Sunday, September 1, 2013

Thờ Phật như thế nào?



Cúng dường lên đức Phật bằng cách HÀNH ĐẠO là cao thượng nhất. Tuy nhiên, đó là nói về Lý. Còn Sự để tỏ lòng thành kính lên đấng CHÍ TÔN người Phật tử cũng có thể dùng hương, đèn, trầm, hoa lên cúng Phật với đầy đủ Lý và Sự cũng được chấp nhận là hiệp theo lẽ Đạo.

Sách "MINH TÂM BỬU GIÁM" có bài Kệ như sau:
LỄ PHẬT GIẢ, KÍNH PHẬT CHI ĐỨC
NIỆM PHẬT GIẢ, CẢM PHẬT CHI ÂN
KHÁN KINH GIẢ, MINH PHẬT CHI LÝ
TỌA THIỀN GIẢ, ĐĂNG PHẬT CHI CẢNH
CHỨNG NGỘ GIẢ, ĐẮC PHẬT CHI ĐẠO.

1. "LỄ PHẬT GIẢ, KÍNH PHẬT CHI ĐỨC" có nghĩa là lạy Phật, ta kính trọng cái đức của Phật, Ân đức trọn lành là BI, TRÍ, TỊNH của đấng ĐẠI GIÁC NGỘ, là tấm gương vô cùng cao quý, đáng cho chúng sanh lễ bái cúng dường.

2. "NIỆM PHẬT GIẢ, CẢM PHẬT CHI ÂN": Niệm tưởng hồng danh ba Đời chư Phật, là nhớ ơn cao dày, hoàn toàn bi mẫn, thương xót mọi người, mọi loài mà các Ngài đã từng hy sinh thân mạng máu xương trong vô lượng kiếp, bổ túc MƯỜI PHÁP BA LA MẬT tròn đủ, đã xả thân cầu đạo, mong cứu độ quần sanh, ví như cha mẹ đêm ngày dãi nắng dầm mưa để tạo ra cơm, áo tài sản cho các con được an vui sung sướng.

3. "KHÁN KINH GIẢ, MINH PHẬT CHI LÝ": Nghĩa là xem xét đọc tụng kinh, để suy nghiệm cho hiểu biết nghĩa lý lời vàng, tiếng ngọc của đức Phật đã giáo truyền, để thấy rõ thế nào là phải, thế nào là trái, đâu là nẻo chánh, đường tà, thế nào là lành, thế nào là dữ, đâu là sự khổ, đâu là nẻo vui, mà cố gắng hành theo cho được kết quả tốt đẹp.

4. "TOẠ THIỀN GIẢ, ĐĂNG PHẬT CHI CẢNH": Ngồi tham thiền, lắng lòng trong sạch thanh tịnh chú tâm trong đề mục chỉ quán hay minh sát để đè nén diệt trừ phiền não, trau dồi tâm cho sạch, sáng suốt, quán thấy vạn vật là vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.

5. "CHỨNG NGỘ GIẢ, ĐẮC PHẬT CHI ĐẠO": Mục đích của PHẬT GIÁO là chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc. Vì mê lầm ngã chấp, cho vạn hữu là của TA. Vợ ta, con ta, gia tài sự sản của ta, rồi bo bo giữ lấy, làm cho tâm trí phải lo âu thống khổ. Khi tham thiền, quán tưởng, nhận thấy các pháp hữu vi đều phải chịu dưới sự chi phối của định luật vô thường hằng biến đổi, mà thức tỉnh cõi lòng để diệt trừ TAM ĐỘC là THAM SÂN và SI.

Tuy còn mang thân xác này, nhưng tâm trí đã được nhẹ nhàng minh mẫn, sáng suốt không còn bị ô nhiễm đắm đuối theo mùi trần, không còn bị phiền não lay động tâm, há chẳng phải là đạt đến cảnh giới NIẾT BÀN TỰ TẠI của chư Phật rồi sao?

NGƯỜI CƯ SĨ CÓ THỜ HÌNH TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC KHÔNG?

Thờ phụng ảnh tượng cũng chỉ là phương tiện lấy giả để tầm chân, mượn cái có để nhắc nhở nội tâm đó thôi. Chứ thật ra tượng gỗ hay tượng đất tượng đồng hay xi măng cốt sắt, hình giấy hay ảnh lụa cũng chỉ là những vật liệu do con người cấu trúc kiến tạo ra, chứ đâu có phải đức Phật ngồi đó?

Có điều, mượn hình thức giả tạm đó để nhắc nhở tâm, ví như ta treo tấm gương để soi chiếu, để lau chùi rửa ráy mặt mình cho sạch sẽ gọi là LÝ. Còn treo gương để làm cảnh, để trang hoàng chưng diện cho đẹp, thì chỉ là sự giả tướng mà thôi.

Có Sự mà không hiểu LÝ thì gọi là TÙ MÙ. Bằng chấp LÝ mà bỏ SỰ (Phật tại Tâm) thì coi như khô khan thiếu sót (cũng được gọi là TU QUÈ) vậy.

ĐEM HOA QUẢ, VẬT THỰC CÚNG DƯỜNG PHẬT ĐƯỢC KHÔNG?

Đặt trên bàn Phật vài nải chuối với ngũ quả. Năm bảy chén chè, vài chục cái bánh v.v...để gọi là cúng Phật. Hoặc giả có người để đến ba bốn ngày, đến đỗi chè thiu chuối mốc, chứ đức Phật có hưởng chút nào đâu?

Trái lại, ruồi lằn bu đậu, gián, chuột phá phách tiểu dãi trong đó, rồi vô tình đem ăn, sinh bệnh hoạn không khéo lại than trời, trách Phật nữa!

Đức Phật đã lên đường tịch diệt cách đấy hơn 25 thế kỷ mà còn ăn uống nỗi gì? Vả lại nói một cách cho dễ hiểu. Ví như các vị chư thiên thấp nhất của 26 tầng trời là TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG. Chư vị ấy, vật thực tự nhiên mà có do theo ý muốn, nhờ phước báu của sự bố thí theo hỗ trợ, chứ đâu phải nấu nướng chiên xào, mắm muối tiêu ớt như của thế tục đâu?

Đem vật thực của chúng ta dùng đây, dù là cao lương mỹ vị, sơn hào hải phẩm, dù cho ngon quý báu nhất cõi trần này, đem dâng cúng đến các Ngài, thì chẳng khác nào trâu bò đem rơm cỏ là món ăn ngon nhất của chúng cho loài người dùng có được không?

Vậy thì đức Phật là đấng Chí Tôn Chí Thánh, bậc đã đi đến nơi sáng suốt trọn lành, Ngài đã vượt ra khỏi vòng TAM GIỚI rồi, mà chúng ta lại đem dâng cúng đồ uế trược, phàm tục của chúng ta đến Ngài sao? Vì cố chấp thủ cựu do sự bày đặt của người Trung Quốc mê tín nên chúng ta cứ nhắm mắt làm theo với quan niệm "XƯA BÀY NAY LÀM, TRƯỚC SAO, SAU VẬY" để cho NGOẠI ĐẠO chê cười là "ĐẠO PHẬT MÊ TÍN DỊ ĐOAN".

VẬY CÚNG PHẬT BẰNG GÌ, CHẢ LẼ THỜ KHÔNG VẬY SAO?

Cúng dường lên đức Phật bằng cách HÀNH ĐẠO là cao thượng nhất. Tuy nhiên, đó là nói về Lý. Còn Sự để tỏ lòng thành kính lên đấng CHÍ TÔN người Phật tử cũng có thể dùng hương, đèn, trầm, hoa lên cúng Phật với đầy đủ Lý và Sự cũng được chấp nhận là hiệp theo lẽ Đạo. Cúng dường hiệp theo lẽ Đạo có nghĩa là gì?

Khi thắp đèn lên cho sáng, ta quán niệm: Đây là ngọn đèn tuệ của ba đời chư Phật đã vẹt tan màn bóng tối VÔ MINH đã che án chúng sanh trong vô lượng kiếp. Đốt ba cây nhang là tượng trưng cho ba nén Hương Lòng "TÂM HƯƠNG" có mùi thơm ngào ngạt, đó là hương Giới, hương Định và hương Tuệ hay còn gọi là HƯƠNG TRÍ KIẾN và TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Dâng Hoa lên cúng Phật, chúng ta cũng quán niệm rằng "HOA" này tốt đẹp xinh tươi, nhưng rồi đây nó cũng sẽ úa tàn theo năm tháng.

Cũng như thân ta, vóc huyễn giả tạm nay, rồi cũng sẽ già, đau và chết như thế ấy.

Làm và quán niệm như thế để luôn luôn nhắc nhở tâm ta gọi là cúng dường Sự và Lý đúng theo Lẽ Đạo. Đúng với lòng tôn kính, cao quý lên đức THẾ TÔN.

Trích sách DẪN LỐI VỀ NGUỒN
của Tỳ-khưu Định Lực (Samādhipālo Bhikkhu)

**TP sưu tầm**

Sunday, August 18, 2013

Buddha Jayamaṅgala Gāthā (Kệ Hạnh phúc thù thắng)


1. Bāhuṁ sahassamabhinimmita sāyudhantaṁ
Girimekhalaṁ uditaghorasasenamāraṁ
Dānādidhammavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

Ngữ vựng:
- Bāhu : cánh tay
- Abhinimmita (abhinimmināti): đã tạo ra, đã hóa ra
- Sāyudha (āvudha) : với khí giới
- Anta : cực, rất nhiều
- Girimekhala : tên của một con voi
- Udita (udeti) : đã cỡi
- Ghora : kinh khủng, hung bạo
- Dāna : bố thí
- Vidhina (vidhī) : bằng cách, nhờ
- Jitavantu : chiến thắng
- Muninda : vua ẩn sĩ, bậc Đại Giác
- Tejasā : với uy lực
- Jaya-maṅgala : thắng hạnh, hạnh phúc thù thắng

Nghĩa: (Đức Phật cao thượng hơn các bậc trí tuệ, Ngài đã cảm thắng Ma Vương. Ma Vương biến thành ngàn cánh tay đều cầm khí giới, cưỡi voi Girimekhala đủ cả binh ma, tiếng hét la vang rền. Nhờ Pháp Thập độ, nhất là pháp Bố Thí mà Đức Phật đã cảm thắng được Ma Vương. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

2. Mārātirekamabhiyujjhita sabbarattim
Ghorampanāḷavakamakkhamathaddhayakkhaṁ
Khantīsudantavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Atireka : dư thừa, vượt trội hơn
- Abhiyujjhita (abhiyujjhati) : đã chiến đấu
- Sabba rattiṃ : suốt đêm
- Ālavaka : tên một vị Dạ-xoa
- Makkha : ương ngạnh, hung hãn, thịnh nộ
- Pana… atha : lại nữa, mặt khác, lại càng
- Addha : say sưa, hung hăng
- Khantī : nhẫn nhục
- Sudanta : thuần phục, khéo điều phục

(Đức Phật đã cảm thắng được dạ xoa Āḷavaka rất ngang ngạnh, trổ tài ra oai trọn đêm trước Đức Phật. Dạ xoa rất hung ác và trí lực hơn cả Ma Vương nhưng đã bị Đức Chánh Biến Tri dùng Pháp nhẫn nại thu phục. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

3. Nāḷaāgiriṁ gajavaraṁ atimattabhūtaṁ
Dāvaggicakkamasanīva, sudāruṅantaṁ
Mettambuseka vidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Gaja : voi
- Matta : say
- Ati-matta-bhūta : quá say
- Dāva : sức nóng
- Aggi : lửa
- Dāvaggi : đám cháy rừng
- Cakkamasani : vòng sấm sét
- Dāruṇa : hung dữ, dữ tợn
- Anta : cực kỳ, cùng cực
- Sudāruṇanta : cực kỳ hung dữ
- Ambu : nước
- Seka : sự rải, rưới

(Đức Phật đã cảm thắng được voi dữ Nāḷāgiri đang nổi cơn hung dữ như lửa rừng, như sấm sét bằng cách rải lòng Từ Bi. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

4. Ukkhittakhaggamatihaṭṭha sudāruṅantaṁ
Dhāvantiyojanapathaṅgulimālavantaṁ
Iddhībhisaṅkhatamano jitavā Munindo
Tam tejasa bhavatu te jayamangalani. 

- Ukkhitta (ukkhipati) : đưa lên, vung lên
- Khagga : gươm
- Atihaṭṭha : phấn khởi, phấn chấn, phấn khích
- Dhāva : sự chạy
- Ti : 3
- Yojana : do tuần
- Patha : đường
- Aṅguli : ngón tay
- Aṅgulimāla : tràng, vòng ngón tay
- Aṅgulimālavanta : người đeo vòng ngón tay
- Abhisaṅkhata (abhisaṅkharoti): đã sửa soạn, đã chuẩn bị

(Đức Phật dùng phép Thần Thông cảm thắng Aṅgulimāla - tên kẻ cướp sát nhân hung bạo, chuyên giết người lấy ngón tay xỏ làm tràng hoa đeo cổ khi Ngài bị tên cướp cầm gươm rượt xa ba do - tuần. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

5. Katvāna kaṭṭhamudaraṁ iva gabbhinīyā
Ciñcāya duṭṭhavacanaṁ janakāyamajjhe
Santena somavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Katvāna (karoti) : sau khi đã làm
- Kaṭṭha : khúc gỗ
- Udara : bụng
- Gabbhinī : phụ nữ có thai
- Ciñcā : nàng Ciñcā
- Duṭṭhavacana : lời nói xấu, vu khống
- Janakāya : quần chúng
- Santa : trầm tĩnh, bình thản, an tịnh
- Somma : nhã nhặn, hiền hòa

(Đức Phật đã hóa giải những lời vu khống ác độc của nàng Ciñcā khi nàng rắp tâm quấn khúc gỗ giả làm đứa trẻ trong bụng để mang thai. Nhờ dùng Pháp Chánh Định mà Đấng Toàn Tri đã cảm thắng được nàng giữa chốn đông người. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

6. Saccaṁ vihāyamatisaccakavādaketuṁ
Vādābhiropitamanaṁ ati - andhabhūtaṁ
Paññapadīpajalito jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Vihāya (vijahati) : tảng lờ, từ bỏ, từ chối
- Saccaka : tên một du sĩ ngoại đạo
- Ketu : ngọn cờ, phan, phướn
- Vāda : luận thuyết
- Abhiropita (abhiropeti) : chú trọng, tôn thờ
- Andha : mù
- Ati-andha-bhūta : mù tịt, quá ngu si
- Padīpa : ánh sáng, ngọn đèn
- Jalita (jalati) : chiếu sáng, thắp sáng

(Đức Phật sáng suốt nhờ ngọn đèn Tuệ, Ngài đã cảm thắng kẻ ngoại đạo Saccaka là kẻ không ngay thật, chỉ ưa sự phỉnh nịnh và kiêu căng, là kẻ rất u mê chẳng khác gì người mù. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

7. Nandopanandabhujagaṁ vibudhaṁ mahiddhiṁ
Puttena therabhujagena damāpayanto
Iddhūpadesavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Nandopananda : tên một Long vương
- Bhujaga : rồng rắn
- Vibuddha : không giác ngộ, tà kiến
- Putta : con trai
- Thera : Trưởng lão (chỉ ngài Mục-Kiền-Liên)
- Bhujagena : bằng thân rồng
- Dama : điều phục
- Upayanta (upayāti) : tiếp cận, đến gần
- Upadesa (upadasseti) : sự khuyên dạy, chỉ bày

(Đức Phật dạy Đại đức Moggallāna biến làm Long Vương để thu phục rồng chúa Nandopananda, là rồng chúa có nhiều thần thông nhưng đầy tà kiến. Nhờ dạy Đại đức Moggallāna mà Đức Chánh Biến Tri đã nhiếp phục được rồng chúa ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

8. Duggāhadiṭṭhibhujagena sudaṭṭhahatthaṁ
Brahmaṁ viduddhijutimiddhibakābhidhānaṁ
Ñāṅāgadena vidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Duggāha (du + gāha) : ác thủ (chấp điều ác)
- Gāha (gaṇhāti) : nắm
- Su-daṭṭha (dasati) : bị (khéo) cắn
- Hattha : tay
- Visuddhi : thanh tịnh
- Juti : chói lọi, rực rỡ
- Baka : tên một vị Phạm thiên
- Abhidhāna : tự xưng, tên
- Agada : thuốc chữa bệnh

(Đức Phật đã cảm thắng Đại Phạm Thiên Baka có thần thông, là vị tự cho mình là cao thượng, có đức trong sạch nên đã chấp hẳn vào tà kiến. Nhờ Giác Tuệ mà Đấng Chánh Biến Tri đã nhiếp phục được Đại Phạm Thiên ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

Etāpi Buddhajayamaṅgalaṭṭhagāthā
Yo vācako dinadine sarate matandī
Hitvāna nekavividhāni cupaddavāni
Mokkhaṁ sukhaṁ adigameyya naro sapañño.

- Gāthā : kệ tụng, thơ
- Vācana : học thuộc lòng, tụng
- Dina-dine : hàng ngày
- Sarate (sarati) : ghi nhớ, niệm
- Ma (mā) : không, đừng
- Tandī : mệt mỏi, uể oải
- Hitvāna (jahati) : sau khi đã loại bỏ
- Neka (na + eka) : nhiều thứ
- Vividha : nhiều lần
- Upaddava : sự thống khổ, tai ương
- Mokkha : sự giải thoát
- Adhigameyya (adhigameti) : có thể đạt được
- Nara : người
- Sapañña : có trí khôn ngoan

(Những người có trí tuệ, không biếng nhác, thường ngày hằng tụng hoặc niệm tám kệ ngôn, tán dương oai lực của Đấng Chánh Biến Tri, thì sẽ tránh khỏi vô số nạn tai, và sẽ chứng quả Niết Bàn tối thượng)

**Thuận Pháp st**

Tuesday, August 6, 2013

Vị Sư già và những câu chuyện “tri kỷ”!

Ngày hôm nay, một ngày đáng quên. Cũng là một ngày đáng nhớ! Đáng quên đi những chuyện xui xẻo, chuyện sinh phiền muộn; nhưng đáng nhớ vì chuyện trùng hợp mà sẽ khó phai trong tâm trí. Buổi sáng 8 giờ đi làm, con bé 13 tuổi chạy băng qua đường một cách đột ngột, đụng xe... Hai người bị trầy xước, chợt sơn. Con bé bị nặng hơn, được đưa đi viện khám kiểm tra, nhưng rồi ổn! Cùng lúc đó, nhận được tin Sư ông mới vừa mất. Thế là hình ảnh vị Sư già trong quá khứ hiện về. Có thể nói là ngày hôm nay mọi việc không tốt lành. Sự bình tĩnh chỉ phản phất khi trong tâm gợi lên sự vô thường, sự bất toại nguyện; hay cố tư duy là nghiệp bất thiện của mình trổ quả để an ủi trong lúc đó… (Tu pháp môn hên xui, nhưng xin xui vừa vừa thôi! :)

Vị Sư già thường sống đơn lẻ, bầu bạn với cỏ cây hoa lá. Cũng có lẽ Sư ông có cá tính nên cuộc sống tu hành mới “cô sơn độc trú” như vậy. Sư ông thuộc hàng trưởng lão cao hạ nhưng không vì thế mà mình cảm thấy khó gần hay khép nép như bao người khác. Ngược lại, những lúc nhớ cảnh chùa u tịch, những lúc đi làm phước thiện cúng dường hay hành thiền, mình hay mạnh dạng ghé thăm Sư ông, để được đảnh lễ Sư ông, nhưng trong lòng muốn được Sư ông pha trà uống và nghe kể chuyện xưa cũ. Mặc dù không thuộc hàng “tri kỷ” với Sư ông nhưng những lúc như vậy thì Sư ông hay kể chuyện cho nghe. Có lẽ mình bản tánh hay lắng tai nghe kể chuyện một cách chăm chú và hơn nữa lại có phúc phận là được nghe chuyện ngày xửa ngày xưa nhiều. Nếu gợi trúng mạch thì Sư ông kể suốt vài ba giờ đồng hồ mà không biết chán. Từ đó mà mình như được thấy hình bóng chân thật, đạo hạnh của các Ngài cao Tăng trưởng lão hồi xưa, được nghe các sự tích trong đạo ngoài đời với khoảng thời gian xảy ra vài chục năm trước khi mình có mặt trên cõi đời này! Rất ly kỳ, mới lạ và quan trọng là giúp cho tín tâm trong Pháp của mình thêm vững chắc.

Sư ông không phải là một Pháp sư hay thiền sư nổi tiếng cho số đông, sống thầm lặng, làm việc không kể giờ giấc, không có đệ tử thân tín hầu cạnh khi tuổi già ốm đau mặc dầu Sư ông nuôi bệnh đã vài chục năm nay L Có điều, những lời chân tình, mộc mạc của Sư ông đã và sẽ làm cho những kẻ cứng đầu như mình phải thích ứng và mềm dẻo. Một lần Sư ông cầm điếu thuốc lá đang hút dở, chăm chú và trầm mặc vào nó, nói rằng: Có vị cư sỹ Phật tử khuyên Sư bỏ thuốc lá để tốt cho sức khỏe, Sư nói tui đi tu bỏ nhà bỏ cửa, bỏ họ bỏ hàng, không đệ không tử rồi mà còn bảo tui bỏ luôn điếu thuốc nữa à, sao mà đòi hỏi ở người tu nhiều rứa! Hãy để cho tui một cái gì đó để làm bầu bạn nữa chơ! Sức khỏe của tui tui biết, bệnh của tui tui chịu, tui có biểu anh chịu giùm đâu!!!...(Thường thấy người thiện nam tín nữ không lo việc tu hành của mình, cứ lo soi mói việc tu hành của người xuất gia. Yêu cầu ông Sư phải thế này thế kia trong khi họ vô cùng dễ duôi! Trong kinh luật đức Phật khuyên chỉ các bậc đồng phạm hạnh mới có sự chê trách, xin bỏ qua những điều nhỏ nhặt lẫn nhau mà thôi!)

Chiều hôm nay, sau khi sắp xếp mọi việc, con tranh thủ lên đảnh lễ giác linh của Sư ông khi chưa tẩm liệm. Nhìn linh thể của Sư ông như đang trong giấc ngủ bình yên dù biết Sư ông đang rất bệnh nặng trước đó. Vẫn hình dáng và khuôn mặt tươi tỉnh ấy, con đã mãn nguyện để kính cẩn nghiêng mình vái lạy Sư ông lần cuối. Rồi những người thầy và các vị Sư khả kính của mình sẽ lần lượt ra đi, bất ngờ và thinh lặng…

Đời người cơn gió thoảng
Hơi thở tắt rồi đi!
Trăm năm thân thế mộng
Phủi tay cười, vô vi! (Tiễn ông bạn già ra đi, MĐ Triều Tâm Ảnh)

Khuya ngày 5/8/2013,
Thuận Pháp.

Saturday, July 27, 2013

DHAMMACAKKAPPAVATTANASUTTA - KINH CHUYỂN PHÁP LUÂN

Bài kinh do cậu Dhammaruwan lúc mới hai tuổi tụng đọc:
http://namtong.org/mp3/Dhammaruban/Dhammachakka.mp3

Mr. Chandrasiri Seneviratne (Dhammaruwan) was born in a small village near Kandy, Sri Lanka in November, 1968. From the age of about two, before he could read or write, he spontaneously started to chant the ancient Buddhist scriptures in the original pali language, known only a two few scholar monks.
Each day, somewhere around two o'clock in the morning, after sitting in meditation with his adopted and devoutly Buddhist foster father for about twenty to forty munits, he would spontaneously start to chant pali suttas. On the special Poya or lunar Observance day, he would sometimes chant for two hours.
Dhammaruwan's foster father starting making amateur recording of the chanting and invited prominent scholar monk to listen. The monk verified that it was indeed the ancient pali language and the boy was chanting it in an ancient style.
http://www.nirodhatrust.org/NT/Home.html
http://www.sobhana.net/audio/chants/dhammaruwan/

Evamme suttaṃ.
Tôi (tên là A-NAN-ĐA) được nghe lại như vầy:

Ekaṃ samayaṃ Bhagavā Bārāṇasiyaṃ viharati Isipatane migadāye.
Thuở đức Thế Tôn ngự tại rừng Hưu (Isipatanamigadāyavana) gần thành Bārāṇasī.

Tatra kho Bhagavā pañcavaggiye bhikkhū āmantesi.
Đức Thế Tôn một hôm gọi 5 Thầy Tỳ khưu, ngụ nơi ấy, dạy rằng:

Dveme bhikkhave antā pabbajitena na sevitabbā.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! 2 Pháp thái quá, là Pháp tu thấp thỏi. Những bậc xuất gia, chẳng nên xu hướng theo, chẳng nên hành theo.

Katame dve?
Hai Pháp thái quá ấy, thế nào?

Yo cāyaṃ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno, gammo.
Một là, Pháp làm cho thân tâm quyến-quyến theo tình dục, Pháp hèn hạ.

Pothujjaniko, anariyo.
Pháp của kẻ thế, Pháp của Phàm nhơn, chẳng phải của bậc cao nhơn.

Anatthasañhito.
Chẳng có lợi ích chi.

Yo cāyaṃ attakilamathānuyogo dukkho.
Hai là, Pháp làm cho khổ khắc thân tâm, nhân làm cho thân hình đau đớn.

Anariyo.
Chẳng phải là Pháp của bậc cao nhơn.

Anatthasañhito.
Chẳng có lợi ích chi.

Ete te [kho] bhikkhave ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự tu hành theo con đường giữa, không thiên theo 2 điều thái quá ấy, mà Như Lai đã được đại ngộ, là Pháp làm cho phát sanh, sự thấy biết phân minh, sự an tịnh có Trí tuệ, sự hiểu biết chơn chánh, sự dứt khổ.

Katamā ca sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự tu hành theo con đường giữa, mà Như Lai đã được đại ngộ, là sự tu hành cho phát sanh Tuệ Nhãn, sự hiểu biết phân minh đích xác, sự an tịnh có Trí tuệ, sự hiểu biết chơn chánh, sự dứt khổ ấy là thế nào?

Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo.
Là Bát Chánh đạo, Pháp như con đường có 8 nẻo cao thượng.

Seyyathidaṃ?
Bát Chánh đạo ấy thế nào?

Sammādiṭṭhi.
Thấy hiểu chơn chánh.

Sammāsaṅkappo.
Suy nghĩ chơn chánh

Sammāvācā
Nói lời chơn chánh.

Sammākammanto.
Nghề nghiệp chơn chánh.

Sammāājīvo
Nuôi mạng chơn chánh.

Sammāvāyāmo.
Tinh tấn chơn chánh.

Sammāsati
Tư tưởng chơn chánh

Sammāsamādhi.
Định tâm chơn chánh.

Ayaṃ kho sā bhikkhave majjhimā paṭipadā Tathāgatena abhisambuddhā cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bát chánh đạo, là con đường giữa, mà Như Lai đã đi và đã được đại ngộ, là sự tu hành theo, cho đặng phát sanh Tuệ Nhãn, sự hiểu biết phân minh thật tướng, tu cho đặng sự an tịnh, cho có Trí tuệ, cho đặng hiểu biết chơn chánh, cho đặng dứt khổ.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhaṃ ariyasaccaṃ jātipi dukkhā jarāpi dukkhā byādhipi dukkhā maraṇampi dukkhaṃ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsāpi dukkhā appiyehi sampayogo dukkho piyehi vippayogo dukkho yampicchaṃ na labhati.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sanh, là sự hội họp ngũ uẩn, là nhân đem đến sự khổ; Lão, là già cả yếu đuối, cũng là nhân đem đến sự khổ; Bịnh, là sự đau ốm cũng là nhân đem đến sự khổ; Tử, là sự tan rã ngũ uẩn, cũng là nhân đem đến sự khổ; Uất ức, bực tức trong lòng không bày tỏ ra được, cũng là nhân đem đến sự khổ; Không ưa mà họp, cũng là nhân đem đến sự khổ; Ưa mà phải lìa, cũng là nhân đem đến sự khổ.

Tampi dukkhaṃ saṅkhittena pañcupādānakkhandhā dukkhā.
Các sự thống khổ hầu hết có nhân sanh khổ ấy, gọi là Khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhasamudayo ariyasaccaṃ yāyaṃ taṇhā ponobbhavikā nandirāgasahagatā.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Sự thương muốn nào hằng tạo ra kiếp thoát sanh mới, do bởi tình dục là mối ham muốn trong lòng, thường thường ưa thích điều vui sướng theo các cảnh giới; Sự thương muốn ấy là thế nào?

Tatra tatrābhinandinī seyyathidaṃ kāmataṇhā bhavataṇhā vibhavataṇhā.
Sự thương muốn ấy là:
- Ca-má-tanh-ha (Kāmataṇhā) [1].- Phá-quá-tanh-ha (Bhavataṇhā) [2].- Quí-phá-quá-tanh-ha (Vibhavataṇhā) [3].
Cả 3 sự thương muốn ấy gọi là Tập khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodho ariyasaccaṃ yo tassāyeva taṇhāya asesavirāganirodho cāgo paṭinissaggo mutti anālayo.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Cách dứt khỏi sự thương muốn, chẳng còn dư sót, do nhờ Bát-Chánh-Đạo, cách tránh khỏi ái dục, cách dứt bỏ ái dục, cách thoát khỏi ái dục chẳng còn dư sót, do nhờ Bát-Chánh-Đạo ấy, gọi là Diệt khổ Diệu-đế.

Idaṃ kho pana bhikkhave dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo seyyathidaṃ sammādiṭṭhi sammāsaṅkappo sammāvācā sammākammanto sammāājivo sammāvāyāmo sammāsati sammāsamādhi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bát-Chánh-Đạo cao thượng ấy là thế nào? Là: Hiểu biết chơn chánh; Suy nghĩ chơn chánh; Nói lời chơn chánh; Nghề nghiệp chơn chánh; Nuôi mạng chơn chánh; Tinh tấn chơn chánh; Tư tưởng chơn chánh;Định tâm chơn chánh; Bát-Chánh-Đạo ấy gọi là: Diệt khổ Đạo Diệu-đế.

Idaṃ dukkhaṃ ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Khổ Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññeyyanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng Khổ Diệu-đế nầy, nên ghi nhớ bằng Trí tuệ như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhaṃ ariyasaccaṃ pariññātanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Khổ Diệu-đế nầy, Như Lai đã ghi nhớ được rồi như thế.

Idaṃ dukkhasamudayo ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Tập khổ Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy được hiểu rằng: Tập khổ Diệu-đế nầy, phải dứt trừ như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhasamudayo ariyasaccaṃ pahīnanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Tập khổ Diệu-đế nầy, Như Lai đã hành được phân minh như thế.

Idaṃ dukkhanirodho ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Đây là Diệt-khổ Diệu-đế như thế .

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikātabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Diệt-khổ Diệu-đế nầy phải hành cho phân minh như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodho ariyasaccaṃ sacchikatanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Diệt-khổ Diệu-đế nầy Như Lai đã hành được phân minh như thế.

Idaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Đây là Diệt-khổ Đạo Diệu-đế như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvetabbanti me bhikkhave pubbe ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được thấy, được hiểu rằng: Diệt-khổ Đạo Diệu-đế nầy phải hành cho tăng tiến như thế.

Taṃ kho panidaṃ dukkhanirodhagāminī paṭipadā ariyasaccaṃ bhāvitanti me bhikkhave pubbe
ananussutesu dhammesu cakkhuṃ udapādi ñāṇaṃ udapādi paññā udapādi vijjā udapādi āloko udapādi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Tuệ thấy rõ đã phát sanh, tuệ biết rõ đã phát sanh, tuệ biết không sai lầm đã phát sanh, tuệ đoạn tuyệt hoài nghi đã phát sanh, tuệ diệt vô minh đã phát sanh đến Như Lai rồi. Trong các Pháp mà lúc đầu Như Lai chưa từng được nghe, được hiểu rằng: Diệt-khổ Đạo Diệu-đế nầy, Như Lai đã hành được tăng tiến rồi như thế.

Yāvakīvañca me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ na suvisuddhaṃ ahosi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Bao giờ Tuệ biết rõ, thấy rõ theo lẽ chánh: Có 3 Luân [4], 12 Thể [5] vận chuyển trong Tứ Diệu-Đế ấy chưa phát sanh trong sạch đến Như Lai.

Neva tāvāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇa brāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Trong khi Như Lai chưa có sự hiểu biết cao siêu hơn trong các thế giới luôn cả cõi Trời, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên, trong vòng nhứt thiết chúng sanh, luôn cả bậc Sa-Môn và Bà-La-Môn, cùng chư nhơn và ngoài hạng người ra nữa, thì Như Lai cũng chưa gọi mình là bậc chứng quả Chánh-Biến-Tri vậy.

Yato ca kho me bhikkhave imesu catūsu ariyasaccesu evantiparivaṭṭaṃ dvādasākāraṃ yathābhūtaṃ ñāṇadassanaṃ suvisuddhaṃ ahosi.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Khi nào Tuệ biết rõ, thấy rõ theo lẽ Chánh, có 3 luân và 12 thể, theo trong Tứ Diệu-Đế ấy đã phát sanh trong sạch đến Như Lai.

Athāhaṃ bhikkhave sadevake loke samārake sabrahmake sassamaṇa brāhmaṇiyā pajāya sadevamanussāya anuttaraṃ sammāsambodhiṃ abhisambuddho paccaññāsiṃ.
Nầy các Thầy Tỳ khưu! Thì Như Lai được gọi là bậc Vô thượng Chánh-Biến-Tri, vì trong các thế giới, những cõi Trời, cõi Ma Vương, cõi Phạm Thiên trong vòng nhứt thiết chúng sanh, luôn cả bậc Sa-Môn, và Bà-La-Môn, cùng chư nhơn và ngoài hạng người ra nữa, chẳng có sự hiểu biết nào, cao siêu hơn sự hiểu biết của Như Lai.

Ñāṇañca pana me dassanaṃ udapādi akuppā me vimutti ayamantimā jāti natthidāni punabbhavoti.
Tuệ biết rõ, thấy rõ đã phát sanh cho nên Như Lai biết rằng sự giải thoát phiền não của Như Lai chẳng còn lay động, biến đổi nữa, kiếp nầy là kiếp chót, từ đây Như Lai chẳng còn thọ sanh kiếp khác nữa.

Idamavoca Bhagavā attamanā pañca vaggiyā bhikkhū Bhagavato bhāsitaṃ abhinandunti.
Đức Thế Tôn giảng giải kinh “Chuyển Pháp-Luân” rồi, 5 Thầy Tỳ khưu phát lòng hoan hỷ vô hạn.

Imasmiñca pana veyyākaraṇasmim bhaññamāne āyasmato Koṇḍaññassa virajaṃ vītamalaṃ dhammacakkhuṃ udapādi yaṃkiñci samudayadhammaṃ sabbantaṃ nirodhadhammanti.
Trong khi đức Như Lai giảng giải kinh vô kệ này, thì Pháp Nhãn là đạo Tu-Đà-Hườn, đạo diệt trừ bụi nhơ là tình dục, phát sanh đến Kiều-Trần-Như, Ngài đã biết rõ: Cái chi có tánh cách sanh tự nhiên, đều có tánh cách diệt tự nhiên.

Pavattite ca Bhagavatā dhammacakke bhummā devā saddamanussāvesuṃ etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaneṇa vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Khi đức Như Lai giảng giải kinh “Pháp-Luân” vừa dứt, tất cả Chư Thiên ngự trên địa cầu bèn ca tụng rằng: Bánh xe Pháp này là bánh xe vô thượng, những Sa-Môn, Bà-La-Môn, Chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên hoặc một bậc nào trong thế giới, đều không diễn giải được. Chỉ có đức Như Lai Ngài giảng giải rồi, trong rừng Isipatanamigadāya, gần thành Bārāṇasī.

Bhummānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Cātummahārājikā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Tứ Đại Thiên-Vương được nghe tiếng ca tụng của Chư Thiên ngự trên địa cầu, rồi bèn đồng nhau ca tụng theo lời ngợi khen ấy.

Cātummahārājikānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Tāvatiṃsā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Đạo-Lợi được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Tứ Đại Thiên-Vương, rồi liền ca tụng y như thế ấy.

Tāvatiṃsānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Yāmā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Dạ-Ma được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Đạo-Lợi, cũng đều ca tụng lời ngợi khen ấy.

Yāmānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Tusitā devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Đâu-Xuất-Đà được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Dạ-Ma, rồi cũng rập nhau ca tụng theo nữa.

Tusitānaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Nimmānaratī devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Hóa Lạc Thiên, được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Đâu-Xuất-Đà rồi, đồng thinh ca tụng tiếp theo.

Nimmānaratīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Paranimmitavasavattī devā saddamanussāvesuṃ.
Chư Thiên trong cõi Trời Tha Hóa Tự Tại được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi Trời Hóa Lạc Thiên, rồi cũng đồng nhau ca tụng lời ngợi khen ấy.

Paranimmitavasavattīnaṃ devānaṃ saddaṃ sutvā Brahmakāyikā devā saddamanussāvesuṃ etaṃ Bhagavatā Bārāṇasiyaṃ Isipatane migadāye anuttaraṃ dhammacakkaṃ pavattitaṃ appaṭivattiyaṃ samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasminti.
Chư Thiên trong hàng Phạm Thiên, được nghe tiếng của Chư Thiên trong cõi trời Tha Hóa Tự Tại, rồi cũng lập lại mà ca tụng như vầy: Chẳng có Pháp-Luân nào cao siêu hơn Pháp-Luân nầy. Chư Sa-Môn, Bà-La-Môn, Chư Thiên, Ma Vương, Phạm Thiên, hoặc một người nào trong các thế giới cũng chẳng diễn giải được, chỉ có đức Thế Tôn Ngài đã giảng giải rồi, trong rừng Isipatanamigadāyavana, gần thành Bārāṇasī.

Itiha tena khaṇena tena muhuttena yāva Brahmalokā saddo abbhuggacchi ayañca dasasahassī lokadhātu saṅkampi sampakampi sampavedhi.
Tiếng ca tụng liên tiếp vang dội đến cõi Phạm Thiên chỉ trong nháy mắt. Do sự truyền báo ca tụng mà cả 10.000 thế giới thảy đều rung động, luôn cả trên dưới và các phương.

Appamāṇo ca uḷāro obhāso loke pāturahosi atikkamma devānaṃ devānubhāvanti.
Có cả hào quang rực rỡ vô cùng vô tận, cao siêu hơn hào quang của tất cả Chư Thiên, chiếu diệu trong thế giới.

Atha kho Bhagavā udānaṃ udānesi aññāsi vata bho Koṇḍañño aññāsi vata bho Koṇḍaññoti.
Liền đó đức Thế Tôn là đấng Giáo chủ bèn lên tiếng rằng: Kiều-Trần-Như đã được đại ngộ; A-Nhã-Kiều-Trần-Như đã được đại ngộ.

Itihidaṃ āyasmato Koṇḍaññassa Aññākoṇḍañño tveva nāmaṃ ahosīti.
Từ đây A-Nhã-Kiều-Trần-Như được gọi là đức Kiều-Trần-Như.

** Thuận Pháp st **