Trong các vị đệ tử... tu ở rừng, tối thắng là Revata Khadiravaniya.
7. Trong các vị đệ tử... tu Thiền, tối thắng là Kankha Revata.
8. Trong các vị đệ tử... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sono Koliviso.
9. Trong các vị đệ tử... khéo nói, tối thắng là Sono Kutikanna.
10. Trong các vị đệ tử... nhận được đồ cúng dường, tối thắng là Sivali.
11. Trong các đệ tử Tỷ-kheo có tín thắng giải, tối thắng là Vakkali.
1-12 Các Vị Tỷ Kheo
1. - Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta, ưa thích học tập, tối thắng là Ràhula.
2. Trong các vị đệ tử... xuất gia vì lòng tin, tối thắng là Ratthapàla.
3. Trong các vị đệ tử... đầu tiên nhận phiếu ăn cơm, tối thắng là Kunda Dhàna.
4. Trong các vị đệ tử... đầy đủ biện tài, tối thắng là Vangìsa.
5. Trong các vị đệ tử... dễ mến toàn diện, tối thắng là Upasena Vangantaputta.
6. Trong các vị đệ tử... sửa soạn chỗ ngồi, chỗ nằm, tối thắng là Dabba Mallaputta.
7. Trong các vị đệ tử... được chư Thiên ái mộ, tối thắng là Pilindavaccha.
8. Trong các vị đệ tử... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bàhiva Dàructriya.
9. Trong các vị đệ tử... thuyết giảng vi diệu, tối thắng là Kumara Kassapa.
10. Trong các đệ tử Tỷ-kheo của Ta đạt được vô ngại giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Màhàkotthita.
1-16 Các Vị Tỷ Kheo
1. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta, được nghe nhiều, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Ananda.
2. Trong các vị đệ tử... đầy đủ ức niệm, tối thắng là Ananda
3. Trong các vị đệ tử... đầy đủ cử chỉ tốt đẹp tối thắng là Ananda.
4. Trong các vị đệ tử... đầy đủ sự kiên trì tối thắng là Ananda.
5.Trong các vị đệ tử... thị giả, tối thắng là Ananda.
6. Trong các vị đệ tử... có đại hội chúng, tối thắng là Uruvela Kassapa.
7. Trong các vị đệ tử... làm cho các gia đình hoan hỷ, tối thắng là Kàludàyì.
8. Trong các vị đệ tử... không có bệnh hoạn, tối thắng là Bakkula.
9. Trong các vị đệ tử... nhớ đến các đời sống quá khứ, tối thắng là Sobhita.
10. Trong các vị đệ tử... trì Luật, tối thắng là Upàli.
11. Trong các vị đệ tử... giáo giới Tỷ-kheo-ni, tối thắng là Nandaka.
12. Trong các vị đệ tử... hộ trì các căn môn, tối thắng là Nanda.
13. Trong các vị đệ tử... thiện xảo về hỏa giới, tối thắng là Sàgata.
14. Trong các vị đệ tử... giáo giới Tỷ-kheo, tối thắng là Màhakappina.
15. Trong các vị đệ tử... năng khởi biện tài, tối thắng là Ràdha.
16. Trong các vị đệ tử Tỷ-kheo của Ta mang thô y, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Mogharàjà.
1-13 Nữ Ðệ Tử Tỷ Kheo Ni
1. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni đã lâu ngày của Ta, tối thắng là Màhàpàjapati Gotamì.
2. Trong các vị nữ đệ tử... đại trí tuệ, tối thắng là Khemà.
3. Trong các vị nữ đệ tử... đầy đủ thần thông, tối thắng là Uppalavannà.
4. Trong các vị nữ đệ tử... trì Luật, tối thắng là Patàcàrà.
5. Trong các vị nữ đệ tử... thuyết pháp, tối thắng là Dhammadinnà.
6. Trong các vị nữ đệ tử... tu Thiền, tối thắng là Nandà.
7. Trong các vị nữ đệ tử... tinh cần tinh tấn, tối thắng là Sonà.
8. Trong các vị nữ đệ tử... thiên nhãn, tối thắng là Sakulà.
9. Trong các vị nữ đệ tử... có thắng trí mau lẹ, tối thắng là Bhaddà Kundalakesà.
10. Trong các vị nữ đệ tử... nhớ đến các thời quá khứ, tối thắng là Bhaddà Kapilànì.
11.Trong các vị nữ đệ tử... đã chứng đạt đại thắng trí, tối thắng là Bhaddà Kaccana.
12. Trong các vị nữ đệ tử... mang thô y, tối thắng là Kisàgotami.
13. Trong các vị nữ đệ tử Tỷ-kheo-ni của Ta, đầy đủ tin thắng giải, này các Tỷ-kheo, tối thắng là Sigalàmàtà.
1-10 Nam Cư Sĩ
1. - Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, đã quy y đầu tiên, tối thắng là các người buôn bán Tapassu Bhallikà.
2. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... bố thí, tối thắng là gia chủ Sudatta Anàthapindika.
3. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... thuyết pháp, tối thắng là Citta Macchikassandika.
4. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... nhiếp phục một hội chúng nhờ Bốn nhiếp pháp, tối thắng là Hatthaka Alavaka.
5. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... bố thí các món ăn thượng vị, tối thắng là Mahànàma Sakka.
6. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... bố thí các món đồ khả ý, tối thắng là gia chủ Ugga Vesàlika.
7. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... hộ trì Tăng chúng, tối thắng là Hatthigàmala Uggàta.
8. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... có lòng tịnh tín bất động, tối thắng là Sùra Ambattha.
9. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ ... được dân chúng kính mến, tối thắng là Jivaka Komàrabhacca.
10. Trong các vị đệ tử nam cư sĩ của Ta, nói chuyện một cách thân mật, này các Tỷ-kheo, tối thắng là gia chủ Nakulapità.
1-10 Nữ Cư Sĩ
1. -Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ của Ta, này các Tỷ-kheo, người đi đến quy y đầu tiên là Sujàtà Senàndìhità.
2. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... bố thí, tối thắng là Visàkhà Migàramàtà.
3. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... nghe nhiều, tối thắng là Khujjuttar.
4. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... trú từ tâm, tối thắng là Sàmàvati.
5. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... tu Thiền, tối thắng là Uttarà Nandamàtà.
6. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... bố thí các món ăn thượng vị, tối thắng là Suppavàsà Koliyadhita.
7. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... săn sóc người bệnh, tối thắng là nữ cư sĩ Suppiyà.
8. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... có lòng tịnh tín bất động, tối thắng là Kàtiyànì.
9. Trong các vị đệ tử nữ cư sĩ ... nói chuyện một cách thân mật, tối thắng là nữ gia chủ Nakulamàtà.
10. Trong các vị nữ cư sĩ đệ tử của Ta, này các Tỷ-kheo, có lòng tịnh tín đối với lời nghe đồn tối thắng là Kàlì, nữ cư sĩ ở Kulagharikà.
(Phẩm Người Tối Thắng, Chương Một Pháp, Tăng Chi Bộ - HT. Minh Châu dịch Việt)

PTS: A, I, 23
14. Etadaggapāḷi 
1. 14. 1. 1. 92
(Sāvatthi nidānaṃ:)
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ rattaññūnaṃ yadidaṃ aññākoṇḍañño,93 
 
1. 14. 1. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ mahāpaññānaṃ yadidaṃ sāriputto, 
 
1. 14. 1. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ iddhimantānaṃ yadidaṃ mahāmoggallāno, 
 
1. 14. 1. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dhutavādānaṃ94 yadidaṃ mahākassapo,
 
1. 14. 1. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dibbacakkhukānaṃ yadidaṃ anuruddho, 
 
1. 14. 1. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ uccākulikānaṃ yadidaṃ bhaddiyo , kāḷigodhāya putto,95 
 
1. 14. 1. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ mañjussarānaṃ yadidaṃ lakuṇaṭakabhaddiyo,96 
 
1. 14. 1. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ sīhanādīkānaṃ yadidaṃ piṇḍolabhāradvājo, 
 
1. 14. 1. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dhammakathikānaṃ yadidaṃ puṇṇo mantāṇiputto, 
 
1. 14. 1. 10. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saṃkhittena bhāsitassa vitthārena atthaṃ vibhajantānaṃ yadidaṃ mahākaccānoti.97 
 
Vaggo paṭhamo. 
[PTS Page 024] [\q 24/] 
 
1. 14. 2. 1. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ manomayaṃ kāyaṃ abhinimmiṇantānaṃ yadidaṃ cullapanthako, 98 
 
1. 14. 2. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ cetovivaṭṭakusalānaṃ yadidaṃ cullapanthako,99 
 
1. 14. 2. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saññāvivaṭṭakusalānaṃ yadidaṃ mahāpanthako, 
 
1. 14. 2. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ araṇavihārīnaṃ yadidaṃ subhūti, 
 
1. 14. 2. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ dakkhiṇeyyānaṃ yadidaṃ subhūti, 
 
1. 14. 2. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ āraññakānaṃ yadidaṃ revato khadiravaniyo, 
 
1. 14. 2. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ jhāyīnaṃ yadidaṃ kaṅkhārevato, 
 
1. 14. 2. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ āraddhaviriyānaṃ yadidaṃ soṇo koḷivīso, 
 
1. 14. 2. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ kalyāṇavākkaraṇānaṃ yadidaṃ Soṇo Kuṭikaṇṇo,100 
 
1. 14. 2. 10. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ lābhīnaṃ yadidaṃ sīvalī, 
 
1. 14. 2. 11. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saddhādhimuttānaṃ yadidaṃ vakkalīti.101 
 
Vaggo dutiyo 
 
[BJT Page 048] [\x 48/] 
 
1. 14. 3. 1. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ sikkhākāmānaṃ yadidaṃ rāhulo. 
 
1. 14. 3. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ saddhāpabbajitānaṃ yadidaṃ raṭṭhapālo,
 
1. 14. 3. 3
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ paṭhamaṃ salākaṃ gaṇhantānaṃ yadidaṃ kuṇḍadhāno, 
 
1. 14. 3. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ paṭibhānavantānaṃ yadidaṃ vaṅgīso, 
 
1. 14. 3. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ samantapāsādikānaṃ yadidaṃ upaseno vaṅgantaputto, 
 
1. 14. 3. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ senāsanapaññāpakānaṃ yadidaṃ dabbo mallaputto, 
 
1. 14. 3. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ devatānaṃ piyamanāpānaṃ yadidaṃ piḷindivaccho,102 
 
1. 14. 3. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ khippābhiññānaṃ yadidaṃ bāhiyo dārucīriyo 
 
1. 14. 3. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ cittakathikānaṃ yadidaṃ kumārakassapo,103 
 
1. 14. 3. 10
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ bhikkhūnaṃ paṭisambhidāppattānaṃ yadidaṃ mahākoṭṭhitoti.104 
 
Vaggo tatiyo 
 
1. 14. 4. 1. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ bahussutānaṃ yadidaṃ ānando, 
 
1. 14. 4. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ satimantānaṃ yadidaṃ ānando, 
 
[PTS Page 025] [\q 25/] 
 
1. 14. 4. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ gatimantānaṃ yadidaṃ ānando, 
 
1. 14. 4. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ dhitimantānaṃ yadidaṃ ānando, 
 
1. 14. 4. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ upaṭṭhākānaṃ yadidaṃ ānando, 
 
1. 14. 4. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ mahāparisānaṃ yadidaṃ uruvelakassapo, 
 
1. 14. 4. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ kulappasādakānaṃ yadidaṃ kāludāyi, 
 
1. 14. 4. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ appābādhānaṃ yadidaṃ bakkulo,105 
 
1. 14. 4. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ pubbe nivāsaṃ anussarantānaṃ yadidaṃ sobhito, 
 
1. 14. 4. 10
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ vinayadharānaṃ yadidaṃ upāli, 
 
1. 14. 4. 11. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ bhikkhunovādakānaṃ yadidaṃ nandako, 
 
1. 14. 4. 12. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ indriyesu guttadvārānaṃ yadidaṃ nando, 
 
1. 14. 4. 13. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ bhikkhuovādakānaṃ yadidaṃ mahākappino, 
 
1. 14. 4. 14. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ tejodhātu kusalānaṃ yadidaṃ sāgato, 
 
1. 14. 4. 15. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ paṭibhāneyyakānaṃ yadidaṃ rādho, 
 
1. 14. 4. 16. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakaṃ bhikkhūnaṃ lūkhacīvaradharānaṃ yadidaṃ mogharājāti.106 
 
Vaggo catuttho 
 
[BJT Page 050] [\x 50/] 
1. 14. 5. 1. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ rattaññūnaṃ yadidaṃ mahāpajāpatīgotamī, 
 
1. 14. 5. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ mahā paññānaṃ yadidaṃ khemā, 
 
1. 14. 5. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ iddhimantīnaṃ yadidaṃ uppalavaṇṇā, 
 
1. 14. 5. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ vinayadharānaṃ yadidaṃ Paṭācārā,107 
 
1. 14. 5. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ dhammakathikānaṃ yadidaṃ dhammadinnā, 
 
1. 14. 5. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ jhāyīnaṃ yadidaṃ nandā, 
 
1. 14. 5. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ āraddhaviriyānaṃ yadidaṃ soṇā, 
 
1. 14. 5. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ dibbacakkhukānaṃ yadidaṃ sakulā,108 
 
1. 14. 5. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ khippābhiññānaṃ yadidaṃ bhaddākuṇaḍalakesā,109 
 
1. 14. 5. 10. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ pubbenivāsaṃ anussarantīnaṃ yadidaṃ bhaddākāpilāni,110 
 
1. 14. 5. 11. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ mahābhiññappattānaṃ yadidaṃ bhaddakaccānā, 
 
1. 14. 5. 12. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ lūkhacīvaradharānaṃ yadidaṃ kisāgotamī, 
 
1. 14. 5. 13. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ bhikkhunīnaṃ saddhādhimuttānaṃ yadidaṃ sigālamātāti.111
Vaggo pañcamo 
 
1. 14. 6. 1. 
 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantānaṃ [PTS Page 026] [\q 26/] yadidaṃ tapussabhallikā112 vāṇijā,113 
 
1. 14. 6. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ dāyakānaṃ yadidaṃ sudatto gahapati anāthapiṇḍiko, 
 
1. 14. 6. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ dhammakathikānaṃ yadidaṃ citto gahapati macchikāsaṇḍiko,114 
 
1. 14. 6. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ catūhi saṅgahavatthūhi parisaṃ saṃgaṇhantānaṃ yadidaṃ hatthako115 ālavako, 
 
1. 14. 6. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ paṇītadāyakānaṃ yadidaṃ mahānāmo sakko, 
 
1. 14. 6. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ manāpadāyakānaṃ yadidaṃ uggo gahapati vesāliko, 
 
1. 14. 6. 7. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ saṃghupaṭṭhākānaṃ yadidaṃ uggato116 gahapati, 
 
1. 14. 6. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ aveccappasannānaṃ yadidaṃ sūro ambaṭṭho,117 
 
1. 14. 6. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ puggalappasannānaṃ yadidaṃ jīvako komārabhacco, 118 
 
1. 14. 6. 10. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvakānaṃ upāsakānaṃ vissāsakānaṃ yadidaṃ nakulapitā119 gahapatīti. 
 
Vaggo chaṭṭho 
 
[BJT Page 052] [\x 52/] 
 
1. 14. 7. 1. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ paṭhamaṃ saraṇaṃ gacchantīnaṃ yadidaṃ sujātā senānīdhītā,120 
 
1. 14. 7. 2. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ dāyikānaṃ yadidaṃ visākhā migāramātā, 
 
1. 14. 7. 3. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ bahussutānaṃ yadidaṃ khujjuttarā. 
 
1. 14. 7. 4. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ mettāvihārīnaṃ yadidaṃ sāmāvatī,121 
 
1. 14. 7. 5. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ jhāyīnaṃ yadidaṃ uttarā nandamātā, 
 
1. 14. 7. 6. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ paṇītadāyikānaṃ yadidaṃ suppavāsā koliyadhītā, 
 
1. 14. 7. 7
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ gilānupaṭṭhākīnaṃ yadidaṃ suppiyā upāsikā, 
 
1. 14. 7. 8. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ aveccappasannānaṃ yadidaṃ kātiyānī, 
 
1. 14. 7. 9. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ vissāsikānaṃ yadidaṃ nakulamātā gahapatānī, 
 
1. 14. 7. 10. 
Etadaggaṃ bhikkhave mama sāvikānaṃ upāsikānaṃ anussavappasannānaṃ yadidaṃ kāḷī upāsikā kuraragharikāti122 
 
Vaggo sattamo.

Wednesday, February 19, 2014

Chỉ có Tứ Niệm Xứ thôi là chưa đủ!


Dhamma, hay Pháp, nghĩa là thực tại, chân lý. Để thấy được Dhamma, Đạo Phật có bài kinh Tứ Niệm Xứ. Thiền Tứ Niệm Xứ hiện nay như một trào lưu, đến khắp nơi trên thế giới, vào tận các đại tổ chức, đại công ty, thậm chí cả các tôn giáo anh em cũng học tập, nghiên cứu và thực hành thiền Tứ Niệm Xứ. Nhưng chỉ có Tứ Niệm Xứ thôi thì chưa đủ, vì ngoài bài kinh Tứ Niệm Xứ ra Đạo Phật còn giảng thêm bài kinh Chánh Tri Kiến (Sammādiṭṭhi sutta), và chỉ có những người Phật tử mới có Chánh Tri Kiến này để có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này, tránh việc ăn theo, thấy sang bắc quàng làm họ, ngụy biện lươn lẹo. Tìm hiểu Tam Tạng Kinh Điển của Đức Phật, chúng ta thấy lời dạy của Ngài là mang lại lợi ích cho tất cả loài người nói riêng và tất cả chúng sanh nói chung. Tùy mục đích sống hiện tại của mỗi một cá nhân mà Đức Phật hướng họ đến đó. Người vì mục đích giàu sang thì Ngài dạy họ pháp đưa đến giàu sang; vì mục đích tiếp tục cuộc sống nhân thiên trong tương lai thì Ngài dạy họ pháp đưa đến cuộc sống nhân thiên; vì mục đích giác ngộ giải thoát khổ luân hồi sanh tử, đoạn tận phiền não thì Ngài dạy họ pháp đưa đến chứng ngộ Chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Niết-bàn, pháp diệt Khổ.

... Chư Hiền, khi Thánh đệ tử tuệ tri được bất thiện và tuệ tri được căn bổn bất thiện, tuệ tri được thiện và tuệ tri được căn bổn thiện, chư Hiền, khi ấy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
Chư Hiền, thế nào là bất thiện, thế nào là căn bổn bất thiện, thế nào là thiện, thế nào là căn bổn thiện? Chư Hiền, sát sanh là bất thiện, lấy của không cho là bất thiện, tà hạnh trong các dục là bất thiện, nói láo là bất thiện, nói hai lưỡi là bất thiện, ác khẩu là bất thiện, nói phù phiếm là bất thiện, tham dục là bất thiện, sân là bất thiện, tà kiến là bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là bất thiện.
Và chư Hiền, thế nào là căn bổn bất thiện? Tham là căn bổn bất thiện, sân là căn bổn bất thiện, si là căn bổn bất thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn bất thiện.
Và này chư Hiền, thế nào là thiện? Từ bỏ sát sanh là thiện, từ bỏ lấy của không cho là thiện, từ bỏ tà hạnh trong các dục là thiện, từ bỏ nói láo là thiện, từ bỏ nói hai lưỡi là thiện, từ bỏ ác khẩu là thiện, từ bỏ nói phù phiếm là thiện, không tham dục là thiện, không sân là thiện, chánh tri kiến là thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là thiện.
Chư Hiền, thế nào là căn bổn thiện? Không tham là căn bổn thiện, không sân là căn bổn thiện, không si là căn bổn thiện. Chư Hiền, như vậy gọi là căn bổn thiện.
Chư Hiền, khi nào Thánh đệ tử tuệ tri bất thiện như vậy, tuệ tri căn bổn bất thiện như vậy, tuệ tri thiện như vậy, tuệ tri căn bổn thiện như vậy, khi ấy, vị ấy đoạn trừ tất cả tham tùy miên, tẩy sạch sân tùy miên, nhổ tận gốc kiến mạn tùy miên "Tôi là", đoạn trừ vô minh, khiến minh khởi lên, diệt tận khổ đau ngay trong hiện tại. Chư Hiền, như vậy Thánh đệ tử có chánh tri kiến, có tri kiến chánh trực, có lòng tin Pháp tuyệt đối và thành tựu diệu pháp này.
... (Kinh Chánh Tri Kiến, Trung Bộ, HT. Minh Châu dịch Việt)

“Yato kho āvuso ariyasāvako akusalañca pajānāti, akusalamūlañca pajānāti, kusalañca pajānāti, kusalamūlañca pajānāti. Ettāvatāpi kho āvuso ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti. Ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṃ saddhammaṃ.
Katamaṃ panāvuso akusalaṃ, katamaṃ akusalamūlaṃ, katamaṃ kusalaṃ, katamaṃ kusalamūlaṃ. Pāṇātipāto kho āvuso akusalaṃ, adinnādānaṃ akusalaṃ, kāmesumicchācāro akusalaṃ, musāvādo akusalaṃ, pisuṇā vācā (Sammādiṭṭhī - Sī, Syā) akusalaṃ, pharusā vācā (Pharusavācā - Ka) akusalaṃ, samphappalāpo akusalaṃ, abhijjhā akusalaṃ, byāpādo akusalaṃ, micchādiṭṭhi akusalaṃ. Idaṃ vuccatāvuso akusalaṃ.
Katamañcāvuso akusalamūlaṃ. Lobho akusalamūlaṃ, doso akusalamūlaṃ, moho akusalamūlaṃ. Idaṃ vuccatāvuso akusalamūlaṃ.
Katamañcāvuso kusalaṃ. Pāṇātipātā veramaṇī kusalaṃ, adinnādānā veramaṇī kusalaṃ, kāmesumicchācārā veramaṇī kusalaṃ, musāvādā veramaṇī kusalaṃ, pisuṇāya vācāya veramaṇī kusalaṃ, pharusāya vācāya veramaṇī kusalaṃ, samphappalāpā veramaṇī kusalaṃ, anabhijjhā kusalaṃ, abyāpādo kusalaṃ, sammādiṭṭhi kusalaṃ. Idaṃ vuccatāvuso kusalaṃ.
Katamañcāvuso kusalamūlaṃ. Alobho kusalamūlaṃ, adoso kusalamūlaṃ, amoho kusalamūlaṃ. Idaṃ vuccatāvuso kusalamūlaṃ.
Yato kho āvuso ariyasāvako evaṃ akusalaṃ pajānāti, evaṃ akusalamūlaṃ pajānāti, evaṃ kusalaṃ pajānāti, evaṃ kusalamūlaṃ pajānāti. So sabbaso rāgānusayaṃ pahāya paṭighānusayaṃ paṭivinodetvā asmīti diṭṭhimānānusayaṃ samūhanitvā avijjaṃ pahāya vijjaṃ uppādetvā diṭṭhevadhamme dukkhassantakaro hoti. Ettāvatāpi kho āvuso ariyasāvako sammādiṭṭhi hoti, ujugatāssa diṭṭhi, dhamme aveccappasādena samannāgato, āgato imaṃ saddhamman”ti.
... (Chánh Tạng Pāli)

Chỉ nhiêu đây cũng đủ và căn bản rồi, các phần khác thì chuyên môn hơn,... vào xem tiếp: 

Sunday, February 16, 2014

Thăm đại sư đạo sĩ...


Một vị thầy tu tập thiền định, đắc được thần thông, có khả năng nhận biết được tâm của người khác, cũng chỉ có thế thôi! Bạn cũng có khả năng nhận biết được thân, thọ, tâm, pháp của chính mình, bằng cách thực hành Tứ Niệm Xứ. Từ cách thực hành này do chính Đức Phật giảng giải, bạn có khả năng tự giải thoát giác ngộ, đoạn tận khổ đau, không cần phải tìm đến vị thầy đó để hỏi về thân, thọ, tâm, pháp của mình như thế nào! (Sư Pháp Hạnh)

Đọc bài Kinh Phân Biệt Nghiệp, cũng hơi khó hiểu, mới thấy trí tuệ của bậc Toàn Giác thật không thể nghĩ bàn, đến cả những bậc thánh cũng mắc lỗi lầm khi đề cập đến Nghiệp. Tin vào những lời dạy rõ ràng, súc tích, có nhiều câu từ lặp đi lặp lại trong thể loại "Kinh Tiểu Thừa" này của Đức Phật Gotama, và thực hành nó trong đời sống thường ngày, sự bình an sẽ tìm đến với chúng ta:

Như vầy tôi nghe.
Một thời, Thế Tôn ở Rajagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng sóc.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Samiddhi trú tại một cái cốc trong rừng. Rồi du sĩ ngoại đạo Potaliputta tiêu dao tản bộ, tuần tự du hành, đi đến Tôn giả Samiddhi; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Samiddhi những lời chào đón hỏi thăm. Sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, du sĩ ngoại đạo Potaliputta thưa với Tôn giả Samiddhi:

-- Này Hiền giả Samiddhi, trước mặt Thế Tôn, tôi tự thân nghe, tự thân ghi nhận như sau: "Hư vọng là thân nghiệp, hư vọng là khẩu nghiệp, chỉ có ý nghiệp là chân thật. Và có một Thiền chứng (samapatti), do thành tựu Thiền chứng này, sẽ không có cảm giác gì".

-- Này Hiền giả Potaliputta, chớ có nói vậy. Này Hiền giả Potaliputta, chớ có nói vậy. Chớ có phỉ báng Thế Tôn; phỉ báng Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn không có nói như vậy: "Hư vọng là thân nghiệp, hư vọng là khẩu nghiệp, chỉ có ý nghiệp là chân thật". Và Hiền giả, có một Thiền Chứng, do thành tựu thiền chứng này, sẽ không có cảm giác gì.

-- Ngài xuất gia đã bao lâu, thưa Hiền giả Samiddhi?

-- Không lâu, thưa Hiền giả. Có ba năm.

-- Nay ở đây chúng tôi còn hỏi các Tỷ-kheo trưởng lão làm gì khi một tân Tỷ-kheo nghĩ rằng cần phải bảo vệ vị Ðạo sư như vậy. Thưa Hiền giả Samiddhi, khi một người có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thời người ấy có cảm giác gì?

-- Này Hiền giả Potaliputta, khi một người có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp thời người ấy cảm giác khổ đau.

Rồi du sĩ ngoại đạo Potaliputta, không tán thán cũng không phản đối lời nói của Tôn giả Samiddhi. Không tán thán, không phản đối, du sĩ ngoại đạo Potaliputta từ chỗ ngồi đứng dậy rồi ra đi.

Rồi Tôn giả Samiddhi, sau khi du sĩ ngoại đạo Potaliputta ra đi không bao lâu, liền đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, nói lên với Tôn giả Ananda những lời chào đón hỏi thăm; sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Samiddhi kể lại cho Tôn giả Ananda tất cả cuộc đàm thoại với du sĩ ngoại đạo Potaliputta. Sau khi nghe nói vậy, Tôn giả Ananda nói với Tôn giả Samiddhi:

-- Này Hiền giả Samiddhi, đây là đề tài một câu chuyện cần phải yết kiến Thế Tôn. Này Hiền giả Samiddhi, chúng ta hãy đi đến Thế Tôn, sau khi đến hãy trình bày lên Thế Tôn rõ ý nghĩa này. Thế Tôn trả lời chúng ta như thế nào, chúng ta hãy như vậy thọ trì.

-- Thưa vâng, Hiền giả.

Tôn giả Samiddhi vâng đáp Tôn giả Ananda. Rồi Tôn giả Ananda và Tôn giả Samiddhi đi đến Thế Tôn; sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Tôn giả Ananda, trình lên Thế Tôn tất cả câu chuyện giữa Tôn giả Samiddhi với du sĩ ngoại đạo Potaliputta.

Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

-- Này Ananda, Ta chưa từng thấy du sĩ ngoại đạo Potaliputta, thời câu chuyện này từ đây xảy ra? Này Ananda, câu hỏi đáng lý phải trả lời phân tích rõ ràng cho du sĩ ngoại đạo Potaliputta, lại được kẻ ngu si Samiddhi này trả lời theo một chiều.

Khi nghe nói vậy, Tôn giả Udayi bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, nếu đây là ý nghĩa của Tôn giả Samiddhi nói lên, thời cảm giác gì người ấy cảm thọ là cảm giác khổ đau.

Rồi Thế Tôn nói với Tôn giả Ananda:

-- Này Ananda, hãy xem con đường sai lạc của kẻ ngu si Udayi này. Này Ananda, Ta biết rằng, nếu nay kẻ ngu si Udayi này mở miệng ra (đề cập vấn đề gì), ông ấy sẽ mở miệng đề cập một cách không như lý (ayoniso). Này Ananda, thật sự chỗ khởi thủy của du sĩ ngoại đạo Potaliputta hỏi là về ba cảm thọ. Này Ananda, nếu kẻ ngu si Samiddhi này được du sĩ ngoại đạo Potaliputta hỏi như vậy và trả lời như sau: "Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp, có khả năng đưa đến lạc thọ, người ấy sẽ cảm giác lạc thọ. Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến khổ thọ, người ấy sẽ cảm giác khổ thọ. Này Hiền giả Potaliputta, nếu một ai có dụng ý làm thân nghiệp, khẩu nghiệp, ý nghiệp có khả năng đưa đến bất khổ bất lạc thọ, người ấy sẽ cảm giác bất khổ bất lạc thọ"; nếu trả lời như vậy, này Ananda, kẻ ngu si Samiddhi đã trả lời một cách chơn chánh cho du sĩ ngoại đạo Potaliputta. Và lại nữa, này Ananda, những kẻ du sĩ ngoại đạo ngu si, kém học, họ sẽ hiểu được đại phân biệt về nghiệp của Như Lai, này Ananda, nếu Ông nghe Như Lai phân tích đại phân biệt về nghiệp".

-- Bạch Thế Tôn, nay đã đến thời; bạch Thiện Thệ nay đã đến thời, Thế Tôn hãy phân tích đại phân biệt về nghiệp! Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.

-- Vậy này Ananda, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Tôn giả Ananda vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Này Ananda, có bốn loại người này có mặt ở đời. Thế nào là bốn? Ở đây, này Ananda, có người sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói lời ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham dục, có sân tâm, có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Nhưng ở đây, này Ananda, có người sát sanh,... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Ở đây, này Ananda, có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho, từ bỏ tà hạnh trong các dục, từ bỏ nói láo, từ bỏ nói hai lưỡi, từ bỏ nói ác khẩu, từ bỏ nói lời phù phiếm, từ bỏ tham dục, từ bỏ sân tâm, có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này.

Nhưng ở đây, này Ananda, có người từ bỏ sát sanh,... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục.

Ở đây, này Ananda, có vị Sa-môn hay Bà-la-môn nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn, nhờ cần mẫn, nhờ không phóng dật, nhờ chánh tác ý, nên tâm nhập định. Khi tâm nhập định, nhờ thiên nhãn thanh tịnh siêu nhân, vị ấy thấy có người ở đây sát sanh, lấy của không cho, sống tà hạnh trong các dục, nói láo, nói hai lưỡi, nói ác khẩu, nói lời phù phiếm, có tham dục, có sân tâm, có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Vị ấy nói như sau: "Thật sự có những ác nghiệp, có quả báo ác hạnh. Và ta đã thấy có người ở đây sát sanh, lấy của không cho... nói hai lưỡi... có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả mọi người sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chơn chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí. Như vậy, điều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng".

Ở đây, này Ananda, có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn,... vị ấy thấy có người sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, vị ấy được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Vị ấy nói như sau: "Thật sự không có những ác nghiệp, không có quả báo ác hạnh. Và ta đã thấy có người ở đây sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả mọi người sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; "sau khi thân hoại mạng chung, họ đều được sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chơn chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí". Như vậy, điều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chân thực, ngoài ra đều là hư vọng".

Ở đây, này Ananda, có Sa-môn hay Bà-la-môn, nhờ nhiệt tâm, nhờ tinh tấn,... vị ấy thấy có người ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Vị ấy nói như sau: "Thật sự có những thiện nghiệp, có quả báo thiện hạnh. Và ta đã thấy có người ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả mọi người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chơn chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí". Như vậy, điều này vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng".

Ở đây, này Ananda, có Sa-môn... vị ấy thấy có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Vị ấy nói như sau: "Thật sự không có những thiện nghiệp, không có quả báo thiện hạnh. Và ta đã thấy có người ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả mọi người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, họ đều bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chân chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí". Như vậy, điều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chân thực, ngoài ra đều là hư vọng".

Ở đây, này Ananda, Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn có ác nghiệp, có quả báo ác nghiệp". Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy. Vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến, sau khi thân hoại mạng chung, tôi thấy người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Như vậy, Ta cũng chấp nhận cho vị ấy. Còn nếu vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả những ai sát sanh, lấy của không cho... ; sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục", như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Và nếu vị ấy nói như sau: "Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chân chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí"; như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Ðiều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng". Như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Vì cớ sao? Khác như vậy, này Ananda, là trí của Như Lai về Ðại phân biệt về nghiệp.

Ở đây, này Ananda, Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn không có ác nghiệp, không có quả báo ác hạnh". Như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Và vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, tôi thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy. Còn nếu vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả những ai sát sanh, lấy của không cho... tất cả sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào thiện thú Thiên giới, cõi đời này"; như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Và nếu vị ấy nói như sau: "Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chơn chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí"; như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Ðiều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng". Như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Vì cớ sao? Khác như vậy, này Ananda, là trí của Như Lai về Ðại phân biệt về nghiệp.

Ở đây, này Ananda, Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn có thiện nghiệp, có quả báo thiện hạnh". Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy. Và vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người từụ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, tôi thấy người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này". Như vậy, Ta cũng chấp nhận cho vị ấy. Còn nếu vị ấy nói như sau: "Chắc chắn tất cả những ai từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... tất cả sau khi thân hoại mạng chung; họ đều sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này"; như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Và nếu vị ấy nói như sau: "Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chân chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí"; như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Ðiều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng". Như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Vì cớ sao? Khác như vậy, này Ananda, là trí của Như Lai về Ðại phân biệt về nghiệp.

Ở đây, này Ananda, Sa-môn hay Bà-la-môn nào nói như sau: "Chắc chắn không có thiện nghiệp, không có quả báo thiện hạnh ". Như vậy, Ta không chấp nhận cho vị ấy. Và vị ấy nói như sau: "Tôi đã thấy ở đây có người từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, tôi thấy người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục". Như vậy, Ta chấp nhận cho vị ấy. Còn nếu vị ấy nói như sau: "Chắc chắn những ai từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, tất cả sau khi thân hoại mạng chung, họ đều sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục"; như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Và nếu vị ấy nói như sau: "Những ai biết như vậy, những vị ấy biết một cách chân chánh. Những ai biết khác như vậy, trí của họ thuộc tà trí"; như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Ðiều vị ấy tự mình biết, tự mình thấy, tự mình hiểu rõ, ở đây, vị ấy nắm giữ, chấp trước và tuyên bố: "Chỉ như vậy mới chơn thực, ngoài ra đều là hư vọng". Như vậy, Ta cũng không chấp nhận cho vị ấy. Vì cớ sao? Khác như vậy, này Ananda, là trí của Như Lai về Ðại phân biệt về nghiệp.

Ở đây, này Ananda, người nào sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục... Hoặc là một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm lúc trước, hay một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và ai ở đây sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Ở đây, này Ananda, người nào sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này... Hoặc là một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm lúc trước, hay một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một chánh kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt. Do vậy sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Và ai ở đây sát sanh, lấy của không cho... có tà kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Ở đây, này Ananda, người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này... Hoặc là một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm từ trước, hay một thiện nghiệp đưa đến cảm giác lạc thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một chánh kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào thiện thú, Thiên giới, cõi đời này. Và ai ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại, hay trong một đời khác.

Ở đây, này Ananda, người nào từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến; sau khi thân hoại mạng chung, người ấy bị sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục... Hoặc là một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm từ trước, hay một ác nghiệp đưa đến cảm giác khổ thọ do người ấy làm về sau, hay trong khi mệnh chung, một tà kiến được người ấy chấp nhận và chấp chặt. Do vậy, sau khi thân hoại mạng chung, người ấy sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Và ai ở đây từ bỏ sát sanh, từ bỏ lấy của không cho... có chánh kiến, người ấy phải lãnh thọ quả báo được khởi lên ngay hiện tại hay trong một đời khác.

Như vậy, này Ananda, có nghiệp vô hữu tợ vô hữu, có nghiệp vô hữu tợ hữu, có nghiệp hữu tợ hữu, có nghiệp hữu tợ vô hữu.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Tôn giả Ananda hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.

Đại Kinh Nghiệp Phân Biệt, HT. Minh Châu dịch Việt
(Bình Anson hiệu đính, dựa theo bản Anh ngữ "The Middle Length Discourses of the Buddha", Tỳ kheo Nanamoli và Tỳ kheo Bodhi dịch, 1995).

Majjhima Nikaya 136
Mahakammavibhanga Sutta
The Great Exposition of Kamma
Translated from the Pali by Ñanamoli Thera

Introduction (by Bhikkhu Khantipalo)
This celebrated sutta shows some of the complexities of kamma and its results. Beginning with a strange view expressed by a confused wanderer and a confused answer given by a bhikkhu, the Buddha then gives his Great Exposition of Kamma which is based upon four "types" of people:

the evil-doer who goes to hell (or some other low state of birth),
the evil-doer who goes to heaven,
the good man who goes to heaven, and
the good man who goes to hell (or other low birth).

The Buddha then shows how wrong views can arise from only partial understanding of truth. One can see the stages of this: (1) a mystic "sees" in vision an evil-doer suffering in hell, (2) this confirms what he had heard about moral causality, (3) so he says, "evil-doers always go to hell," and (4) dogma hardens and becomes rigid when he says (with the dogmatists of all ages and places), "Only this is true; anything else is wrong." The stages of this process are repeated for each of the four "persons," after which the Buddha proceeds to analyze these views grounded in partial experience and points out which portions are true (because verifiable by trial and experience) and which are dogmatic superstructure which is unjustified. Finally, the Buddha explains his Great Exposition of Kamma in which he shows that notions of invariability like "the evildoer goes to hell" are much too simple. The minds of people are complex and they make many different kinds of kamma even in one lifetime, some of which may influence the last moment when kamma is made before death, which in turn is the basis for the next life.

1. Thus have I heard. On one occasion the Blessed One was living at Rajagaha, in the Bamboo Grove, the Squirrels' Feeding Place. Now on that occasion the venerable Samiddhi was living in a forest hut.

Then the wanderer Potaliputta, walking and wandering for exercise, came to the venerable Samiddhi and exchanged greetings with him, and when the courteous and amiable talk was finished, he sat down at one side. When he had done so, he said to the venerable Samiddhi:

2. "I heard and learned this, friend Samiddhi, from the monk Gotama's lips: 'Bodily kammas are vain, verbal kammas are vain, only mental kammas are true.' But there is actually that attainment having entered upon which nothing (of result of kammas) is felt at all."

"Not so, friend Potaliputta, do not say thus, do not misrepresent the Blessed One; it is not good to misrepresent the Blessed One; the Blessed One would not say so: 'Bodily kammas are vain, verbal kammas are vain, only mental kammas are true.' And there is actually that attainment having entered upon which nothing (of result of kammas) is felt at all."

"How long is it since you went forth, friend Samiddhi?"

"Not long, friend, three years."

"There now, what shall we say to the elder bhikkhus, when the young bhikkhu fancies the Master is to be defended thus? After doing intentional kamma, friend Samiddhi, by way of body, speech or mind, what does one feel (of its result)?"

"After doing an intentional kamma, friend Potaliputta, by way of body, speech or mind, one feels suffering (as its result)."

Then neither agreeing nor disagreeing with the words of the venerable Samiddhi, the wanderer Potaliputta got up from his seat and went away.

3. Soon after the wanderer Potaliputta had gone, the venerable Samiddhi went to the venerable Ananda and exchanged greetings with him, and when the courteous and amiable talk was finished, he sat down at one side. When he had done so, he told the venerable Ananda all his conversation with the wanderer Potaliputta.

When this was said, the venerable Ananda told him: "Friend Samiddhi, this conversation should be told to the Blessed One. Come, let us go to the Blessed One, and having done so, let us tell him about this. As he answers, so we shall bear it in mind."

"Even so, friend," the venerable Samiddhi replied.

Then they went together to the Blessed One, and after paying homage to him, they sat down at one side. When they had done so, the venerable Ananda told the Blessed One all the venerable Samiddhi's conversation with the wanderer Potaliputta.

4. When this was said, the Blessed One told the venerable Ananda:

"I do not even know the wanderer by sight, Ananda. How could there have been such a conversation? The wanderer Potaliputta's question ought to have been answered after analyzing it, but this misguided man Samiddhi answered it without qualification.[1]

When this was said, the venerable Udayin said to the Blessed One: "'But, venerable sir, supposing when the venerable Samiddhi spoke, he was referring to this, namely, 'Whatever is felt is suffering.'"[2]

5. Then the Blessed One addressed the venerable Ananda: "See, Ananda, how this misguided man Udayin interferes. I knew, Ananda, that this misguided man Udayin would unreasonably interfere now. To begin with it was the three kinds of feeling that were asked about by the wanderer Potaliputta. If, when this misguided man Samiddhi was asked, he had answered the wanderer Potaliputta thus: 'After doing an intentional kamma by way of body, speech and mind (whose result is) to be felt as pleasure, he feels pleasure; after doing an intentional kamma by way of body, speech and mind (whose result is) to be felt as pain, he feels pain; after doing an intentional kamma by way of body, speech and mind (whose result is) to be felt as neither-pain-nor-pleasure, he feels neither-pain-nor-pleasure' -- by answering him thus, Ananda, the misguided man Samiddhi would have given the wanderer Potaliputta the right answer. Besides, Ananda, who are the foolish thoughtless wanderers of other sects that they will understand the Tathagata's Great Exposition of Kamma? (But) if you, Ananda, would listen to the Tathagata expounding the Great Exposition of Kamma (you might understand it).[3]

"This is the time, Blessed One, this is the time, Sublime One, for the Blessed One to expound the Great Exposition of Kamma. Having heard it from the Blessed One, the bhikkhus will bear it in mind."

"Then listen, Ananda, and heed well what I shall say."

"Even so, venerable sir," the venerable Ananda replied. The Blessed One said this:

6. "Ananda, there are four kinds of persons existing in the world. What four?

(i) "Here some person kills living beings, takes what is not given, misconducts himself in sexual desires, speaks falsehood, speaks maliciously, speaks harshly, gossips, is covetous, is ill-willed, and has wrong view.[4] On the dissolution of the body, after death, he reappears in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.

(ii) "But here some person kills living beings...and has wrong view. On the dissolution of the body, after death, he reappears in a happy destination, in the heavenly world.

(iii) "Here some person abstains from killing living beings, from taking what is not given, from misconduct in sexual desires, from false speech, from malicious speech, from harsh speech, from gossip, he is not covetous, is not ill-willed, and has right view.[5] On the dissolution of the body, after death, he reappears in a happy destination, in the heavenly world.

(iv) "But here some person abstains from killing living beings...and has right view. On the dissolution of the body, after death, he reappears in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.

7. (i) "Here, Ananda, in consequence of ardor, endeavor, devotion, diligence, and right attention, some monk or brahmin attains such concentration of mind that, when his mind is concentrated, he sees with the heavenly eyesight, which is purified and surpasses the human, that some person kills living beings here, takes what is not given, misconducts himself in sexual desires, speaks falsehood, speaks maliciously, speaks harshly, gossips, is covetous, is ill-willed, has wrong view. He sees that on the dissolution of the body, after death, he has reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. He says: 'It seems that there are evil kammas and that there is the result of misconduct; for I have seen that a person killed living beings here...had wrong view. I have seen that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.' He says: 'It seems that one who kills living beings...has wrong view, will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge.' So he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; insisting on that alone, he says: 'Only this is true, anything else is wrong.'

8. (ii) "But here in consequence of ardor, endeavor, devotion, diligence and right attention, some monk or brahmin attains such concentration of mind that, when his mind is concentrated, he sees with the heavenly eyesight, which is purified and surpasses the human, that some person kills living beings here...has wrong view. He sees that on the dissolution of the body, after death, he has reappeared in a happy destination, in the heavenly world. He says: 'It seems there are no evil kammas, there is no result of misconduct. For I have seen that a person killed living beings here...had wrong view. I have seen that on the dissolution of the body, after death, he has reappeared in a happy destination, in the heavenly world.' He says: 'It seems there are no evil kammas, there is no result of misconduct. For I have seen that a person killed living beings here...had wrong view. I have seen that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in a happy destination, in the heavenly world.' He says: "It seems that one who kills living beings...has wrong view will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in a happy destination, in the heavenly world. Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge.' So he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; insisting on that alone, he says: 'Only this is true, anything else is wrong.'

9. (iii) "Here in consequence of ardor, endeavor, devotion, diligence and right attention, some monk or brahmin attains such concentration of mind that, when his mind is concentrated, he sees with the heavenly eyesight, which is purified and surpasses the human, that some person abstains from killing living beings here...has right view. He sees that, on the dissolution of the body, after death, he has reappeared in a happy destination, in the heavenly world. He says: 'It seems that there are good kammas, there is result of good conduct. For I have seen that a person abstained from killing living beings here...had right view. I saw that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in a happy destination, in the heavenly world.' He says: 'It seems that one who abstains from killing living beings...has right view will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in a happy destination, in the heavenly world. Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge.' So he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; insisting on that alone, he says: 'Only this is true; anything else is wrong.'

10. (iv) "But here in consequence of ardor, endeavor, devotion, diligence and right attention, some monk or brahmin attains such concentration of mind that, when his mind is concentrated, he sees with the heavenly eyesight, which is purified and surpasses the human, that some person abstains from killing living beings here...has right view. He sees that on the dissolution of the body, after death, he has reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. He says: 'It seems that there are no good kammas, there is no result of good conduct. For I have seen that a person abstained from killing here...had right view. I saw that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.' He says: 'It seems that one who abstains from killing living beings...has right view, will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge.' So he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; insisting on that alone, he says: 'Only this is true; anything else is wrong.'

11. (i) "Now, Ananda, when a monk or brahmin says thus: 'It seems that there are evil kammas, there is the result of misconduct,' I concede that to him.

"When he says thus: 'For I have seen that some person killed living beings...had wrong view. I saw that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell,' I concede that to him.

"When he says thus: 'It seems that one who kills living beings...has wrong view, will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell,' I do not concede that to him.

"When he says thus: 'Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge,' I do not concede that to him.

"When he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; and insisting on that alone, he says: 'Only this is true; anything else is wrong,' I do not concede that to him.

"Why is that? The Tathagata's knowledge of the Great Exposition of Kamma is different.

12. (ii) "Now when a monk or brahmin says thus: 'It seems that there are no evil kammas, there is no result of misconduct,' I do not concede that to him.

"When he says thus: 'For I have seen that a person killed living beings...had wrong view. I saw that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in a happy destination, in the heavenly world,' I concede that to him.

"When he says thus: 'It seems that one who kills living beings...has wrong view, will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in a happy destination, in the heavenly world,' I do not concede that to him.

"When he says thus: 'Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge,' I do not concede that to him.

"When he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; and insisting on that alone, he says: 'Only this is true; anything else is wrong,' I do not concede that to him.

"Why is that? The Tathagata's knowledge of the Great Exposition of Kamma is different.

13. (iii) "Now when a monk or brahmin says thus: 'It seems that there are good kammas, there is a result of good conduct,' I concede that to him.

"When he says thus: 'For I have seen that a person abstained from killing living beings here...had right view. I saw that on the dissolution of the body after death, he had reappeared in a happy destination, in the heavenly world,' I concede that to him.

"When he says: 'It seems that one who abstains from killing living beings...has right view will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in a happy destination, in the heavenly world,'[6] I do not concede that to him.

"When he says: 'Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge,' I do not concede that to him.

"When he obstinately misapprehends what he himself has known, seen, and felt; and insisting on that alone he says: 'Only this is true: anything else is wrong,' I do not concede that to him.

"Why is that? The Tathagata's knowledge of the Great Exposition of Kamma is different.

14. (iv) "Now when a monk or brahmin says thus: 'It seems that there are no good kammas, there is no result of good conduct,' I do not concede that to him.

"When he says thus: "For I have seen that a person abstained from killing living beings here...had right view. I saw that on the dissolution of the body, after death, he had reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell," I concede that to him.

"When he says thus: 'One who abstains from killing living beings...has right view will always, on the dissolution of the body, after death, reappear in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell,' I do not concede that to him.

"When he says thus: 'Those who know thus know rightly; those who know otherwise are mistaken in their knowledge,' I do not concede that to him.

"When he obstinately misapprehends what he himself has known, seen and felt; and insisting on that alone, he says: 'Only this is true; anything else is wrong,' I do not concede that to him.

"Why is that? The Tathagata's knowledge of the Great Exposition of Kamma is different.

(The Great Exposition of Kamma)

15. (i) "Now, Ananda, there is the person who has killed living beings here...has had wrong view. And on the dissolution of the body, after death, he reappears in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.[7] But (perhaps) the evil kamma producing his suffering was done by him earlier, or the evil kamma producing his suffering was done by him later, or wrong view was undertaken and completed by him at the time of his death.[8] And that was why, on the dissolution of the body, after death, he reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. But since he has killed living beings here...has had wrong view, he will feel the result of that here and now, or in his next rebirth, or in some subsequent existence.

16. (ii) "Now there is the person who has killed living beings here...has had wrong view. And on the dissolution of the body, after death, he reappears in a happy destination, in the heavenly world.[9] But (perhaps) the good kamma producing his happiness was done by him earlier, or the good kamma producing his happiness was done by him later, or right view was undertaken and completed by him at the time of his death. And that was why, on the dissolution of the body, after death, he reappeared in a happy destination, in the heavenly world. But since he has killed living beings here...has had wrong view, he will feel the result of that here and now, or in his next rebirth, or in some subsequent existence.[10]

17. (iii) "Now there is the person who has abstained from killing living beings here...has had right view. And on the dissolution of the body, after death, he reappears in a happy destination, in the heavenly world.[11] But (perhaps) the good kamma producing his happiness was done by him earlier, or the good kamma producing his happiness was done by him later, or right view was undertaken and completed by him at the time of his death. And that was why, on the dissolution of the body, after death, he reappeared in a happy destination, in the heavenly world. But since he has abstained from killing living beings here...has had right view, he will feel the result of that here and now, or in his next rebirth, or in some subsequent existence.

18. (iv) "Now there is the person who has abstained from killing living beings here...has had right view. And on the dissolution of the body, after death, he reappears in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell.[12] But (perhaps) the evil kamma producing his suffering was done by him earlier, or the evil kamma producing his suffering was done by him later, or wrong view was undertaken and completed by him at the time of his death. And that was why, on the dissolution of the body, after death, he reappeared in the states of deprivation, in an unhappy destination, in perdition, in hell. But since he has abstained from killing living beings here...has had right view, he will feel the result of that here and now, or in his next rebirth, or in some subsequent existence.[13]

19. "So, Ananda, there is kamma that is incapable (of good result) and appears incapable (of good result); there is kamma that is incapable (of good result) and appears capable (of good result); there is kamma that is capable (of good result) and appears capable (of good result); there is kamma that is capable (of good result) and appears incapable (of good result)."[14]

This is what the Blessed One said. The venerable Ananda was satisfied and he rejoiced in the Blessed One's words.

Notes

1. These are two of the four ways of answering a question, the other two being: replying with a counter-question, and "setting aside" the question, i.e. replying with silence.

2. This is a quotation from the Buddha's words: see Samyutta Nikaya, Vedana Samyutta, Rahogata-vagga Sutta 1.

3. This is an addition necessary for understanding this sentence.

4. These are the ten unwholesome courses of kamma.

5. These are the ten wholesome courses of kamma.

6. This amounts to the belief in theistic religions where virtue and faith (=whatever is held to be right view) are supposed to guarantee salvation.

7. Devadatta, for instance, who persuaded prince Ajatasattu to murder his father (who was a stream-winner), three times attempted to murder the Buddha and once succeeded in wounding him, and caused a schism in the Sangha; the last two actions are certain to lead to birth in hell.

8. This series of three phrases appears to mean: earlier, either earlier in life before he undertook either the wholesome or unwholesome courses of kamma, or in some previous life; later, later in that very life, for even if a person does much evil kamma, usually he will also make some good kamma occasionally; wrong view...time of his death, this kind of wrong view will be of the type, "there is no kamma, no results of kamma, no evil, no results of evil," and so on. The next birth actually depends on the object of the last moments of a dying person's consciousness. At that time one should recollect all one's good kamma: generosity, loving-kindness, compassion, pure precepts and so on. Evil should not be thought of then though heavy evil kamma done previously may force itself into the mind and make recollection of one's generosity and virtue in keeping the precepts difficult or impossible.

9. A good example of this is the story of "Coppertooth," the public executioner who, after a career of murder as a bandit, then as the killer of his own bandit comrades and subsequently executioner of all criminals for fifty years, was taught by venerable Sariputta Thera and his mind eased of the heavy weight of evil kamma so that he attained heavenly rebirth. See Dhammapada Commentary, ii, 203-209.

10. Though such a person attained a heavenly rebirth the evil kamma made will still mature sooner or later; he has not escaped its results.

11. King Pasenadi of Kosala, for instance.

12. This was what happened to Queen Mallika, wife of King Pasenadi, who had led a good life, generous, keeping the Five Precepts, and the Eight Precepts on Uposatha days and so on, but once she did evil, having sexual relations with a dog. This unconfessed evil weighed heavily on her mind and she remembered it when dying. As a result she spent seven days in hell. Her power of goodness from the doing of many good kammas then gave her rebirth in a heavenly world. See Dhammapada Commentary, iii, 119-123.

13. Though this virtuous and good person has obtained a low rebirth through the power of previously done evil kamma, still the good kamma made by him will mature sooner or later, when it gets a chance.

14. This final terse paragraph may have been clear to the venerable Ananda Thera, or he may have asked for an explanation, as we require and find in the Commentary, which says:

i.A strong unwholesome kamma (incapable of good result), the result of which will come before the results of weaker unwholesome kammas.

ii. Wholesome kamma (which appears capable of good result) is followed by unwholesome death-proximate kamma which makes the former incapable of good result immediately.

iii.A strong wholesome kamma will mature even before much accumulated unwholesome kamma.

iv.Unwholesome kamma (which appears incapable of good result) is followed by wholesome death-proximate kamma which will mature first and is capable of good results.

Source: http://world.std.com/~metta/canon/majjhima/mn136.html 
(Revised: 9 November 1998)

P/s: Nhưng dẫu sao thì hành động của mấy đại sư đạo sĩ này cũng kỳ quặc, không biết họ đang khuyên mình hay đang trách mình!

__Thuận Pháp__