KIẾN THỨC VỀ NHỮNG GIỚI LUẬT SỬ DỤNG TIỀN BẠC
Bài viết này được biên soạn bởi có nhiều Tỳ khưu hỏi tôi về những giới luật sử dụng tiền bạc được tìm thấy trong Vinaya (Tạng Luật). Bởi một tân Tỳ khưu ít có cơ hội được đọc những luận giảng mà tôi đã phiên dịch nhiều đề mục từ trong đó. Tôi hy vọng là trong bài viết này có đầy đủ kiến thức để giúp các Tỳ khưu hiểu rõ cách tuân thủ những giới luật này.
PHẦN 1. KIẾN THỨC DÀNH CHO NHỮNG CƯ SĨ NGOẠI HỘ
Quý vị có biết rằng Đức Phật không cho phép các tu sĩ và sa di nhận tiền bạc?
Chắc chắn là quý vị đã để ý thấy đại đa số các tu sĩ nhận và sử dụng tiền bạc. Đây là một trong những yếu tố sẽ dẫn tới việc Giáo Pháp của Đức Phật biến mất. Quý vị có thể góp phần để duy trì Phật Phápđược tồn tại bằng cách học tập cách cúng dường những vật dụng cần thiết được cho phép.
Trong mục này chúng ta sẽ liệt kê những điểm chính mà một cư sĩ nên ghi nhớ để một tu sĩ (Tỳ khưu) có thể có được những vật dụng cần thiết mà không vi phạm những giới luật của Vinaya.
1. Không bao giờ cúng dường tiền cho các Tỳ khưu, nhưng chỉ cúng dường những vật dụng cần thiếtđược cho phép chẳng hạn như các bộ y, thuốc men, sách, hay vé để đi lại. Nếu quý vị không chắc chắnvề những gì một Tỳ khưu cần có thì quý vị có thể hỏi họ, hoặc mời họ yêu cầu quý vị nếu họ cần thứ gì đó.
2. Một ngân quỹ dành để mua những vật dụng cần thiết có thể được để lại cho một kappiya (người phục vụ cho một Tỳ khưu) và ông ta nên được chỉ dẫn để mua và cúng dường những vật dụng cần thiết cho một Tỳ khưu, một nhóm Tỳ khưu, hay Tăng đoàn của một tu viện. Đừng hỏi Tỳ khưu: ‘Nên trao số tiền này cho ai?’ Nếu quý vị hỏi theo cách này thì một Tỳ khưu không được phép chỉ rõ một kappiya. Chỉ nên nói: ‘Thưa Sư, con muốn cúng dường những vật dụng cần thiết cho Sư. Ai là kappiya của Sư?’
3. Khi đã cho kappiya biết, quý vị thông báo cho Tỳ khưu bằng cách nói: ‘Con đã để lại một món tiền trị giá ‘x’ đô la cho kappiya của Sư. Khi Sư cần những vật dụng cần thiết Sư cứ hỏi họ và họ sẽ dâng cho Sư những vật dụng đó.’
4. Nếu quý vị đã biết ai là kappiya của Tỳ khưu thì khi đó quý vị chỉ cần để lại món tiền cho kappiya và thông báo cho Tỳ khưu như mục 3 ở trên.
Xin đọc kỹ những điều trên và lưu ý tới những gì được nói trong đó. Thủ tục ở trên được Đức Phật cho phép trong phần được gọi là ‘thừa nhận mendaka’. Nó được tìm thấy trong Bhesajja Khandhaka của Mahavagga (Đại Phẩm) trong Vinaya Pitaka (Tạng Luật) và đây là bản dịch của nó:
Các Tỳ khưu, có những người có niềm tin và lòng tôn kính và nếu họ giao phó tiền cho một kappiya và chỉ dẫn cho người này: ’Với số tiền này xin cúng dường những vật dụng cần thiết được cho phép cho vị Sư này,’ thì các Tỳ khưu, ta cho phép các ông nhận mọi vật dụng cần thiết được phép nhận và được mua bằng số tiền này, nhưng các Tỳ khưu, ta chẳng thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.
Cũng có một giới luật được gọi là Raja sikkhapada, giới luật thứ mười của Kathina Vagga (phẩm Dâng Y) trong mục Nissaggiya Pacittiya (Ni tát kỳ ba la dật đề pháp) của Patimokkha (Giới bổn Tỳ khưu) mang lại kiến thức thích đáng. Nó được dịch như sau:
Nếu một vị vua, một người bà la môn viên chức của nhà vua, hay một cư sĩ gởi người đưa tin (sứ giả) cùng một món tiền để mua một bộ y cho một Tỳ khưu và nói: ‘Sau khi mua một bộ y bằng số tiền này, hãy cúng dường nó cho một Tỳ khưu nào đó,’ và nếu sứ giả ấy tới tiếp xúc với vị Tỳ khưu và nói: ‘Thưa Sư, tiền để mua một bộ y đã được mang tới đây cho Sư. Xin hãy nhận tiền này để mua một bộ y.’ Khi ấy vị Tỳ khưu đó nói với sứ giả: ‘Chúng tôi không nhận tiền để mua một bộ y, chúng tôi nhận y nếu chúng được dâng cúng vào một thời điểm thích hợp và nếu chúng được cho phép.’
Khi ấy nếu sứ giả nói: ‘Thưa Sư, ai là người phục vụ cho Sư?’ Lúc đó nếu Tỳ khưu muốn có một bộ y thì ông chỉ rõ người phục vụ, người này là một thị giả của tu viện hay là một cư sĩ. Tỳ khưu nói: ‘Người đó phục vụ cho các Tỳ khưu.’
Nếu sau khi sứ giả đã chỉ dẫn cho người phục vụ, sứ giả tiếp xúc với Tỳ khưu và nói: ‘Con đã chỉ dẫncho người Sư chỉ định. Xin Sư tiếp xúc với người ấy vào một lúc thích hợp, ông ta sẽ dâng cho Sư một bộ y.’ Như vậy một Tỳ khưu muốn có một bộ y sau khi tiếp xúc với người phục vụ đó, có thể hỏi hay nhắc ông ta hai hay ba lần: ‘Tôi cần một bộ y.’ Nếu sau khi hỏi hay nhắc hai hay ba lần, Tỳ kheo nhận được bộ y thì điều đó thật tốt. Nếu Tỳ kheo không nhận được y thì ông có thể đứng yên lặng trong bốn, năm, hay sáu lần để nhận được bộ y đó. Nếu sau khi đứng yên lặng trong bốn, năm hay sáu lần ông nhận được bộ y thì điều đó thật tốt. Nếu ông phải nỗ lực hơn thế và nhận được bộ y thì đó là một vi phạm nissaggiya pacittiya.
Nếu Tỳ kheo không nhận được bộ y đó thì đích thân ông đi gặp hay gởi một sứ giả tới gặp người đã gởi tiền để mua y và nói: ‘Số tiền để mua một bộ y cho Tỳ khưu mà ông gởi đã không mang lại điều gì cho vị Tỳ khưu đó, hãy cố gắng thu hồi số tiền của ông để nó không bị thất lạc.’ Đây là điều nên làm.
PHẦN 2. SAI LẦM TRONG VIỆC NHẬN TIỀN
Trước khi nhập diệt, Đức Phật đã nói rằng nói sau khi Ngài nhập diệt, Tăng đoàn có thể - nếu họ muốn – hủy bỏ những giới luật thấp hay thứ yếu của Tạng Luật. Một vài Tỳ khưu đã trích dẫn điều này như một lý do để hỗ trợ cho việc họ nhận tiền, nhưng những trích dẫn tiếp theo từ các bộ Kinh cho thấy những giới luật ngăn cấm việc sử dụng tiền không phải là những giới luật thấp hay thứ yếu. Những giới luật sử dụng tiền bạc được những trích dẫn này đưa ra là nền tảng và cốt tủy cho sự thành tựu giác ngộ. Kinh Maniculaka: (Samyutta Nikaya, Salayatana Samyutta, Gamani Samyutta, Kinh số 10,):
Khi ấy Đức Thế Tôn đang cư trú ở Rajagaha (thành Vương Xá) tại một nơi gọi là Veluvana (Trúc Lâm Tịnh Xá), ở đó những con sóc và chim muông được nuôi dưỡng. Vào lúc đó, quần thần tụ họp trong cung điện của nhà vua và trong khi họ tụ họp cuộc đàm luận này đã phát sinh:
‘Đối với những tu sĩ là các trưởng tử của Thái tử dòng họ Thích Ca (Đức Phật) thì vàng, bạc và tiền được cho phép. Những tu sĩ là trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca ưng thuận vàng, bạc, và tiền. Những tu sĩ là trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca nhận vàng, bạc và tiền.’
Vào lúc đó vị trưởng làng là Maniculaka đang có mặt trong cuộc họp và ông nói với mọi người:
‘Thưa quý vị, đừng nói như thế. Vàng, bạc, và tiền không được cho phép đối với những tu sĩ là các trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca. Những tu sĩ trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca không ưng thuận vàng, bạc, hay tiền. Những tu sĩ trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca không nhận vàng, bạc, và tiền. Những tu sĩ trưởng tử của Thái tử dòng Thích Ca đã từ bỏ vàng, ngọc và không có tiền của.’
Nhưng trưởng làng Maniculaka không thể thuyết phục những người ấy.
Sau đó trưởng làng Maniculaka tới gặp Đức Thế Tôn, và sau khi tới gần Đức Thế tôn ông lễ lạy và ngồi sang một bên. Trong khi ngồi ở một bên trưởng làng Maniculaka nói với Đức Thế Tôn:
‘Thưa Thế Tôn, trong hoàng cung quần thần của nhà vua đang tụ họp… (Ông lập lại tất cả những điều đã được nói ở trên.)… Nhưng Thế Tôn, con không thể thuyết phục tập hội đó.
‘Thưa Thế tôn, do giải thích như thế con là người diễn đạt những điều Đức Thế Tôn nói hay con đã xuyên tạc Đức Thế Tôn? Con đã trả lời phù hợp với Giáo Pháp hay người diễn đạt phù hợp với Giáo Pháp này sẽ tìm ra lý do để chê trách con?’
(Đức Thế Tôn): ‘Thật vậy, trưởng làng, bằng cách giải thích như thế ông diễn đạt những gì ta nói và không xuyên tạc ta. Ông đã trả lời phù hợp với Giáo Pháp này và người diễn đạt phù hợp với Giáo Phápnày sẽ không tìm ra lý do để chê trách ông.
‘Trưởng làng, bởi vàng, bạc, và tiền không được cho phép đối với những tu sĩ là trưởng tử của thái tửdòng Thích Ca. Những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca không ưng thuận vàng, bạc, hay tiền. Những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca không nhận vàng, bạc, hay tiền. Những tu sĩ là trưởng tử của thái tử dòng Thích Ca đã từ bỏ vàng ngọc và không có tiền của.
‘Trưởng làng, đối với bất kỳ ai mà vàng, bạc, hay tiền được cho phép thì đối với họ năm loại lạc thú giác quan được cho phép. Đối với bất kỳ ai mà năm loại lạc thú giác quan được cho phép thì ông có thể chắc chắn: “Ông ta không có tính chất của một tu sĩ, ông ta không có tính chất của một trưởng tử của thái tửdòng Thích Ca.”
‘Trưởng làng, thật vậy ta nói điều này: “Bởi một tu sĩ cần cỏ, cỏ có thể được tìm kiếm. Bởi một tu sĩ cần gỗ, gỗ có thể được tìm kiếm. Bởi một tu sĩ cần một chiếc xe ngựa, xe ngựa có thể được tìm kiếm.” Nhưng, trưởng làng, ta cũng nói: “Chẳng thể nào được nhận hay tìm kiếm vàng, bạc, hay tiền của.”’
Trích dẫn kế tiếp được lấy từ phần cuối của Kinh Upakkilesa – Kinh Tùy phiền não (Anguttara Nikaya – Tăng Nhứt A Hàm, Tăng Chi Bộ Kinh - một bộ bốn cuốn, Rohitassa Vagga, Kinh số 10.) cho thấy việc nhận tiền dẫn tới việc liên tục tái sinh.
‘Bị ô nhiễm bởi tham, sân, và mù quáng vì vô minh, một vài tu sĩ và bà la môn ham thích những lạc thúgiác quan.
Những tu sĩ và bà la môn ngu xuẩn này uống rượu, dấn mình vào tình dục, nhận vàng, bạc và tiền, và có được những vật dụng cần thiết của họ bằng cách kiếm tiền tà vạy.
Đức Phật, đấng chói lọi như mặt trời, gọi tất cả những điều đó là những suy đồi.
Những tu sĩ và bà la môn bị mua chuộc bởi những suy đồi này thì bất tịnh, ô nhiễm, và không chói lọi hay sáng ngời.
Nhưng thay vì bối rối, mù quáng, làm nô lệ cho dục vọng, và tràn trề tham muốn, họ làm cho các nghĩa địa lớn rộng thêm bằng cách liên tục tái sinh.’
Trong những bộ Kinh này Đức Phật xem việc nhận tiền bạc cũng giống như sự đam mê các lạc thú giác quan. Trong Kinh Dhammacakkappavattana (Kinh Chuyển Pháp Luân) Đức Phật giảng dạy thật rõ ràng:
‘Các Tỳ khưu, người đã lên đường không nên thực hành hai cực đoan này. Hai cực đoan là gì? Đó là đam mê lạc thú giác quan, là cách sống thấp hèn, cách sống của những người dân làng, cách sống của những người tầm thường, cách sống của những người không giác ngộ và không mang lại lợi lạc; và tự hành xác đầy đau khổ, cách sống của những người không giác ngộ, và không mang lại lợi lạc.’
Kinh có dạy rằng ngay cả một cư sĩ là một anagami (A na hàm, người không trở lại, Bất Lai) cũng giữ mười giới luật một cách tự nhiên và không nhận hay sử dụng tiền bạc. Ví dụ như A na hàm Ghatikara không có ngọc quý, vàng, bạc, hay tiền của, kiếm sống bằng cách lấy đất bị xói mòn ở bờ sông và làm thành những cái bình. Ông đặt những cái bình này ở ven đường và những ai thích có thể để lại một số gạo hay thực phẩm thích hợp và lấy những cái bình. Bằng cách này Ghatikara nuôi sống bản thân và cha mẹ bị mù lòa của ông. (Xem Kinh Ghatikara trong Majjhima Nikaya – Kinh Trung A Hàm, Trung Bộ Kinh.)
Điều này cho thấy làm thế nào tiền bạc là một chướng ngại cho sự giác ngộ và một người thực sự giác ngộ không sử dụng tiền bạc ra sao. Những trích dẫn ở trên hoàn toàn minh chứng rằng việc các tu sĩnhận tiền không phải là một lỗi lầm nhỏ bé, và hành động đó có thể khiến cho một tu sĩ không thể đạtđược Niết bàn.
PHẦN 3. NHỮNG GIỚI LUẬT LIÊN QUAN TỚI TIỀN BẠC
Ý nghĩa của ‘tiền bạc’ trong tất cả những giới luật này là: Bất kỳ những gì được sử dụng như tiền tệ để mua và bán. Tiền bạc bao gồm những đồng xu, giấy bạc, séc, vàng, và bạc.
Vì sao một một tấm séc không được phép nhận? Một tấm séc không được phép nhận là bởi đôi khi nó có thể được đổi thành tiền và cũng bởi một tấm séc là một mệnh lệnh cho một ngân hàng để chi trả tiền cho người cầm tấm séc. Người ta thường nói những câu như: ‘Tỳ khưu Dhamminda, xin trả số tiền một trăm đô la cho người cầm séc.’ Do đó một tấm séc được viết ra cho một tu sĩ là một mệnh lệnh để chi trả tiền cho tu sĩ đó và nếu ông ta nhận séc thì điều đó có nghĩa là ông ta đang nhận số tiền đó tại ngân hàng. Cách nhận tiền thứ ba cũng tương tự như thế (xem ở dưới); ‘Ở một nơi nào đó, tiền đó là của tôi, tiền đó là để dành cho Sư.’ Vì thế một tấm séc là một cách thức biếu tặng tiền cho một tu sĩ và phải được từ chối.
Một tu sĩ viết một tấm séc vi phạm việc có sẵn tiền. Nếu trước hết ông ta nhận ngân quỹ thì đó là một vi phạm nissaggiya pacittiya hay nếu ngân quỹ được để lại cho một kappiya theo một cách thức đúng đắnthì đó là một vi phạm dukkata (tác ác) về việc sắp xếp sai lầm.
Một sa di được yêu cầu giữ mười giới luật trong đó điều thứ mười là tự chế không nhận vàng, bạc, hay tiền. Trong việc thực hành thì điều này có nghĩa là một samanera (sa di) giữ tất cả những giới luật có liên quan tới tiền bạc tương tự như cách thức một tu sĩ giữ giới.
Đối với các tu sĩ (Tỳ khưu) thì có bốn giới luật chính liên quan tới tiền bạc được tìm thấy trong vinaya (Tạng Luật):
1. Rupiya sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 18)
2. Mendaka sikkhapada (Vinaya Mahavagga, Bhesajja Khandhaka)
3. Raja sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 10)
4. Rupiya samvohara sikkhapada (Nissaggiya Pacittiya số 19.)
Các bản dịch số 2 và 3 đã được đưa ra ở trên và những bản dịch số 1 và 4 như sau:
1. Rupiya Sikkhapada
Bất kỳ Tỳ khưu nào tự mình nhận tiền hay là nguyên nhân khiến người khác nhận tiền cho mình, hay ưng thuận để tiền được đặt ở gần mình hay được giữ cho mình, Tỳ khưu đó đã vi phạm nissaggiya pacittiya.
4. Rupiya samvohara sikkhapada
Bất kỳ Tỳ khưu nào tham gia vào việc trao đổi bất kỳ thứ gì trong những hình thức khác nhau của vàng, bạc, hay tiền, Tỳ khưu đó đã vi phạm nissaggiya pacittiya.
Cần phải thấu suốt Rupiya sikkhapada bởi nếu giới luật này được giữ gìn một cách đúng đắn thì một tu sĩ sẽ không hiểu sai những giới luật khác liên quan tới tiền bạc. Một tu sĩ bị cấm làm ba điều:
1. Tự mình nhận tiền bạc.
2. Tạo nguyên nhân khiến người khác nhận tiền cho mình.
3. Ưng thuận để tiền được đặt ở gần mình hay được giữ cho mình.
Bản văn pali nguyên thủy định nghĩa ba điều này là:
1. sayam ganhati –Tỳ kheo đích thân nhận tiền.
2. annam gahapeti – ông ta làm cho người khác nhận tiền cho ông.
3. idam ayassa hotu ti upanikkhittam sadiyati – Họ nói: ‘Thưa Sư, món tiền này là dành cho Sư,’ và ông ta ưng thuận để họ đặt số tiền gần mình.
Luận giảng Kankhavitarani giảng nghĩa ba cách nhận tiền ở trên theo cách này:
1. Tỳ kheo tự mình nhận tiền khi tiền được cúng dường cho ông ta, hay đích thân ông giữ tiền khi ông tìm thấy nó ở một nơi nào đó và nó không thuộc về ai.
2. Trong những trường hợp tương tự này (khi tiền được cúng dường cho ông ta hay ông tìm thấy nó) ông ta khiến cho người khác nhận tiền (cho ông ta.)
3. Nếu cùng với số tiền trước sự hiện diện của vị Tỳ kheo, họ nói: ‘Tiền này là để dành cho Sư,’ hay khi tiền được giữ ở một nơi nào khác, họ nói: ‘Ở một nơi nào đó, tiền đó là của tôi, tiền đó là để dành cho Sư.’ Khi đó nếu họ truyền đạt về số tiền cúng dường đó chỉ bằng lời nói hay ra dấu bằng tay và tu sĩ đó không từ chối điều đó bằng cách ra dấu bằng tay hay bằng lời nói và âm thầm nhận nó thì điều đó được gọi là ‘ưng thuận.’
Nếu vị tu sĩ âm thầm ưng thuận và muốn nhận, nhưng bằng cách ra dấu hay bằng lời nói ông từ chối bằng cách nói: ‘Điều này không được cho phép,’ hay nếu ông ta không từ chối số tiền bằng cách ra dấu hay bằng lời nói nhưng với một tâm thức thuần tịnh ông không ưng thuận và nói: ‘Chúng tôi không được phép làm điều này,’ thì điều đó được cho phép (không được gọi là ưng thuận).
Với giới luật này Đức Phật đã cấm mọi cách thức nhận tiền có thể xảy ra. Nếu có ai cố gắng cúng dường tiền cho một tu sĩ theo cách nào đó trong ba cách này thì tu sĩ ấy không thể nói: ‘Người nào đó là kappiya của tôi. Hãy đưa tiền này cho kappiya của tôi. Hãy nhận tiền này cho tôi. Hãy để số tiền này ở đó.’ Tất cả những gì vị tu sĩ có thể làm là từ chối không nhận số tiền đó bằng cách nói: ‘Điều này không được cho phép.’ Từ chối là hành động duy nhất tu sĩ cần nhớ để hành động.
Luận giảng Samantapasadika (Thiện Kiến Luật chú) giải thích rằng không chỉ không được phép nhận tiền cho bản thân bằng một trong ba cách, tu sĩ cũng không được nhận tiền cho Tăng đoàn, cho một nhóm người, cho người khác, cho một ngôi chùa, một tu viện, hay cho bất kỳ điều gì khác. Nếu một tu sĩnhận tiền cho bản thân bằng một trong ba cách này thì đó là vi phạm nissaggiya pacittiya. Nếu ông nhận cho người khác như đã được đề cập thì đó là vi phạm dukkata (tác ác).
Có một quyển sách mới được biên soạn về Luật trong đó trình bày một quan điểm sai lầm. Quyển sách viết:
Ta được phép ‘tạo ra tiền được ký thác’ cho một tu viện, cho một ngân quỹ để mua sắm những vật dụngcần thiết, cho một lời kêu gọi cứu trợ (ví dụ ngân quỹ cho viện mồ côi), nhưng không dành cho cá nhântu sĩ. Ví dụ như một người hiến tặng cúng dường tiền cho ngôi chùa có thể được hướng dẫn: ‘Xin cho vào thùng cúng dường’, hay: ‘Xin gởi tiền vào số tài khoản này’, mặc dù một tu sĩ có thể không đích thân nhận số tiền như thế. Tăng đoàn, hay các viên chức được chỉ định có thể hướng dẫn việc sử dụng một ngân quỹ như thế, thậm chí nói: ‘Hãy mua cái này,’ hay ‘Hãy mua cái kia.’
Ở trên ta đã được giảng dạy rằng không được phép tạo nguyên nhân để được nhận hay được ký thác tiền bạc cho một ngôi chùa hay cho bất kỳ điều gì khác. Vì thế quan điểm này không phù hợp với Tạng Luật.
Luận giảng minh họa những nguyên lý được bao hàm trong những giới luật này bằng một câu chuyệnhư cấu. Nó đối phó với một tình huống trong đó người hiến tặng không biết việc tu sĩ từ chối và chỉ đơn giản để lại tiền trước mặt tu sĩ và ra đi. Luận giảng chỉ rõ:
1. Nếu một tu sĩ nói: ‘Hãy giữ nó ở đây,’ thì đó là vi phạm nissaggiya đối với việc nhận tiền.
2. Nếu tu sĩ muốn có mua món đồ gì đó và nói: ‘Hãy lấy cái này,’ thì đó là việc sắp xếp theo một cách thế không được cho phép. (Nếu ngân quỹ được cho phép).
3. Giới luật này giống như đi trên một sợi giây làm xiếc bằng một cái lưỡi nhỏ xíu, tất nhiên là sẽ đi tới chỗ vi phạm giới luật.
Câu chuyện viết:
Giả sử có một người đặt một trăm hay một ngàn đồng xu dưới chân một Tỳ khưu và nói: ‘Tiền này dành cho Sư,’ vị Tỳ khưu từ chối và nói: ‘Điều này không được cho phép,’ nhưng cư sĩ đáp: ‘Con đã biếu nó cho Sư,’ rồi ra đi. Sau đó nếu có cư sĩ khác đến và hỏi: ‘Thưa Sư, tiền gì đây?’ Khi đó cư sĩ này có thể được nghe thuật lại những gì cư sĩ thứ nhất và vị tu sĩ đã nói. Nếu cư sĩ đó nói: ‘Thưa Sư, hãy để con cất giữ nó cho an toàn, xin chỉ cho con một nơi an toàn.’ Sau khi leo lên một ngôi nhà bảy tầng vị tu sĩcó thể giải thích: ‘Nơi này an toàn,’ nhưng ông ta không nên nói: ‘Hãy giữ nó ở đây.’ Bằng cách nói như thế này việc nhận tiền sẽ trở thành được cho phép hay không được cho phép.
(Luận giảng phụ Vimativinodana nói: Nếu tu sĩ nói: ‘Hãy giữ nó ở đây,’ đó là hành động nhận tiền và là vi phạm nissaggiya pacittiya.) Sau đó ông ta có thể đóng cửa lại và bảo vệ nó. Nếu sau này một người bán hàng tới cùng với hàng hóa chẳng hạn như một cái chén hay những bộ y và nói: ‘Sư hãy lấy cái này,’ khi đó Tỳ khưu có thể nói: ‘Cư sĩ, tôi cần cái này và có phương tiện để sở hữu nó nhưng hiện giờ không có kappiya ở đây.’ Và nếu người bán hàng nói: ‘Tôi sẽ là kappiya của Sư, xin mở cửa và đưa tiền cho tôi.’ Sau khi mở cửa Tỳ khưu nên nói: ‘Tiền được để trong phòng này.’ Ông ta không nên nói: ‘Hãy cầm số tiền này.’ Như thế tùy thuộc vào những gì được nói ra việc nhận tiền trở thành được cho phép hay không được cho phép. Khi ấy nếu người bán hàng đó nhận những đồng tiền và đưa các vật dụng cần thiết được phép nhận cho Tỳ khưu thì điều đó được cho phép. Nếu ông ta lấy quá nhiều đồng xu thì Tỳ khưu đó nên nói: ‘Tôi sẽ không lấy hàng của ông, hãy đi đi!’
2. Mendaka sikkhapada
Một bản dịch của bản văn này đã được đưa ra ở trên. Không có thông tin riêng biệt về việc thừa nhậnnày trong các luận giảng. Mọi điều cần nói về nó được giải thích trong luận giảng cho Raja sikkhapada. Giòng cuối cùng đáng ghi nhớ của thừa nhận này là một tóm tắt của tất cả những quy tắc liên quan tới tiền bạc: ‘Các Tỳ khưu, ta chẳng thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.’
3. Raja sikkhapada
Một bản dịch của bản văn này đã được đưa ra ở trên. Luận giảng cho giới luật này đưa ra rất nhiều thông tin giúp cho một tu sĩ biết cách nói và làm trong những tình huống khác nhau. Dưới đây là một vài bản dịch của những trích dẫn được chọn lọc từ những luận giảng cùng với một vài giải thích xa rộng hơn của tác giả.
Những chọn lọc từ Luận giảng Kankhavitarani
1. ‘Khi đã mua một bộ y bằng số tiền này, xin hãy cúng dường nó cho một Tỳ khưu nào đó,’ được nói (trong giới luật) để cho thấy tiền được gởi với ý hướng thanh tịnh. Nếu người hiến tặng gởi sứ giả và nói: ‘Xin cúng số tiền này cho một Tỳ khưu nào đó,’ khi ấy số tiền đó được gởi một cách bất tịnh bởi có liên quan tới tiền không được phép nhận. Trong trường hợp đó một Tỳ khưu đừng bao giờ nên chỉ rõ một người là kappiya.
Nếu người hiến tặng đích thân đến và nói: ‘Con cúng dường số tiền này cho Sư,’ thì một Tỳ khưu không thể chỉ rõ một kappiya. Nếu một Tỳ khưu nói: ‘Người nào đó là kappiya của tôi,’ vào thời điểm này sẽ khiến cho tiền được nhận cho Tỳ khưu và là một vi phạm nissaggiya pacittiya. Tất cả những gì một Tỳ khưu có thể làm trong trường hợp này là từ chối nhận món tiền.
2. ‘Chúng tôi không nhận tiền để mua một bộ y, chúng tôi nhận y nếu chúng được cúng dường vào một thời điểm thích hợp và nếu chúng được cho phép,’ được nói ra để cho thấy tiền phải được từ chối, mặc dù ngân quỹ để mua một bộ y được gởi một cách thanh tịnh, lời nói của sứ giả không được cho phép. (‘Xin nhận số tiền này để mua một bộ y.’)
Một ngân quỹ gồm vàng, bạc, đồng xu, hay tiền là một nguyên nhân cho một vi phạm nissaggiya pacittiya. Ngọc, ngọc trai, hồng ngọc, đá quý, bảy loại hạt, những nô lệ nữ, nô lệ nam, ruộng lúa, những cánh đồng canh tác, vườn cây ăn quả, hay vườn hoa được gọi là những vật là nguyên nhân cho một vi phạm dukkata (tác ác). Tu sĩ không được phép nhận bất kỳ món gì trong những loại này cho bản thân, cho một ngôi chùa, Tăng đoàn, một nhóm người, hay cho người khác.
Ở đây và ở nơi khác trong toàn bộ các luận giảng, ‘nhận’ có nghĩa là nhận bằng cách nào đó trong ba cách được đề cập tới trong Rupiya sikkhapada.
3. Nếu sứ giả hỏi trong một cách thế được cho phép: ‘Thưa Sư, có ai phục vụ cho Sư không?’ Khi ấy tu sĩ được phép chỉ ra người nào đó. Tuy nhiên, nếu sứ giả hỏi: ‘Ai sẽ nhận tiền này?’ hay ‘Con nên đưa tiền này cho ai?’ thì tu sĩ không được phép chỉ ra ai là một kappiya.
Nếu Tỳ khưu chỉ ra một kappiya khi cư sĩ hỏi một cách sai lạc thì điều đó sẽ là một vi phạm nissaggiya pacittiya vì làm cho người khác nhận tiền cho vị Tỳ khưu.
4. ‘Người nào đó phục vụ cho các Tỳ khưu,’ được nói ra để cho thấy cách nói được cho phép đối với một Tỳ khưu. Tỳ khưu chỉ có thể nói điều đó theo cách này và không nên nói: ‘Hãy đưa tiền cho ông ta. Ông ta sẽ giữ nó. Ông ta sẽ đổi nó. Ông ta sẽ mua nó.’
Nếu cư sĩ hỏi theo cách thế được cho phép thì Tỳ khưu chỉ có thể chỉ ra một kappiya theo cách thế được cho phép. Nếu Tỳ khưu chỉ ra theo cách thế sai lầm thì đó sẽ là một vi phạm nissaggiya pacittiya.
5. ‘Thưa Sư, người mà Sư chỉ ra đó đã được con chỉ dẫn. Xin tiếp xúc với ông ta vào một thời điểm thích hợp và ông ta sẽ dâng cúng Sư một bộ y,’ có nghĩa là: người đó đã được con ra lệnh khi Sư cần một bộ y thì người đó sẽ dâng y cho Sư. Nếu sứ giả thực sự nói điều này thì sau khi được thông tin như thế, tu sĩ được phép yêu cầu một bộ y. Tu sĩ không được phép hỏi nếu sứ giả chỉ đơn thuần đi tới và trao cho một kappiya ngân quỹ để mua một bộ y.
Sẽ là một cách kiếm sống tà vạy khi yêu cầu một bộ y từ người không đưa ra một lời mời để hỏi.
6. Nếu Tỳ khưu nói: ‘Đây là người phục vụ cho các Tỳ khưu,’ và chỉ rõ một người đang hiện diện vào lúc đó. Khi ấy, trước sự hiện diện của Tỳ khưu, nếu sứ giả trao cho người ấy ngân quỹ và nói: ‘Sau khi mua một bộ y cho Thera (Thượng Tọa, Trưởng Lão) này, xin hãy dâng y cho Sư,’ và sau đó ra đi. Như vậy thậm chí không được nói: ‘… đã được tôi chỉ dẫn…’ thì Tỳ khưu được cho phép yêu cầu một bộ y.
Nếu khi sứ giả sắp ra đi, ông ta nói với Tỳ khưu: ‘Con sẽ trao tiền này tận tay ông ta, Sư hãy nhận một bộ y,’ và sau đó nếu người ấy ra đi hay nếu ông ta gởi người khác tới để thông báo cho Tỳ khưu thì trong cả hai trường hợp này Tỳ khưu được phép yêu cầu một bộ y. Mặc dù giới luật này chỉ đề cập tới một ‘sứ giả’ nhưng nếu đích thân người hiến tặng mang số tiền tới thì thủ tục cũng tương tự và những khác biệt cũng tương tự như được đề cập ở trên.
7. ‘Tôi cần một bộ y,’ cho thấy cách thế đúng đắn để yêu cầu một bộ y. Tỳ khưu được phép nói điều gì đó có ý nghĩa tương tự khi sử dụng bất kỳ ngôn ngữ nào. Không bao giờ được phép nói: ‘Hãy cho tôi một bộ y, Hãy mang cho tôi một bộ y, Hãy sắm cho tôi một bộ y, Hãy mua cho tôi một bộ y.’
Những Chọn lọc từ Samantapasadika (Thiện Kiến Luật chú)
1. Không chỉ không được phép nhận tiền cho bản thân, mà cũng không được phép nhận tiền nếu số tiền đó do người hiến tặng mang đến và họ nói: ‘Con dâng cúng số tiền này cho Tăng đoàn. Xin làm một vườn hoa, một ngôi chùa, phòng ăn hay bất kỳ thứ gì khác.’ Bất kỳ ai nhận tiền cho người nào khác sẽ vi phạm dukkata theo luận giảng Mahapaccariya. (Một luận giảng cổ xưa không còn hiện hữu.)
2. Nếu một Tỳ khưu từ chối không nhận tiền và nói: ‘Các Tỳ khưu không được phép nhận tiền này.’ Khi ấy nếu người hiến tặng nói: ‘Con sẽ trao số tiền này tận tay một người thợ mộc hay công nhân. Sư chỉ trông coi để công việc của họ được thực hiện một cách đúng đắn.’ Sau đó nếu ông ta giao tiền cho những người thợ và ra đi thì điều đó được cho phép. Nếu ông ta nói: ‘Con sẽ trao số tiền này tận tay người của con hay chính con sẽ giữ số tiền này. Sư cần giao cho ai thì xin bảo người đó tới gặp con để nhận nó.’ Điều này cũng được cho phép.
3. Nếu không hỏi ý kiến Tăng đoàn, một nhóm người, hay một cá nhân, họ chỉ nói: ‘Chúng con biếu số vàng, bạc, hay tiền này cho chùa, cho tu viện, cho công trình mới,’ thì không được phép từ chối điều đó. Tỳ khưu nên thông báo cho kappiya của ông và nói: ‘Đây là điều họ đã nói.’ Tuy nhiên nếu họ nói: ‘Chúng con cúng dường tiền này vì ngôi chùa, tu viện, công trình mới, xin Sư nhận và giữ nó.’ Khi ấy Tỳ khưu phải từ chối và nói: ‘Chúng tôi không được phép nhận số tiền này.’
Trong trường hợp thứ nhất Tỳ khưu không được từ chối bởi ông không bị yêu cầu nhận số tiền. Ông không thể làm điều gì ngoại trừ thuật lại cho kappiya của ông những gì những người hiến tặng nói. Ông không thể nhận số tiền đó.
4. Nếu một người mang nhiều vàng, bạc, hay tiền và nói: ‘Thưa Sư, con cúng dường món này cho Tăng đoàn, xin sử dụng bốn vật dụng cần thiết có được từ món cúng dường này.’ Khi ấy nếu Tăng đoàn nhận món cúng dường đó thì việc chấp nhận ấy là một vi phạm và việc sử dụng những vật dụng cần thiết có được từ món cúng dường đó cũng là một vi phạm.
Nếu vào lúc Tăng đoàn được cúng dường, một Tỳ khưu từ chối không nhận và nói: ‘Điều này không được cho phép.’ Những cư sĩ ra đi và nói: ‘Nếu điều này không được cho phép thì con sẽ giữ nó.’ Khi ấy những Tỳ khưu khác không nên nói với vị Tỳ khưu đó: ‘Ông đã gây trở ngại cho Tăng đoàn,’ hay điều gì khác đối với kết quả đó. Đối với bất kỳ ai nói một điều như thế với vị Tỳ kheo, người ấy sẽ mắc vào mộtvi phạm (dukkata) bởi bằng cách từ chối món cúng dường vị Tỳ khưu đơn độc đó đã tránh cho nhiều người không bị vi phạm.
Nếu những Tỳ khưu đó từ chối số tiền và nói: ‘Điều này không được cho phép,’ và khi ấy những cư sĩnói: ‘Con sẽ trao số tiền này cho một kappiya hay cho người của con hay đích thân con giữ nó. Sư chỉ nhận và sử dụng những vật dụng cần thiết có được từ số tiền này.’ Điều đó được cho phép.
Luận giảng giải thích rằng không phải kappiya nào cũng cần thực hành những phương pháp được chỉ bày trong giới luật này. Luận giảng giải thích rằng có mười loại và hai hạng kappiya. Các chi tiết như sau:
5. Nếu người nào đó gởi một sứ giả cùng một số tiền để mua một bộ y cho một Tỳ khưu và sau khi tiếp xúc với Tỳ khưu, sứ giả đó nói: ‘Thưa Sư, một người nào đó đã gởi số tiền này để mua một chiếc y cho Sư. Xin nhận số tiền này.’ Khi ấy vị Tỳ khưu phải từ chối và nói: ‘Điều này không được cho phép.’ Nếu sau đó sứ giả hỏi: ‘Thưa Sư, Sư có người phục vụ không?’ Khi ấy nếu có một người như thế thì hoặc người ấy sẽ được một cư sĩ chỉ dẫn: ‘Ông phục vụ cho những Tỳ khưu này,’ hoặc nếu ông ta chỉ là một người bạn hay người cộng tác của Tỳ khưu đó và phục vụ cho Tỳ khưu. Nếu vào lúc đó người ấy đang ngồi trước sự hiện diện của Tỳ khưu đó và Tỳ khưu chỉ rõ ông ta và nói: ‘Đây là người phục vụ cho các Tỳ khưu.’ Khi ấy nếu sứ giả trao ngân quỹ tận tay người đó và nói: ‘Sau khi mua một bộ y hãy cúng nó cho Thera (Thượng Tọa, Trưởng Lão) này,’ và sau đó ông ta ra đi. Như vậy kappiya này được gọi là được Tỳ khưu chỉ rõ trước sự hiện diện của người ấy (1).
Tuy nhiên nếu lúc đó người ấy không ngồi trước sự hiện diện của vị Tỳ khưu và vị Tỳ khưu chỉ rõ người đó và nói: ‘Trong làng nào đó có một người tên như thế phục vụ cho các Tỳ khưu,’ Khi ấy nếu sứ giả đi tới làng đó mang ngân quỹ trao tận tay người ấy và nói: ‘‘Sau khi mua một bộ y hãy cúng nó cho Thera này,’ và sau đó trở về gặp vị Tỳ khưu và thông báo cho Tỳ khưu điều này trước khi ra đi. Như vậy kappiya này được gọi là được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của người ấy (2).
Tuy nhiên nếu sứ giả không đích thân trở lại thông báo cho Tỳ khưu mà gởi một người khác tới thông báo và nói: ‘Thưa Sư, chúng con đã trao cho người đó ngân quỹ để mua một bộ y. Xin Sư nhận một bộ y.’ Như vậy kappiya này được gọi là loại thứ hai được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của người ấy (3).
Tuy nhiên nếu sứ giả không gởi người nào đó giống như thế mà thay vào đó ông ta nói với Tỳ khưu trước khi đi: ‘Thưa Sư, con sẽ gởi tiền cho người đó để mua một bộ y, xin Sư nhận một bộ y.’ Như vậy kappiya này là loại thứ ba được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của người ấy (4).
Như thế có bốn kappiya được Tỳ khưu chỉ rõ, một người được Tỳ khưu chỉ rõ trước sự hiện diện của người ấy và ba người được Tỳ khưu chỉ rõ mà không có sự hiện diện của họ. Trong tất cả bốn trường hợp này một Tỳ khưu nên thực hành đúng y như được nói trong giới luật của Raja sikkhapada.
Nếu một sứ giả hỏi Tỳ khưu cùng cách thức được nói ở trên và nếu Tỳ khưu hoặc không có một kappiya hoặc không muốn sắp xếp như thế, Tỳ khưu nên nói: ‘Tôi không có một kappiya.’ Nếu vào lúc đó một người đi tới và sứ giả trao ngân quỹ tận tay người ấy và ra đi sau khi nói: ‘Xin nhận một bộ y từ người này.’ Như vậy kappiya này được gọi là được sứ giả chỉ rõ trước sự hiện diện của Tỳ khưu (1).
Trong trường hợp khác đích thân sứ giả vào làng và chọn một người rồi trao ngân quỹ tận tay người đó. Như vậy cũng giống như những cách thức đã được nói ở trên, hoặc người đó quay lại và thông báo cho Tỳ khưu, gởi người khác tới thông báo cho Tỳ khưu, hay nói trước khi đi: ‘Con sẽ trao ngân quỹ này tận tay người tên gì đó, xin Sư nhận một chiếc y,’ và sau đó ra đi. Đây là ba trường hợp được gọi là kappiya được sứ giả chỉ rõ mà không có sự hiện diện của Tỳ khưu (2,3 &4).
Cả bốn trường hợp này được gọi là các kapiya được sứ giả chỉ rõ. Trong bốn trường hợp này một Tỳ khưu nên thực hành hoàn toàn giống như cách được nói trong thừa nhận Menkada, trong đó nói:
Các Tỳ khưu, có những người có niềm tin và lòng tôn kính và nếu họ ký thác tiền bạc cho một kappiya, chỉ dẫn cho người này và nói: ‘Với số tiền này xin dâng những vật dụng cần thiết được cho phép cho vị Sư này,’ thì các Tỳ khưu, ta cho phép các ông nhận mọi vật dụng cần thiết được cho phép có được từ số tiền này, nhưng các Tỳ khưu, ta chẳng thể nào cho phép nhận hay tìm kiếm tiền bạc.’ Theo sự thừa nhận này một Tỳ khưu có thể yêu cầu vô số lần. Một Tỳ khưu, người không đồng ý nhận ngân quỹ, cho dù ông đã yêu cầu hay đứng một ngàn lần thì được phép nhận những vật dụng cần thiết được cho phép. Nếu họ không biếu tặng vật gì, sau đó cử một người khác làm kappiya cho vị Tỳ kheo thì ông ta nên làm cho người đó mang lại những vật dụng cần thiết.* Nếu vị Tỳ khưu muốn thì ông có thể thông báo cho người hiến tặng lúc ban đầu, nhưng ông không cần phải làm thế nếu ông không muốn.
* Một Tỳ khưu không được phép làm cho tiền di chuyển từ một kappiya sang một người khác. Ông ta nên nói với kappiya mới: ‘Có người đã để lại một số tiền để mua môt bộ y cùng với … và tôi cần một bộ y.’
5. (tiếp theo) Nếu tỳ khưu được sứ giả hỏi theo cùng cách thức đã nói ở trên và Tỳ khưu trả lời: ‘Tôi không có một kappiya.’ Lúc ấy nếu có một người hiện diện nghe câu nói đó và nói: ‘Xin mang tiền lại đây, tôi sẽ mua một bộ y cho Sư và dâng nó cho Sư.’ Khi ấy nếu sứ giả nói: ‘Tốt quá, xin hãy dâng y cho Sư,’ và sau khi trao ngân quỹ tận tay người đó và không thông báo cho Tỳ khưu, người ấy ra đi (không nói với Tỳ khưu là Tỳ khưu nhận một bộ y từ người đó). Điều này được gọi là trở thành một kappiya nhờ miệng của mình.
Trong trường hợp khác, nếu sứ giả chỉ đơn giản trao ngân quỹ cho người nào đó và nói với ông ta: ‘Ông dâng một bộ y cho Sư,’ và sau đó ra đi. Như vậy điều này được gọi là trở thành một kappiya nhờ miệng của người khác.
Hai loại sau cùng này được gọi là những kappiya không được chỉ rõ. Trong những trường hợp này một Tỳ khưu nên thực hành theo một cách thế tương tự như thể những kappiya ấy không phải là những người thân thuộc hay không đưa ra lời mời thỉnh để yêu cầu những vật dụng cần thiết. Nếu những người ấy tự nguyện mang một bộ y và cúng dường nó thì Tỳ khưu có thể nhận y. Nếu họ không làm như thế thì Tỳ khưu không nên nói gì hết.
Mặc dù trong giới luật chỉ có một sứ giả giữ ngân quỹ, nếu người hiến tặng đích thân mang ngân quỹ hay đó là ngân quỹ để mua thực phẩm hay thứ gì khác thì thủ tục cũng tương tự như ở trên.
4. Rupiya samvohara sikkhapada
Cho dù Tỳ khưu tham gia vào điều gì trong việc trao đổi những hình thức khác nhau của vàng, bạc, hay tiền thì Tỳ khưu cũng mắc vào một vi phạm nissaggiya pacittiya.
Rupiya sikkhapada ngăn cấm việc nhận vàng, bạc, hay tiền. Giới luật này cấm việc trao đổi vàng, bạc, và tiền để lấy những thứ khác làm bằng vàng hay bạc (chẳng hạn như vật trang sức), hay để lấy những tài sản được cho phép (chẳng hạn như những bộ y, bát, hay những vật dụng cần thiết khác). Giới luậtnày cũng ngăn cấm việc trao đổi những vật dụng cần thiết được cho phép, hay những vật làm bằng vàng hay bạc, để lấy vàng, bạc, hay tiền.
Luận giảng Samantapasadika (Thiện Kiến Luận chú) đưa ra một giải thích bằng một ví dụ được gọi là ‘bốn cái chén không được phép nhận.’ Bản văn viết:
Để chỉ rõ lỗi lầm nghiêm trọng trong việc vi phạm giới luật này, việc bốn cái chén không được phép nhận được giải thích như sau: Nếu một Tỳ khưu sau khi nhận tiền, mua quặng sắt, nấu chảy thành sắt và làm thành một cái chén khất thực (bình bát). Như vậy cái chén này được gọi là một ‘cái chén vĩ đại khôngđược phép nhận’ do bởi chẳng có cách nào làm cho nó được nhận. Nếu cái chén bị đập vỡ và được làm thành những cái tách thì chúng cũng không được phép nhận. Nếu nó được làm thành một con dao thì những tooth-wood (a) được làm bằng con dao đó không được phép nhận. Nếu nó được làm thành những lưỡi câu để câu cá thì ngay cả cá bị vướng vào những lưỡi câu đó cũng không được phép nhận. Nếu người ấy nung nóng lưỡi dao làm từ cái chén đó và nhúng nó vào nước hay sữa và làm nước hay sữa ấm lên thì nước hay sữa đó cũng không được phép nhận.
Nếu một Tỳ khưu sau khi nhận tiền, mua một cái chén được làm sẵn thì cái chén đó không được phép nhận. Trong luận giảng Mahapaccariya có nói: ‘Bất kỳ Tỳ khưu, Tỳ khưu ni, samanera (Sa di), samaneri (Sa di ni), hay sikkhamana (Thức xoa ma na, Học nữ) nào cũng không được phép nhận cái chén đó.’ Cũng có thể làm cho cái chén này lại được phép nhận. Nếu vị Tỳ khưu trả cái chén cho nơi ông đã mua, lấy lại tiền, và trả lại cái chén thì cái chén trở thành được phép nhận. Như vậy nếu ta có cái chén bằng một cách thế được cho phép thì ta được phép sử dụng nó.
Nếu một Tỳ khưu sau khi nhận tiền đi tới một tiệm bán chén bát cùng với kappiya của ông và khi nhìn thấy một cái chén ông nói: ‘Tôi thích cái này,’ và người kappiya đó đưa tiền và thỏa thuận với người chủ tiệm để mua chén. Khi ấy mặc dù cái chén đó được sở hữu bằng lời nói được cho phép nhưng nó vẫn không được phép nhận do bởi việc nhận tiền lúc ban đầu. Không có sự khác biệt với thí dụ thứ hai. Vì sao các Tỳ khưu khác cũng không được phép nhận những cái chén? Đó là bởi tiền lúc ban đầu không được thu hồi (theo đúng Luật ở giữa Tăng đoàn).
Nếu một Tỳ khưu không nhận tiền và sau khi một kappiya được gởi tới và được chỉ dẫn, người này nói: ‘Sau khi mua một cái chén xin cúng nó cho Thera.’ Sau đó nếu kappiya và Tỳ khưu cùng đi tới tiệm bán chén bát và khi nhìn thấy cái chén Tỳ khưu nói: ‘Hãy nhận số tiền này và đưa cho tôi cái chén,’ và như thế sau khi làm cho tiền được đưa ra vị Tỳ khưu nhận cái chén. Như vậy chỉ một mình Tỳ khưu đó không được phép nhận cái chén bởi ông đã sắp xếp việc mua bán một cách sai lầm. Những Tỳ khưu khác thì được phép nhận bởi số tiền đã không được nhận ngay từ đầu.
Thầy giáo của Mahasuma Thera được gọi là Anuruddha Thera và ông có một cái chén như thế, nó đựng đầy sữa trâu và ông tặng nó cho Tăng đoàn. Đệ tử của Tipitaka Culanaga Thera cũng có một cái chén như thế, và vì thế Thera làm cái chén được rót đầy sữa trâu và tặng cho Tăng đoàn. Đây là bốn cái chén không được phép nhận.
Nếu một Tỳ khưu không nhận tiền và sau khi một kappiya được gởi tới và được chỉ dẫn, người này nói: ‘‘Sau khi mua một cái chén xin cúng nó cho Thera,’ khi ấy nếu kappiya và Tỳ khưu cùng đi tới tiệm bán chén bát và sau khi nhìn thấy cái chén Tỳ khưu nói: ‘Tôi thích cái này,‘ hay ‘Tôi sẽ lấy cái này,’ và kappiya đưa tiền và thỏa thuận việc mua bán với chủ tiệm thì cái chén đó hoàn toàn được phép nhận và ngay cả Đức Phật cũng sử dụng nó.
PHẦN 4. VIỆC BỊ THU HỒI VÀ SÁM HỐI
Nếu một Tỳ khưu đã nhận vàng, bạc, hay tiền thì trước tiên, theo những giới luật của Tạng Luật, ngay giữa Tăng đoàn ông phải bị thu hồi những vật dụng không được phép nhận và sau đó sám hối vi phạmđó. Nếu ông đã mua thứ gì đó với vàng, bạc, hay tiền thì những món đồ đã được mua đó cũng phải bị thu hồi và sau đó phải sám hối việc vi phạm. Nếu vào lúc xảy ra việc thu hồi một cư sĩ có mặt ở đó thì được phép giải thích cho người ấy những gì đã xảy ra. Nếu cư sĩ đó nhận số tiền và nói: ‘Con nên mua cái gì với số tiền này?’ Khi ấy Tỳ khưu có thể nói: ‘Món nào đó được phép nhận (sữa trâu, bơ, v.v..) Ông ta không thể nói: ‘Hãy mua món nào đó.’ Như vậy nếu cư sĩ mua món nào đó và dâng nó cho Tăng đoàn thì tất cả các Tỳ khưu, ngoại trừ người đã nhận số tiền đó, có thể sử dụng nó. Nếu không có cư sĩhiện diện ở đó thì Tăng đoàn có thể chỉ định một Tỳ khưu nhận tiền và ném nó đi.
Đức Phật đã dạy rằng chẳng có cách nào để một Tỳ khưu có thể được lợi lạc sau khi nhận tiền hay mua những đồ vật bằng số tiền đó. Nhưng nếu tiền được thu hồi phù hợp với những giới luật của Tạng Luật thì những người khác trong Tăng đoàn có thể được lợi lạc. Nếu những vật phẩm và tiền không bị thu hồithì không có Tỳ khưu hay samanera (Sa di) nào có thể sử dụng những món đó.
Nếu một Tỳ khưu không thu hồi hay ném bỏ tiền hay những món đồ được mua bằng tiền đó thì cho dù ông ta sám hối bao nhiêu lần chăng nữa ông vẫn được coi là đã vi phạm. Như vậy nếu ông ta nghe trì tụng Giới bổn Tỳ khưu (Giới bổn Ba-la-đề-mộc-xoa) hay tuyên bố là mình trong sạch thì ông ta cũng vi phạm việc nói dối có ý thức. Giới bổn Tỳ khưu nói:
‘Bất kỳ Tỳ khưu nào được chất vấn ba lần, biết rằng mình vi phạm nhưng vẫn không bộc lộ điều đó thì đó là một người nói dối có ý thức. Các Sư, Đức Thế Tôn đã dạy rằng nói dối có ý thức là một chướng ngại cho việc thành tựu.’
PHẦN 5. NHỮNG PHƯƠNG PHÁP TÂN TIẾN
Có nhiều phương pháp mà hiện nay các tu sĩ dùng để thâu thập và sử dụng những ngân quỹ to lớn. Nếu quý vị là một tu sĩ quý vị sẽ trải qua những phương pháp khác nhau ở những tu viện khác nhau. Hầu hết những phương pháp này không tuân theo những thủ tục được sắp xếp trong những bản văn. Cách tốt nhất là tránh những thực hành đáng ngờ và không rõ ràng và hãy thực hành phù hợp với những thủ tục (trình tự) được đưa ra trong các bản văn.
Chẳng hạn như các bản văn không chỉ cho một tu sĩ cách dạy cho một người khi họ nỗ lực cúng dườngtiền, chỉ bày cho họ cách cúng dường những vật dụng cần thiết được cho phép. Các bản văn chỉ dẫnrằng nếu tiền được mang với ý hướng bất tịnh nhằm cúng dường cho tu sĩ thì tu sĩ đó không thể chỉ rõ một kappiya (xem ở trên). Tuyệt nhiên không được phép cúng dường tiền. Tu sĩ không bao giờ được sở hữu tiền bạc. Tu sĩ không bao giờ có thể cho ý kiến về việc phải làm gì với số tiền trong một ngân quỹ dành để mua những vật dụng cần thiết, mà chỉ có thể yêu cầu những vật dụng ấy. Những vấn đề này thật tế nhị và hầu hết các tu sĩ không hiểu rõ chúng hoặc bởi thiếu nghiên cứu, bởi truyền thống, hay do ảnh hưởng vi tế của việc khao khát một số tiền.
Như vậy làm thế nào một tu sĩ không nhận tiền có thể có được những vật dụng cần thiết? Có một vài phương pháp được Đức Phật cho phép để có được những vật dụng cần thiết. Cách thức dễ dàng nhất là hỏi một người nào đó ai là người thân thuộc hay ai đã đưa ra một lời mời các Tỳ khưu yêu cầu những vật dụng cần thiết. Thường thì một Tỳ khưu không thể yêu cầu những vật dụng cần thiết từ một người không đưa ra lời mời và không phải là người thân thuộc. Làm như thế là cách kiếm sống tà vạy. Tuy nhiên nếu một Tỳ khưu bị bệnh thì ông ta có thể yêu cầu người nào đó cung cấp thuốc hay thực phẩm. Cũng thế, nếu những bộ y hay chén bát của Tỳ khưu bị mất cắp hay bị hư hỏng thì ông có thể hỏi xin một người khác (Nissaggiya Pacittiya 6 & 21). Một Tỳ khưu cũng có thể yêu cầu nhân công hay mượn các dụng cụ. Ông có thể yêu cầu người nào đó lấy nước từ một nguồn nước công cộng chẳng hạn như một con sông hay một con đập, nhưng ông không thể hỏi xin nước uống là sở hữu riêng tư của một căn nhà của người nào đó. Một tu sĩ cũng có thể lấy gỗ, đá, hay những vật liệu xây dựng từ những vùng đất hoang vu không có người sở hữu và được pháp luật cho phép.
Trước khi thọ giới làm một sa di hay tu sĩ, một người có thể chuẩn bị một ngân quỹ để cung cấp những vật dụng cần thiết khi ông ta trở thành một tu sĩ hay sa di. Một ngân quỹ như thế có thể được để lại cho một người thân hay người bạn và những người này nên được hướng dẫn để dâng cúng những vật dụng cần thiết cho tu sĩ ấy sau khi ông đã thọ giới. Tân tu sĩ hay tân sa di có thể yêu cầu những vật dụng cần thiết từ một người giữ ngân quỹ nếu họ là một thân nhân ruột thịt, nhưng trước hết tu sĩ hay sa di cần được cho một lời mời trước khi ông có thể yêu cầu một người bạn. Điều này nên được giải thích cho người bạn trước khi thọ giới.
Khi một người đã được thọ giới xuất gia, nếu người ấy vẫn còn tiền trong ngân hàng từ khi còn là một cư sĩ, thì người ấy không thể đảm nhận bất kỳ sự dàn xếp nào về số tiền ấy vì lợi ích của riêng ông. Ông có thể để lại số tiền đó trong ngân hàng cho tới khi ông giải y và không sử dụng số tiền đó trong khi ông thọ giới xuất gia. Ông có thể tặng số tiền đó cho cha mẹ, những người thân, hay bạn hữu của ông để họ sử dụng, nhưng không thể tặng cho bất kỳ tu sĩ, sa di, hay tu viện nào.
Việc nhận hay sử dụng tiền trợ cấp trong khi đang thọ giới xuất gia cũng không được cho phép. Những người muốn xuất gia trong Tăng đoàn nên thực hiện những chuẩn bị thích hợp liên quan tới tiền trợ cấpcủa họ trước khi đắp y tu sĩ.
KẾT LUẬN
Những giới luật liên quan tới tiền bạc thật phức tạp khi giải thích nhưng không khó thực hành; mọi sự một Tỳ khưu cần làm là từ chối nhận tiền. Đối với những người giữ những giới luật một cách chân thànhthì họ sẽ đạt được một sự hiểu biết sâu xa về Pháp. Họ sẽ có thể chứng ngộ những trái quả của Tạng Luật là những gì không tìm thấy trong chữ nghĩa của các giới luật mà được khám phá trong trái tim của những người thực hành nó.
OVADA PATIMOKKHA DHAMMACETI
Nhẫn nại là thực hành tối thượng,
Chư Phật nói Niết bàn là Pháp tối thượng,
Kẻ giết hại người khác không phải là người thực sự lên đường,
Kẻ làm hại chúng sinh không phải là một Samana (Sa môn) đích thực.
Đừng làm mọi ác hạnh,
Hãy phát triển những phẩm tính tốt đẹp,
Tịnh hóa bổn tâm,
Đây là lời chư Phật dạy.
Đừng lăng mạ, sỉ nhục hay làm hại người khác,
Hãy tự chế phù hợp với những giới luật của
Giới bổn Tỳ khưu,
Ăn uống điều độ,
Ẩn dật nơi hẻo lánh,
Và nỗ lực định tâm,
Đây là lời chư Phật dạy.
Chú thích:
(a) Tooth-woods, tạm dịch: mộc xỉ, một loại cây thời Đức Phật. Xơ của loại cây này rất mềm, dân Ấn Độ dùng để nhai mỗi buổi sáng cho sạch và thơm miệng.
Tỳ khưu Dhamminda
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên
Friday, August 16, 2019
Monday, May 6, 2019
Một gia đình hưng vượng cần có 4 yếu tố
Hoàng tộc Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia
Có câu nói rằng: “Cuộc đời con người, thành công lớn nhất không ngoài sự thành công của hôn nhân, hạnh phúc lớn nhất không ngoài hạnh phúc gia đình”. Gia đình hòa thuận, hưng vượng là điều mà ai ai cũng mong mỏi, là phúc báo mà mọi người đều muốn có. Vậy đâu là điều cốt yếu để gia đình có được phúc báo ấy? Dưới đây là 4 yếu tố đảm bảo gia đình hưng vượng lâu dài.
Thiện lương
Thiện lương có thể dưỡng đức. Phong thủy tốt nhất của một gia đình chính là thiện lương.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử giảng: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”, tức là những gì mình muốn lập thì cũng nên lập cho người khác, những gì mình muốn đạt thì cũng nên cho người khác đạt được. Bởi vậy, muốn người khác đối đãi tử tế với mình thì trước tiên phải đối đãi tử tế với người.
Có câu chuyện kể rằng, có một người nông dân sở hữu một loại giống ngô có phẩm chất tốt. Hàng năm, ông ta đều nhận được giải thưởng người sở hữu giống ngô tốt nhất. Điều khiến mọi người khó tin là người nông dân này đã sẵn sàng hào phóng phân phát giống ngô này cho những người nông dân khác.
Có một người đem thắc mắc này hỏi ông ta: “Vì sao ông lại dễ dàng phân phát giống ngô tốt của mình cho người khác như vậy?”
Người nông dân trả lời: “Bạn đối tốt với người khác, kỳ thực là đối tốt với bản thân mình! Hoa ngô trong quá trình thụ phấn nhờ gió thổi, nếu như ngô của những nhà xung quanh đều có phẩm chất kém thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ngô của tôi. Bởi vậy, tôi sẵn sàng phân phát giống ngô tốt của mình cho mọi người, vừa là để tốt cho mọi người nhưng cũng chính là tốt cho bản thân mình!”
Cổ ngữ nói: “Phúc báo ở phía sau.” Người hiền lành có thể trước mắt chịu thiệt, nhưng tương lai của họ sẽ có phúc trạch thâm hậu, thậm chí có thể tạo phúc cho con cháu.
Nuôi dưỡng con trẻ cũng giống như việc trồng cây. Chỉ có lấy phẩm đức làm chất dinh dưỡng để tưới, con trẻ liền có thể có được tương lai tốt đẹp giống như cây xanh nhờ chất dinh dưỡng mà mọc lên tươi tốt, cành lá xum xuê.
Nhẫn nhịn
Nhẫn nhịn là cách dưỡng phúc.
Có một cặp vợ chồng, họ đã chung sống hòa thuận cùng nhau mấy chục năm, trải qua biết bao khó khăn mưa gió. Người chồng hiện đã trở thành lãnh đạo của một công ty lớn. Một lần, cả hai vợ chồng họ cùng đến dự lễ cưới của một nhân viên cấp dưới.
Có một cậu thanh niên hỏi hai vợ chồng họ bí quyết giữ gìn hạnh phúc hôn nhân mấy chục năm qua.
Người chồng vừa cười vừa trả lời: “Bí quyết chỉ có một chữ: Nhẫn”.
Người vợ đứng bên cạnh người chồng, nói thêm một câu: “Thêm một chữ: Nhịn nữa”.
Quả thực, vợ chồng chung sống cùng nhau dưới một mái nhà, sao tránh được những vấp váp, mâu thuẫn xảy ra. Thế nên, giữa vợ chồng với nhau, phải biết nhường nhịn. Người xưa có câu: “Tu trăm năm mới đi chung một chuyến thuyền, tu ngàn năm mới nên duyên vợ chồng”. Nhân sinh một đời, có thể ở chung trọn đời trọn kiếp là việc không hề dễ dàng gì. Vậy nên, biết trân trọng tình cảm của nhau thì hôn nhân mới có thể lâu bền, hạnh phúc gia đình mới được lâu dài.
Gia đình là nơi để yêu thương, không phải là nơi để nói lý hay tranh luận đúng sai, ai là người có lỗi… Bởi tranh cãi dẫu đúng sai rõ ràng rồi thì tình yêu thương cũng sẽ vơi dần, thậm chí không còn nữa. Gia đình là bến cảng của các thành viên, có thể khoan dung và nhường nhịn lẫn nhau, mới là bí quyết để gia đình mãi hòa thuận.
Chuyên cần
Chăm chỉ chuyên cần là cách phát tài.
Ngày nay, nhiều gia đình sinh một con, vậy nên cha mẹ thường ra sức nuông chiều và thỏa mãn nhu cầu của con cái. Cha mẹ thường sợ con mình sẽ phải chịu khổ, chịu mệt… Kết quả là dưỡng thành những đứa trẻ không biết chăm chỉ làm việc, không nguyện ý chịu trách nhiệm.
Những đứa trẻ này thường chỉ biết ỷ lại vào cha mẹ, hơn nữa trở nên ham hư vinh và lười biếng làm việc. Chúng khi còn bé ở nhà thì cái gì cũng không làm, ngửa tay là được cho tiền, khi trưởng thành cũng vẫn như cũ, sẽ không thể tự lực cánh sinh, gánh vác cuộc sống của mình.
Tăng Quốc Phiên từng nói, một gia đình có hưng thịnh hay không chỉ cần nhìn vào ba điểm dưới đây là biết rõ:
Thứ nhất: Nhìn xem con cháu ngủ đến mấy giờ. Nếu như ngủ đến lúc mặt trời lên cao mới bắt đầu dậy thì gia đình này đang từ từ lười biếng mà đi xuống.
Thứ hai: Nhìn xem con cháu trong nhà có chăm chỉ làm việc hay không? Bởi vì thói quen làm việc sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời của một người.
Thứ ba: Nhìn xem con cháu có thường đọc sách kinh điển của các bậc cao nhân thánh hiền hay không? Bởi vì người không học sẽ không hiểu nghĩa và không biết đạo lý.
Khiến cho con trẻ có thể tự mình cố gắng, tự mình đi làm việc, giúp con hiểu được ‘chuyên cần và nỗ lực’, đây mới là món quà tốt nhất mà cha mẹ nên dành tặng cho con, cũng là hành trang đảm bảo nhất để con bước vào đời.
Đọc sách
Đọc sách thánh hiền là cách bồi dưỡng đức hạnh.
Đối với một gia đình mà nói, không có thói quen nào tốt hơn thói quen đọc sách. Thông qua đọc sách, chúng ta có thể “làm bạn” với các nhà hiền triết, tìm thấy câu trả lời cho những nghi hoặc trên con đường nhân sinh. Đọc sách không chỉ giúp chúng ta có thêm tri thức, mở mang trí tuệ mà còn giúp chúng ta thay đổi thế giới quan và nhân sinh quan.
Gia tộc họ Bùi ở Văn Hỷ, Sơn Tây, Trung Quốc là một ví dụ. Gia tộc này đã kế thừa và phát huy truyền thống đọc sách tới 2.000 năm lịch sử, và trở thành đại thế gia đầu tiên lừng danh nhất trong lịch sử Trung Hoa. Theo tổng kết trong “Gia phả của họ Bùi”, gia tộc họ Bùi từ khi bắt đầu ra đời đã sinh ra 59 vị tể tướng, 59 vị đại tướng quân và có hơn 3.000 người được ghi danh sử sách …
Một trong những bí quyết của gia tộc họ Bùi chính là giáo dục việc đọc sách. Bùi gia cho rằng, đọc sách mới hiểu được đạo lý: Con người không đọc sách, không biết đạo lý, cũng chỉ như con trâu con bò chỉ biết kéo xe. Học mà không hành thì cũng không đủ.
Bùi gia còn có một quy tắc, đó là nếu người nào không thi đỗ tú tài thì không được bước chân vào từ đường của dòng họ. Vậy nên, trong gia tộc họ Bùi, từ trên xuống dưới, vô luận là nam hay nữ, già hay trẻ, cả gia tộc đều có một thói quen đọc sách, yêu thích đọc sách. Những thành viên trong gia tộc họ Bùi nhờ vậy mà ngày càng phát triển hưng thịnh, tích đức hành thiện luôn đi đôi với phát triển sự nghiệp. Điều này là vô cùng hiếm thấy trong lịch sử.
An Hòa
(Theo TrithucVN.net)
Saturday, December 1, 2018
Những giới luật mà người cư sĩ Phật tử cần biết khi hộ độ chư Tăng
1. Tất cả các đồ ăn, thức uống đều phải được dâng (trừ nước lọc và tăm xỉa răng không nhất thiết phải dâng tận tay chư Tăng). Khi dâng không đứng quá xa, tránh để cho chư Tăng khỏi với tay.
2. Đồ ăn, thức uống đã dâng cho chư Tăng, nếu cư sĩ đụng vào thì phải dâng lại mới hợp lệ.
3. Thuốc trị bệnh có thành phần đường chỉ được giữ tối đa bảy ngày. Nếu trong thuốc không có đường thì được giữ lâu dài.
4. Có năm loại được coi là thuốc, được phép dùng vào buổi chiều (sau 12g trưa) và được giữ tối đa bảy ngày là: Bơ lỏng, bơ đặc, dầu, mật ong và đường.
5. Cà phê không đường, sữa hoặc sô cô la được phép dùng vào buổi chiều (theo truyền thống Thái Lan).
6. Không được uống trà vào buổi chiều (theo truyền thống Miến Điện).
7. Chư Tăng được phép xả đồ không dùng đến cho cha mẹ hoặc người hộ Tăng (kappiya).
8. Không mượn vật dụng của chư Tăng dùng cho cá nhân.
9. Chư Tăng được phép xin hoặc yêu cầu người thân trong gia đình trong phạm vi 7 đời (cả bên nội lẫn bên ngoại) hoặc người đã tác bạch thỉnh mời. Chẳng hạn có người thỉnh rằng: “Nếu Sư cần loại thuốc nào trong ba tháng hạ thì con xin cúng dường” hay “Nếu Sư có cần đi đâu, con xin thu xếp xe”. Như vậy, nhà sư có thể yêu cầu khi có nhu cầu.
10. Chư Tăng không được phép yêu cầu đồ ăn trừ khi có bệnh và không được phép cất giữ đồ ăn qua đêm – để nhấn mạnh sự phụ thuộc của nhà sư đối với hàng cư sĩ, và mặt khác giúp cho nhà sư không bị dính mắc vào các đồ ăn mà mình ưa thích.
11. Không nên hỏi nhà sư muốn ăn món gì. Người xuất gia phải là người dễ nuôi, có thể bất kỳ vật thực nào nhận được, không phải là người kén chọn. Muốn có đồ ăn chay hay bất kỳ đồ ăn nào cũng là đòi hỏi, trừ trường hợp có bệnh.
12. Có tám vật dụng cơ bản của một vị sư gồm: Tam y (y thường, y nội và Y Tăng già lê), bát, dao cạo, kim chỉ, dây lưng và đồ lọc nước.
13. Trái cây trước khi dâng phải làm theo luật bằng cách đốt, khía bằng dao hoặc móng tay hay bỏ hết hạt.
14. Chư Tăng không được phép trực tiếp nhận tiền bạc. Người muốn cúng dường phải nói trước: “Ai là người hộ tăng (kappiya) cho sư?”. Sau khi gửi tứ vật dụng (tiền) cho người kappiya, thí chủ quay trở lại tác bạch rằng: “Con đã cúng dường tứ vật dụng cho sư trị giá… hiện nay người hộ tăng của sư đang cất giữ. Bất cứ khi nào có nhu cầu gì, thỉnh sư yêu cầu người hộ tăng để thu xếp”. Hoặc người hộ tăng sẽ thay mặt thí chủ cúng dường để tác bạch. Chỉ sau khi được tác bạch thì vị sư mới được yêu cầu.
15. Chư Tăng không được phép ngồi chung với nữ nhân trong chỗ khuất.
16. Một số sư có hạnh nguyện chỉ ăn trong bát các đồ ăn sau khi đã nhận. Tất cả cơm, thức ăn, bánh, trái cây đều được cho vào trong bát (không ăn đồ ăn dâng thêm sau đó).
17. Nhà sư không được phép nhận lời nếu thí chủ thỉnh mời tới thọ trai mà có nói tên đồ ăn, ví dụ nói: “Xin thỉnh quý sư dùng phở/ bún chả/ bữa cơm” là không hợp lệ. Chỉ nên nói: “Xin thỉnh quý sư đến trai tăng/ thọ trai”.
Nói chung, không dùng các từ như “cơm, bánh” hoặc tên các món ăn cụ thể khi thỉnh mời các vị sư đến trai tăng, có thể nói như trên hoặc đơn giản là: “Xin thỉnh sư đi thọ thực”.
18. Có thể ở qua đêm chung mái nhà với chư Tăng nếu có tường ngăn hoặc lối đi riêng.
19. Thí chủ có tác bạch hộ độ chư Tăng theo kỳ hạn hoặc không kỳ hạn.
20. Không dâng đồ ăn, vật thực phi thời (sau 12g trưa), trừ nước ép một số trái cây đã lọc hết xác, tép (nước mía, cam, bưởi…). Nước hoa quả đó chỉ còn lại nước trong là hợp lệ.
21. Không nên chạm trực tiếp hoặc gián tiếp vào chư Tăng.
22. Có bốn yếu tố để việc cúng dường thành tựu từ phía thí chủ:
i. Giữ giới trong sạch (năm giới hoặc tám giới).
ii. Vật cúng dường có được do làm ăn lương thiện.
iii. Tâm trong sạch (không xuất phát từ việc mưu cầu hoặc tâm tham).
iv. Có đức tin nơi Tam bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp.
23. Không dâng đồ ăn trước khi mặt trời mọc (mùa hè khoảng 5g30, mùa đông khoảng 6g). Một cách để kiểm tra thời gian hợp lệ là thấy rõ chỉ tay vào sớm bình minh.
24. Một vị Sư đang nhập hạ được phép đi không quá 7 ngày. Tuy nhiên, nếu Phật tử hay người bất kỳ nào yêu cầu: “Xin thỉnh pháp Sư đến nói pháp” thì vị sư được phép ra đi hợp lệ.
25. Một vị sư thuyết pháp, nói đạo cần sự có mặt của ít nhất của một nam cư sĩ.
26. Khi Tỳ khưu thấy người ta giết thịt con vật cho mình ăn, hoặc nghe thấy tiếng con vật kêu, hoặc nghi người ta giết con vật đó cho mình ăn thì không được thọ dụng thịt đó.
27. Tỳ khưu không nhận thịt sống, thịt tái. Có mười loại thịt Tỳ khưu không được ăn là: Thịt người, thịt hổ, báo, rắn, voi, ngựa, gấu, chó, sư tử, mèo rừng (để tránh bị chúng ngửi thấy mùi đồng loại và tấn công khi tỳ khưu ở rừng hoặc đi khất thực và tránh thế gian chê trách).
28. Khi thỉnh sư đến tư gia lưu trú, cần tác bạch như sau: “Chúng con xin dâng cúng tư gia này được coi là ngôi chùa tạm cùng toàn bộ các vật dụng đến chư Đại đức Tăng. Mong các ngài hoan Hỉ thọ lãnh và tùy nghi sử dụng trong thời gian lưu trú”. Như vậy, nhà sư có thể mặc y và sử dụng các tiện nghi (điện, nước, nhà vệ sinh…) mà không bị ái ngại.
(Tuệ Ân sưu tầm)
Tham khảo thêm: https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/ariyesako/layguide.html
Trả Lại Thời Gian (Ns. Thanh Sơn)
Đây là bài hát của nhạc sĩ Thanh Sơn, được ông sáng tác giai đoạn trước năm 1975. Giai đoạn đó, hầu hết các sáng tác của Thanh Sơn đều là trữ tình lãng mạn. Nếu là người yêu thích nhạc của ông, chắc hẳn mọi người đều để ý được một đặc điểm rất nổi bật trong các bài hát do ông viết là ngoài phần nhạc không nói đến, phần ca từ bài hát rất thơ và nhiều lời ca cũng là một bài thơ trữ tình với những gieo vần nhuần nhuyễn. Trả lại thời gian cũng như vậy. Nếu chỉ xét phần lời, đây là một bài thơ hoàn chỉnh.
Thanh Sơn đã từng tâm sự rằng, bài hát là nỗi lòng của ông về một mối tình dang dở với một người con gái ông gặp ở Đà Lạt. Tuy là một mối tình ngắn ngủi nhưng lại là một mối tình để lại trong ông nhiều khắc khoải, tâm sự nhất, cũng là một mối tình mang biết bao day dứt, tuyệt vọng.
“Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui
Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi
Ngồi viết tâm sự nhớ ngược về quá khứ
Chợt lên nét suy tư
Bao năm thầm kín trót thương tà áo tím
Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim…”
Phần đầu của bài hát nói về thời điểm hiện tại và sự hiện diện của nỗi nhớ về mối tình năm xưa cùng những ký ức về những kỷ niệm buồn vui đã trải qua. Đặc biệt là câu cuối của phần đầu: Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim. Phải chăng là bởi vì nhạc sĩ gặp người con gái năm xưa đó trong chính màn sương lờ lững của xứ lạnh cho nên mỗi khi sương xuống, tim ông lại không thể ngăm được cơn sầu tựa như đổ xuống làm nghẹn ngào khắc khảo tâm can.
“Thương rất nhiều mái tóc xõa bờ vai
Tình khôn lớn nuôi chờ mong ôi quá dài
Lòng vẫn u hoài thấy chuyện tình đổi thay
Đời ai biết được ai
Chia ly là hết, xót xa nhiều cũng thế
Nếu mai sau gặp xin cúi mặt làm ngơ.”
Phần tiếp theo của bài hát, Thanh Sơn vẽ nên những nét tự sự về chuyện tình quá khứ. Người con gái với mái tóc dài ấy là hình ảnh kiều diễm dịu dàng đầy tính Việt Nam. “Mái tóc dài xõa bờ vai” để lại bao niềm thương nỗi nhớ. Nhưng chẳng phải đó là tình cảm hời hợt kiểu ong bướm si tình như ta thường thấy ở các nhạc sĩ. Đây là một thứ tình cảm bền chặt, thực tình hơn và chỉ với chữ THƯƠNG, ta biết được tác giả không chỉ là yêu đương thoảng qua mà thực tâm muốn gắn bó cuộc đời với người ấy. Chính câu hát tiếp theo nói rõ hơn về những ước đợi, chờ mong đến khi tình yêu chín muồi, “khôn lớn”. Tuy vậy, đời nào như mơ, chẳng biết vì điều gì, tình yêu đó rồi cũng đến lúc đổi thay mà chẳng ai biết rõ lý do. Đến lúc nhận ra thì nhạc sĩ phải bằng hoàng và u sầu rằng thứ tình cảm một thời đã không còn nữa. Cuộc đời là chốn vô thường mà, có thứ gì là tồn tại mãi được đâu. Tình yêu lại càng dễ thay đổi, lụy tàn. Cho dù có ai đó nỡ nặng tình rồi thì sau khi nói lời chia ly, mọi chuyện đã kết thúc. Có lẽ tác giả chính là người nặng tình đó, để rồi cho dù muốn hay không, người con gái ông thương cuối cùng cũng cất bước ra đi, cho dù có gặp lại cũng chỉ “cúi mặt làm ngơ”. “Cúi mặt làm ngơ” chẳng phải là hành động của cô gái ấy mà chính là điều mà tác giả tự dặn mình: cho dù còn vương vấn biết bao thì nếu có cơ may gặp lại, ông cũng sẽ cúi mặt làm ngơ để mọi dĩ vãng chôn vùi quá khứ. Ở trong câu này, có thể dùng nhiều từ thay thế như ngoảnh mặt làm ngơ, tuy nhiên, cúi mặt lại mang một sắc thái nói lên sự bất lực, cay đắng, ngậm ngùi. Chẳng phải là vô tình, chỉ là chẳng có đủ dũng cảm để đối diện lại với gương mặt người ta đã và đang thương nhớ nữa.
Cuộc đời dài rộng xa xăm, kiếp nhân sinh đầy khắc khoải. Thời gian thì chẳng bao giờ có thể ngừng lại, cũng như năm xưa khoảnh khắc yêu đương rồi cũng tan theo dòng chảy của tạo hóa. Những câu hát tiếp theo trong đoạn điệp khúc nói lên tình cảnh của một người yêu đơn phương người cũ. Giờ cô ấy đã trở thành “người nơi đó”, tình yêu thì cũng đã trở thành tình chia phôi. Ấy thế mà người ôm mộng chẳng thể quên đi, để nỗi nhớ thương vô vọng cứ dằn vặt ngày qua ngày. Tác giả nhiều lần tìm cách để quên đi lắm chứ, nhưng rồi đêm đến, tất cả mọi nỗ lực đều vô nghĩa, nỗi nhớ ấy chưa bao giờ vơi đi, lại sống lại sống động như chưa từng phôi pha. Đến mức tác giả vô vọng hỏi mình: “Biết cuộc đời mình ra sao?”. Biết sống làm sao khi cả đời sẽ ôm nặng một mối tuyệt tình này chứ?
Phần cuối cùng cũng là lời tạ từ của ông đối với dĩ vãng ấy:
“Ôm kỷ niệm chẳng nửa lời thở than
Một tâm khúc cho người thương, cho tiếng đàn
Đời đã không màng những gì mình mơ ước,
mà sao khó tìm quên?
Xa nhau thì nhớ lúc đến gần xao xuyến
Nhớ thương bây giờ xin trả lại thời gian.”
Tình yêu đâu phải là thử thách đâu mà nói đến chuyện đạt được hay không? Nó cũng chẳng phải một câu đố để tìm ra đáp án rõ ràng. Người ta biết rằng thật sự rất ngu khờ khi cứ ôm trọn mãi những kỷ niệm, ảo vọng quá khứ đó nhưng có tự nói với mình bao nhiêu lần hãy quên đi, người phụ tình, đời bạc bẽo ta cần chi phải níu kéo, ấy vậy mà có làm được đâu. “Đời đã không màng những gì mình mơ ước, mà sao khó tìm quên?”. Bóng người thương năm ấy giờ đã trở thành người dưng rồi ấy vậy mà ông vẫn cứ tương tư xa gần không thôi, cho dù chẳng thể giáp mặt, gặp nhau chỉ dám làm ngơ nhưng ông nào có thể lẫn bước đi được đâu, vẫn loanh quanh để nghe thấy trái tim mình còn xao xuyến nhiều lắm.
Câu hát cuối cùng là lời tạ từ với dĩ vãng mà dứt khoát lắm tác giả mới có thể nói ra. Ông nguyện xin gửi lại tất cả những nhớ thương, ký ức, niềm khổ đau tình yêu này lại cho thời gian. Ông nguyện sẽ không mang theo nói cho phần đời còn lại nữa. Nếu thời gian đã vô tình với tình yêu đến thế thì những dằn vặt này thời gian hãy giữ lấy đi, hãy giữ lấy đi để lòng người thanh thản. “Xin trả lại thời gian”
Một nhạc phẩm thật sâu lắng và khắc khoải.
(Theo Sơn Đoàn)
Như Quỳnh - Trả Lại Thời Gian (Thanh Sơn). Paris By Night 103 - Tình Sử Trong Âm Nhạc Việt Nam:
https://youtu.be/la_p7iSZb10
Thanh Sơn đã từng tâm sự rằng, bài hát là nỗi lòng của ông về một mối tình dang dở với một người con gái ông gặp ở Đà Lạt. Tuy là một mối tình ngắn ngủi nhưng lại là một mối tình để lại trong ông nhiều khắc khoải, tâm sự nhất, cũng là một mối tình mang biết bao day dứt, tuyệt vọng.
“Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui
Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi
Ngồi viết tâm sự nhớ ngược về quá khứ
Chợt lên nét suy tư
Bao năm thầm kín trót thương tà áo tím
Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim…”
Phần đầu của bài hát nói về thời điểm hiện tại và sự hiện diện của nỗi nhớ về mối tình năm xưa cùng những ký ức về những kỷ niệm buồn vui đã trải qua. Đặc biệt là câu cuối của phần đầu: Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim. Phải chăng là bởi vì nhạc sĩ gặp người con gái năm xưa đó trong chính màn sương lờ lững của xứ lạnh cho nên mỗi khi sương xuống, tim ông lại không thể ngăm được cơn sầu tựa như đổ xuống làm nghẹn ngào khắc khảo tâm can.
“Thương rất nhiều mái tóc xõa bờ vai
Tình khôn lớn nuôi chờ mong ôi quá dài
Lòng vẫn u hoài thấy chuyện tình đổi thay
Đời ai biết được ai
Chia ly là hết, xót xa nhiều cũng thế
Nếu mai sau gặp xin cúi mặt làm ngơ.”
Phần tiếp theo của bài hát, Thanh Sơn vẽ nên những nét tự sự về chuyện tình quá khứ. Người con gái với mái tóc dài ấy là hình ảnh kiều diễm dịu dàng đầy tính Việt Nam. “Mái tóc dài xõa bờ vai” để lại bao niềm thương nỗi nhớ. Nhưng chẳng phải đó là tình cảm hời hợt kiểu ong bướm si tình như ta thường thấy ở các nhạc sĩ. Đây là một thứ tình cảm bền chặt, thực tình hơn và chỉ với chữ THƯƠNG, ta biết được tác giả không chỉ là yêu đương thoảng qua mà thực tâm muốn gắn bó cuộc đời với người ấy. Chính câu hát tiếp theo nói rõ hơn về những ước đợi, chờ mong đến khi tình yêu chín muồi, “khôn lớn”. Tuy vậy, đời nào như mơ, chẳng biết vì điều gì, tình yêu đó rồi cũng đến lúc đổi thay mà chẳng ai biết rõ lý do. Đến lúc nhận ra thì nhạc sĩ phải bằng hoàng và u sầu rằng thứ tình cảm một thời đã không còn nữa. Cuộc đời là chốn vô thường mà, có thứ gì là tồn tại mãi được đâu. Tình yêu lại càng dễ thay đổi, lụy tàn. Cho dù có ai đó nỡ nặng tình rồi thì sau khi nói lời chia ly, mọi chuyện đã kết thúc. Có lẽ tác giả chính là người nặng tình đó, để rồi cho dù muốn hay không, người con gái ông thương cuối cùng cũng cất bước ra đi, cho dù có gặp lại cũng chỉ “cúi mặt làm ngơ”. “Cúi mặt làm ngơ” chẳng phải là hành động của cô gái ấy mà chính là điều mà tác giả tự dặn mình: cho dù còn vương vấn biết bao thì nếu có cơ may gặp lại, ông cũng sẽ cúi mặt làm ngơ để mọi dĩ vãng chôn vùi quá khứ. Ở trong câu này, có thể dùng nhiều từ thay thế như ngoảnh mặt làm ngơ, tuy nhiên, cúi mặt lại mang một sắc thái nói lên sự bất lực, cay đắng, ngậm ngùi. Chẳng phải là vô tình, chỉ là chẳng có đủ dũng cảm để đối diện lại với gương mặt người ta đã và đang thương nhớ nữa.
Cuộc đời dài rộng xa xăm, kiếp nhân sinh đầy khắc khoải. Thời gian thì chẳng bao giờ có thể ngừng lại, cũng như năm xưa khoảnh khắc yêu đương rồi cũng tan theo dòng chảy của tạo hóa. Những câu hát tiếp theo trong đoạn điệp khúc nói lên tình cảnh của một người yêu đơn phương người cũ. Giờ cô ấy đã trở thành “người nơi đó”, tình yêu thì cũng đã trở thành tình chia phôi. Ấy thế mà người ôm mộng chẳng thể quên đi, để nỗi nhớ thương vô vọng cứ dằn vặt ngày qua ngày. Tác giả nhiều lần tìm cách để quên đi lắm chứ, nhưng rồi đêm đến, tất cả mọi nỗ lực đều vô nghĩa, nỗi nhớ ấy chưa bao giờ vơi đi, lại sống lại sống động như chưa từng phôi pha. Đến mức tác giả vô vọng hỏi mình: “Biết cuộc đời mình ra sao?”. Biết sống làm sao khi cả đời sẽ ôm nặng một mối tuyệt tình này chứ?
Phần cuối cùng cũng là lời tạ từ của ông đối với dĩ vãng ấy:
“Ôm kỷ niệm chẳng nửa lời thở than
Một tâm khúc cho người thương, cho tiếng đàn
Đời đã không màng những gì mình mơ ước,
mà sao khó tìm quên?
Xa nhau thì nhớ lúc đến gần xao xuyến
Nhớ thương bây giờ xin trả lại thời gian.”
Tình yêu đâu phải là thử thách đâu mà nói đến chuyện đạt được hay không? Nó cũng chẳng phải một câu đố để tìm ra đáp án rõ ràng. Người ta biết rằng thật sự rất ngu khờ khi cứ ôm trọn mãi những kỷ niệm, ảo vọng quá khứ đó nhưng có tự nói với mình bao nhiêu lần hãy quên đi, người phụ tình, đời bạc bẽo ta cần chi phải níu kéo, ấy vậy mà có làm được đâu. “Đời đã không màng những gì mình mơ ước, mà sao khó tìm quên?”. Bóng người thương năm ấy giờ đã trở thành người dưng rồi ấy vậy mà ông vẫn cứ tương tư xa gần không thôi, cho dù chẳng thể giáp mặt, gặp nhau chỉ dám làm ngơ nhưng ông nào có thể lẫn bước đi được đâu, vẫn loanh quanh để nghe thấy trái tim mình còn xao xuyến nhiều lắm.
Câu hát cuối cùng là lời tạ từ với dĩ vãng mà dứt khoát lắm tác giả mới có thể nói ra. Ông nguyện xin gửi lại tất cả những nhớ thương, ký ức, niềm khổ đau tình yêu này lại cho thời gian. Ông nguyện sẽ không mang theo nói cho phần đời còn lại nữa. Nếu thời gian đã vô tình với tình yêu đến thế thì những dằn vặt này thời gian hãy giữ lấy đi, hãy giữ lấy đi để lòng người thanh thản. “Xin trả lại thời gian”
Một nhạc phẩm thật sâu lắng và khắc khoải.
(Theo Sơn Đoàn)
Như Quỳnh - Trả Lại Thời Gian (Thanh Sơn). Paris By Night 103 - Tình Sử Trong Âm Nhạc Việt Nam:
https://youtu.be/la_p7iSZb10
Đăng Đàn Cung
Giai điệu mà mình thích nghe từ thuở nhỏ trong các dịp tế lễ, ma chay ở dưới quê, giờ mới biết là Quốc ca của Triều Nguyễn!
http://loibaihat.mobi/loi-bai-hat/IWAEB8D0/dang-dan-cung-ban-dai-nhac.html
Theo trang Wikipedia:
Đăng đàn cung (chữ Hán: 登壇宮,diễn nghĩa: Giai điệu đăng đàn) là tên của quốc thiều thời nhà Nguyễn, có tiết tấu dựa trên ngũ cung.
Lịch sử
Khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã tổ chức ngay một nghi lễ triều chính cho công việc nhận tước vị này. Có một chuyên gia người Pháp tên là J.B. Chaigneau được lệnh nhà vua soạn thảo bản quốc thiều để sử dụng trong các đại lễ của triều đình. Ông đã dựa theo hình thức bản Marche Militaire để dựng lên bản "Đăng đàn cung" quốc thiều nhà Nguyễn.[cần dẫn nguồn]
Từ thời vua Gia Long trở đi, Đăng đàn cung còn được dùng mỗi khi vua du xuân hoặc khi xa giá từ Đại Nội lên đàn Nam Giao.
Sang thế kỷ 20 triều Khải Định, người trưởng ban nhạc trong Đại Nội bấy giờ là ông J. Tịnh (tức bác sĩ Nguyễn Đương Tinh) cho soạn lại Đăng đàn cung theo ký âm pháp của nhạc phương Tây để dễ sử dụng trong quân nhạc của Đại Nội. Theo Nguyễn Khoa Toàn, việc ký âm điệu Đăng đàn cung theo lối Tây phương làm cho bài hát nghe không còn hồn nhạc Việt Nam thuần túy.[cần dẫn nguồn]
Khi vua Bảo Đại hồi loan năm 1932, bản nhạc này đã được sử dụng để nghênh đón, đặc biệt lần này có thêm cả lời. Lời bài hát do Ưng Thiều soạn. Mấy câu mở đầu bài là:
Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu
Ngọn đường thông thương ngàn dặm
Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay...
Vào năm 1945, khi Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng của Đế quốc Việt Nam thì bài Đăng đàn cung vẫn được dùng làm quốc thiều và có dự định đặt lời mới nhưng chưa kịp thì chính phủ bị giải thể.
Kể từ sau thời gian trên thì bài Đăng Đàn Cung chỉ còn xuất hiện trong các đám tế lễ cổ truyền và ngày nay chúng ta còn được nghe mỗi khi có biểu diễn nhã nhạc Cung đình Huế hay trong Festival Huế 2004. Trong cuộc sống đời thường, trẻ em Huế thường hát theo điệu Đăng đàn cung nhưng với lời dân gian khác.
Dàn nhạc
Để thể hiện bài này, dàn nhạc triều Nguyễn phải dùng cả trống đại, trống con, xập xoã (cymbale), kèn, sáo và đàn hoà nhịp với nhau. Tiếng kèn và sáo là nổi trội nhất.
Phần ký âm
Phần ký âm bao gồm các nốt nhạc được đọc theo cách của người xưa như sau:
Họ phạn họ, xàng xê cống cống xê xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự họ phạn, họ
Xự họ phạn họ xự, xê xàng họ, phạn, họ
Xự họ phạn xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê.
Phần lời
Phần lời bài hát dưới đây lấy từ trong cuốn Hymnes et Pavillon d'Indochine.
Kìa... núi vàng bể bạc,
Có sách Trời, sách Trời, định phần:
Một dòng ta gầy non song vững-chặt.
Đã ba ngàn, mấy trăm năm,
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.
Văn-minh đào-tạo:
Màu gấm hoa càng đượm.
Rạng vẻ dòng-giống Tiên-Long.
Ấy, công gầy dựng,
Từ xưa đà khó-nhọc,
Nhớ công dày-nặng,
Lòng trung-quân đã sẵn.
Cố yêu nhau, với nhau một niềm
Nguyện nhà Việt Nam muôn đời thạnh-trị.
Lời sửa đổi
Lời bài hát do ông Nguyễn Phúc Ưng Thiều viết, dùng trong thập niên 1940:
1.
Dậy dậy dậy mở mắt xem toàn châu,
Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu.
Ngọn đường thông thương ngàn dặm, xe tàu điện, tàu nước, tàu bay.
Nghề khôn khéo chạy khắp phương trời,
Càng ngày văn minh càng rộng, tranh cạnh lợi quyền.
Đất càng ngày càng rộng, dân giàu nước mạnh.
Nước càng ngày càng thịnh, của có thêm người khôn.
2.
Người Nam Quốc, một giống Tiên Rồng,
Thiệt giòng giai nhân tài tử, xưa rày gọi là nước tài ba.
Nền văn hiến, nặn đúc anh hùng,
Sẵn tài thông minh trời dựng, thêm nghề học hành.
Học càng ngày càng tiến, nghề nghiệp mở rộng.
Nước càng giàu càng mạnh, nòi giống thêm vẻ vang.
3.
Này Âu Á, gặp lúc phong trào,
Sẵn thấy gia công rèn tập, trăm nghề nghiệp đều biết đều hay.
Đường tiến hóa chạy suốt Tam Kỳ,
Càng ngày non sông càng đẹp, cảm ơn bù trì.
Chúc Đại Pháp bình an, nước nhà thịnh trị,
Chúc Nam Việt vạn tuế, trường thọ vô cương.
Lời mới
Nguyễn Đình Thi năm 1945 cũng đặt lời cho bản này như sau:
Sông núi ta còn thắm nhường kia,
Chúng ta còn yêu đồng bào.
Gương người xưa, lòng ta há phút giây nào phai,
Đồng bào! Mau chung sức nhau nắm tay ta thề,
Yêu thương non nước, dìu dắt nâng cao nòi giống nước Nam nhà.
Chung sức và chung lòng, không ngại ngùng ta ra đời.
Tin tài ta, tin chắc nơi ngày mai...
Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nhạc sĩ Ngọc Phan đã hòa âm và soạn lại lời mới cho điệu "Đăng đàn cung", tựa đề "Non Sông Vang Câu Ca Mừng":
1.
Khắp đất trời quê ta rộn rã lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà.
Nhịp nhàng gái trai trẻ già, nắn cung đàn cùng hát lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà,
Đời vui ấm no muôn nhà, tiếng ca cùng hoà.
Khắp đất trời quê ta tiếng ca đậm đà.
2.
Các dân tộc Việt Nam cùng đón niềm vui,
Mừng đất nước rộn rã tiếng cười.
Bạn bè khắp nơi trao lời, chúc mừng đất nước đẹp tươi,
Mừng Thủ đô - Thành phố bao đời,
Sử xanh vẫn luôn rạng ngời chiến công tuyệt vời.
Bao bạn bè năm châu hát chung niềm vui.
3.
Đây đất trời Thăng Long, Rồng chiếu hiển linh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình.
Cùng nhau sống trong thanh bình, tô thêm màu mảnh đất đẹp xinh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình,
Cùng vui sống trong thanh bình, tiếng ca ngọt lành.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
4.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình,
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
Tham khảo
Đôi điều về Đăng đàn cung quốc thiều của triều Nguyễn, Thiện Mộc Lan, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(27), 2000.
Bài : dậy dậy dậy, mở mắt xem toàn châu ....... mới chính là bài Đăng đàn cung. Phật giáo Huế đã dùng nhạc này thay lời trong một đám rước ngày vía Thích ca mồng 8 tháng tư (vào khoảng năm 1933). Nó hay dùng trong các đám rước như Nam giao chẳng hạn.
Bài: Kìa núi vàng bể bac ....xuất hiện ở Huế dưới thời chính phủ Pétain. Nguyền khoa Toàn (hình như là tá lý Bộ Học) đã ra sức phổ biến bài này trong học sinh. Trước đó chỉ có quôc thiều Pháp (bài Marseillaiise) Để mị dân. trong lễ lược đều đánh 2 bài: Marseillaiise trước rồi Kìa núi vàng sau...Thậm chí lá trước đó là màu vàng có tam tài (xanh trắng đỏ) ở góc trên trong cũng được gỡ bỏ, chỉ còn màu vàng.
http://loibaihat.mobi/loi-bai-hat/IWAEB8D0/dang-dan-cung-ban-dai-nhac.html
Theo trang Wikipedia:
Đăng đàn cung (chữ Hán: 登壇宮,diễn nghĩa: Giai điệu đăng đàn) là tên của quốc thiều thời nhà Nguyễn, có tiết tấu dựa trên ngũ cung.
Lịch sử
Khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã tổ chức ngay một nghi lễ triều chính cho công việc nhận tước vị này. Có một chuyên gia người Pháp tên là J.B. Chaigneau được lệnh nhà vua soạn thảo bản quốc thiều để sử dụng trong các đại lễ của triều đình. Ông đã dựa theo hình thức bản Marche Militaire để dựng lên bản "Đăng đàn cung" quốc thiều nhà Nguyễn.[cần dẫn nguồn]
Từ thời vua Gia Long trở đi, Đăng đàn cung còn được dùng mỗi khi vua du xuân hoặc khi xa giá từ Đại Nội lên đàn Nam Giao.
Sang thế kỷ 20 triều Khải Định, người trưởng ban nhạc trong Đại Nội bấy giờ là ông J. Tịnh (tức bác sĩ Nguyễn Đương Tinh) cho soạn lại Đăng đàn cung theo ký âm pháp của nhạc phương Tây để dễ sử dụng trong quân nhạc của Đại Nội. Theo Nguyễn Khoa Toàn, việc ký âm điệu Đăng đàn cung theo lối Tây phương làm cho bài hát nghe không còn hồn nhạc Việt Nam thuần túy.[cần dẫn nguồn]
Khi vua Bảo Đại hồi loan năm 1932, bản nhạc này đã được sử dụng để nghênh đón, đặc biệt lần này có thêm cả lời. Lời bài hát do Ưng Thiều soạn. Mấy câu mở đầu bài là:
Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu
Ngọn đường thông thương ngàn dặm
Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay...
Vào năm 1945, khi Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng của Đế quốc Việt Nam thì bài Đăng đàn cung vẫn được dùng làm quốc thiều và có dự định đặt lời mới nhưng chưa kịp thì chính phủ bị giải thể.
Kể từ sau thời gian trên thì bài Đăng Đàn Cung chỉ còn xuất hiện trong các đám tế lễ cổ truyền và ngày nay chúng ta còn được nghe mỗi khi có biểu diễn nhã nhạc Cung đình Huế hay trong Festival Huế 2004. Trong cuộc sống đời thường, trẻ em Huế thường hát theo điệu Đăng đàn cung nhưng với lời dân gian khác.
Dàn nhạc
Để thể hiện bài này, dàn nhạc triều Nguyễn phải dùng cả trống đại, trống con, xập xoã (cymbale), kèn, sáo và đàn hoà nhịp với nhau. Tiếng kèn và sáo là nổi trội nhất.
Phần ký âm
Phần ký âm bao gồm các nốt nhạc được đọc theo cách của người xưa như sau:
Họ phạn họ, xàng xê cống cống xê xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự họ phạn, họ
Xự họ phạn họ xự, xê xàng họ, phạn, họ
Xự họ phạn xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê.
Phần lời
Phần lời bài hát dưới đây lấy từ trong cuốn Hymnes et Pavillon d'Indochine.
Kìa... núi vàng bể bạc,
Có sách Trời, sách Trời, định phần:
Một dòng ta gầy non song vững-chặt.
Đã ba ngàn, mấy trăm năm,
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.
Văn-minh đào-tạo:
Màu gấm hoa càng đượm.
Rạng vẻ dòng-giống Tiên-Long.
Ấy, công gầy dựng,
Từ xưa đà khó-nhọc,
Nhớ công dày-nặng,
Lòng trung-quân đã sẵn.
Cố yêu nhau, với nhau một niềm
Nguyện nhà Việt Nam muôn đời thạnh-trị.
Lời sửa đổi
Lời bài hát do ông Nguyễn Phúc Ưng Thiều viết, dùng trong thập niên 1940:
1.
Dậy dậy dậy mở mắt xem toàn châu,
Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu.
Ngọn đường thông thương ngàn dặm, xe tàu điện, tàu nước, tàu bay.
Nghề khôn khéo chạy khắp phương trời,
Càng ngày văn minh càng rộng, tranh cạnh lợi quyền.
Đất càng ngày càng rộng, dân giàu nước mạnh.
Nước càng ngày càng thịnh, của có thêm người khôn.
2.
Người Nam Quốc, một giống Tiên Rồng,
Thiệt giòng giai nhân tài tử, xưa rày gọi là nước tài ba.
Nền văn hiến, nặn đúc anh hùng,
Sẵn tài thông minh trời dựng, thêm nghề học hành.
Học càng ngày càng tiến, nghề nghiệp mở rộng.
Nước càng giàu càng mạnh, nòi giống thêm vẻ vang.
3.
Này Âu Á, gặp lúc phong trào,
Sẵn thấy gia công rèn tập, trăm nghề nghiệp đều biết đều hay.
Đường tiến hóa chạy suốt Tam Kỳ,
Càng ngày non sông càng đẹp, cảm ơn bù trì.
Chúc Đại Pháp bình an, nước nhà thịnh trị,
Chúc Nam Việt vạn tuế, trường thọ vô cương.
Lời mới
Nguyễn Đình Thi năm 1945 cũng đặt lời cho bản này như sau:
Sông núi ta còn thắm nhường kia,
Chúng ta còn yêu đồng bào.
Gương người xưa, lòng ta há phút giây nào phai,
Đồng bào! Mau chung sức nhau nắm tay ta thề,
Yêu thương non nước, dìu dắt nâng cao nòi giống nước Nam nhà.
Chung sức và chung lòng, không ngại ngùng ta ra đời.
Tin tài ta, tin chắc nơi ngày mai...
Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nhạc sĩ Ngọc Phan đã hòa âm và soạn lại lời mới cho điệu "Đăng đàn cung", tựa đề "Non Sông Vang Câu Ca Mừng":
1.
Khắp đất trời quê ta rộn rã lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà.
Nhịp nhàng gái trai trẻ già, nắn cung đàn cùng hát lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà,
Đời vui ấm no muôn nhà, tiếng ca cùng hoà.
Khắp đất trời quê ta tiếng ca đậm đà.
2.
Các dân tộc Việt Nam cùng đón niềm vui,
Mừng đất nước rộn rã tiếng cười.
Bạn bè khắp nơi trao lời, chúc mừng đất nước đẹp tươi,
Mừng Thủ đô - Thành phố bao đời,
Sử xanh vẫn luôn rạng ngời chiến công tuyệt vời.
Bao bạn bè năm châu hát chung niềm vui.
3.
Đây đất trời Thăng Long, Rồng chiếu hiển linh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình.
Cùng nhau sống trong thanh bình, tô thêm màu mảnh đất đẹp xinh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình,
Cùng vui sống trong thanh bình, tiếng ca ngọt lành.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
4.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình,
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
Tham khảo
Đôi điều về Đăng đàn cung quốc thiều của triều Nguyễn, Thiện Mộc Lan, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(27), 2000.
Bài : dậy dậy dậy, mở mắt xem toàn châu ....... mới chính là bài Đăng đàn cung. Phật giáo Huế đã dùng nhạc này thay lời trong một đám rước ngày vía Thích ca mồng 8 tháng tư (vào khoảng năm 1933). Nó hay dùng trong các đám rước như Nam giao chẳng hạn.
Bài: Kìa núi vàng bể bac ....xuất hiện ở Huế dưới thời chính phủ Pétain. Nguyền khoa Toàn (hình như là tá lý Bộ Học) đã ra sức phổ biến bài này trong học sinh. Trước đó chỉ có quôc thiều Pháp (bài Marseillaiise) Để mị dân. trong lễ lược đều đánh 2 bài: Marseillaiise trước rồi Kìa núi vàng sau...Thậm chí lá
Tuesday, October 9, 2018
Ca từ trong nhạc xưa: Trên dốc đá tôi tình cờ quen nàng...!
Cuộc gặp gỡ hy hữu giữa một nhóm nam và nữ ở thành phố biển Vũng Tàu đã làm nên tác phẩm độc đáo của một tác giả bí hiểm.
Từ năm 1966 – 1975, tại 102/8 Hai Bà Trưng (Tân Định, Sài Gòn) có lớp nhạc “Lê Minh Bằng” quy tụ hàng trăm học viên. Lớp nhạc này do 3 nhạc sĩ: Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng tổ chức và trực tiếp đứng lớp (Lê Minh Bằng là ghép từ tên của 3 người).
Chính “lò nhạc” này đã đào tạo được những ca sĩ nổi tiếng như: Kim Loan, Giáng Thu, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh (tác giả ca khúc Gõ cửa hiện sống ở Sài Gòn, không phải ca sĩ trẻ Mạnh Quỳnh ở hải ngoại), Hải Lý, Nhật Thiên Lan, Thu Thủy… Ngoài dạy nhạc, Lê Minh Bằng còn là bút danh chung của nhóm 3 nhạc sĩ này ký dưới những bài hát rất quen thuộc như: Hai mùa mưa, Lẻ bóng, Sầu lẻ bóng, Chuyện hai chúng mình, Đôi bóng, Tình đời…
Gặp gỡ “Mai – Bích – Dung”
Một ngày cuối tuần của năm 1970, ba nhạc sĩ rủ nhau đi ô tô ra Vũng Tàu chơi. Khi xe đến Bãi Trước, họ thấy ba cô gái mặc áo dài đi giữa trưa nắng nóng. Khi ấy nhạc sĩ Anh Bằng lái xe, nhạc sĩ Minh Kỳ ngồi phía trước, nhạc sĩ Lê Dinh ngồi ghế sau. Bất ngờ Minh Kỳ nói với Anh Bằng: “Bằng ơi, dừng xe lại cho ba cô đó lên đi chung với mình. Nắng như vầy mà 3 cô đi bộ tội nghiệp quá!”. Do tính hơi nhát, Anh Bằng bảo: “Thôi, ông đi mời đi, tôi không đi đâu”. Thấy 2 người bạn cứ đùn đẩy nên nhạc sĩ Minh Kỳ nói: “Thôi, dừng xe lại để tôi đi cho”.
Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Anh Minh Kỳ xuống xe và không biết ảnh nói gì với 3 cô đó mà trông 3 cô rất vui vẻ và họ đồng ý lên xe. Vì phía băng trước có anh Minh Kỳ ngồi, nên 3 cô phải ngồi ở băng sau với tôi. Tôi hỏi tại sao 3 cô đi bộ dưới nắng trưa như vậy, thì được biết cả 3 cô đều là sinh viên, đi Vũng Tàu tìm con sứa để về trường thí nghiệm. Rồi họ tự giới thiệu tên lần lượt là Mai (ngồi kế bên nhạc sĩ Lê Dinh), Bích và ngồi ngoài cùng là Dung”.
Cuộc gặp gỡ tình cờ đó rất ngắn ngủi, nhóm nam mời 3 cô ra Bãi Sau dùng cơm trưa. Ăn xong, 3 cô xuống mé biển tiếp tục tìm sứa. Và rồi họ ra Bến xe Vũng Tàu để trở về Sài Gòn.
Linh hồn tượng đá…
Đêm đó về khách sạn, nhạc sĩ Anh Bằng là người đề xướng viết bài hát Linh hồn tượng đá, lấy tên tác giả là Mai Bích Dung (tên của 3 cô gái ghép lại). Ngay đêm đó ca khúc ra đời với những ca từ: “Trên dốc đá tôi tình cờ quen nàng. Ngồi bên nhau, gọi tên nhau để rồi yêu nhau. Em đã đến và đã đến, như áng mây bay, như cánh chim qua bầu trời, ôi hình hài một vài giờ vui… (rồi nức nở) Em ơi, em ơi… Thời gian gặp gỡ nào được bao nhiêu, mà khi rời gót lòng đầy cô liêu, nên xa em rồi, tôi nhớ em nhiều… Em ơi, em ơi… Thà không gặp gỡ, thà đừng quen nhau, đừng cho hình bóng, đừng nhìn nhau lâu, tôi không ôm ấp kỷ niệm đớn đau…”.
Sau khi nhạc phẩm được in ra, nhạc sĩ Anh Bằng đích thân mang đến ngôi trường các cô đang học, tặng mỗi người một bản Linh hồn tượng đá còn thơm mùi mực in và có chữ ký của cả 3 chàng nhạc sĩ hào hoa. Từ một cái duyên đưa đẩy mà một tình khúc lãng mạn đã ra đời… Cũng cần nói thêm, nhóm nhạc sĩ này còn lấy nhiều “tên chung” khác ký dưới nhiều bản nhạc như: Chuyện tình Lan và Điệp 1, 2, 3 (ký tên Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh), Cô hàng xóm (Giang Minh Sơn), Đà Lạt hoàng hôn (Dạ Cầm), Mưa trên phố Huế (Tôn Nữ Thụy Khương) hoặc các tên khác như: Vũ Chương, Dạ Ly Vũ, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Phương Trà, Huy Cường, Mặc Vũ…
Tuy là ký tên chung Lê Minh Bằng nhưng hầu hết đều do Anh Bằng sáng tác, các nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý, sửa sang một vài lời ca, thêm bớt vài chi tiết. Nhưng với sự thân thiết và tôn trọng lẫn nhau nên những sáng tác này đều được ký tên chung: Lê Minh Bằng.
Điều thú vị là 3 thành viên của nhóm này, mỗi người sinh trưởng từ một miền của đất nước (Bắc – Trung – Nam): Nhạc sĩ Anh Bằng tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1925 tại Thanh Hóa (ông mất năm 2015 tại California, Mỹ). Nhạc sĩ Minh Kỳ tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, sinh năm 1930 tại Nha Trang (ông vốn thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, ông mất năm 1976). Nhạc sĩ Lê Dinh tên thật Lê Văn Dinh, sinh năm 1934 tại Gò Công, hiện sinh sống tại Montreal, Canada.
Còn 3 cô gái ngày xưa? Được biết sau mấy mươi năm bây giờ cô Mai (tên thật Mai Xuân Lan) hiện đang ở tiểu bang Ohio (Mỹ). Cô Bích đang cư ngụ tại tiểu bang Arizona (Mỹ). Cô Dung (tên thật Lưu Dung Anh) đang sống ở TP.HCM, chơi rất thân với giới văn nghệ sĩ xưa.
Theo Thanh Niên
(Nguồn: https://nhacxua.vn/ca-tu-trong-nhac-xua-tren-doc-da-toi-tinh-co-quen-nang/)
Nghe bài hát: Linh hồn tượng đá. Ca sĩ: Đan Nguyên
Wednesday, May 27, 2015
10 Reasons You Need to Go to Myanmar
I’ve been traveling around
Asia for over three years, but it wasn’t until recently that I traveled to Myanmar , also known as Burma . And I will say it right now:
It’s an insane, beautiful, challenging, and hilarious country, and it simply
blew my mind. Whenever I meet backpackers, I always say to them, “You have to go to Myanmar . It’s a life-changing
experience.” Many people skip Myanmar
for the easier, well-known backpacker route, which begins in Thailand and then goes through Laos , Cambodia ,
and Vietnam .
But in my opinion, Myanmar
offers more than all of the other countries of Southeast
Asia thrown together. Here’s why.
1. The people are so, so
kind.
For true hospitality, travel
to Myanmar .
Out of all of the Asians I’ve met, the people in Myanmar are the kindest, most
friendly people. They’re willing to go above and beyond to be friends with you,
help you out, and make sure you are having a great time in their country. They
always seem to be happy, smiling, and keen to practice their English over a
glass of tea.
They can be quite shy
people, as they are extremely polite, but once you get to know them, they open
up. Kids, however, tend to be the exception to the rule. They will run up to
you to practice their English, and unlike the rest of Asia ,
they never hassled me for money. The people of Myanmar left a lasting impression
on me. I felt as though I could truly trust them, and I made some incredible
connections with locals I met along the way.
2. The temple ruins are
amazing.
When most people think of
lost cities, they immediately think of Angor Wat in Cambodia ,
or maybe Hampi in India .
But the ruins of Bagan in central Myanmar are without a doubt the
most stunning, least-touristy ruins I have ever seen. I spent an incredible few
days there, exploring the area by bike, watching the sun set over Bagan’s
temple-studded plains, and making friends with the local kids out to practice
their English. For the true adventurer, you can head even deeper into the
country’s largely unexplored regions and visit the stunning temple ruins at
Mrauk Au. They are so remote that you will probably have them all to yourself.
3. There is room to truly
explore.
The people I met in remote
communities in the Shan highlands had often not seen another westerner for
months or even years. And while I was exploring the south of the country, I
came across a huge field of painted Buddha statues. Some were cracked and
covered by the jungle; others looked freshly painted. Who built them, painted
them, and maintained them? I have absolutely no idea. And that is why I love Myanmar .
4. The hiking is incredible.
Trekking in Myanmar is a
relatively new activity, but tour agencies are already stepping up to cater
toward adventurous backpackers. Most backpackers opt for a two-day trek around
the stilt villages of Inle
Lake , but for an even
more remote experience, head deep into the Shan highlands, or south to Hp-Pan.
Here, you can summit
jungle-clad limestone peaks — many of which are topped by small monasteries —
and soak in some spectacular views. Trekking in Myanmar is a really amazing
experience. I met colorful freshwater crabs, hiked through mist-draped forests,
and shared tea with novice monks who spoke no English, but always seemed happy
to see me.
5. There are monks. Lots of
monks.
Speaking of monks, it’s
pretty hard to travel in Myanmar
without meeting a few amazing ones. I had some very heady discussions with
monks I met in temples, on buses, in the street, and even while riding my
bicycle. The monks are a friendly bunch, and they’d often ask me all kinds of
questions, from what life is like outside Myanmar to spirituality to football
(yes, football!).
A monk told me that monks
make up one percent of Myanmar ’s
entire population, and they certainly do seem to be everywhere. One experience
in particular stands out. While I was trekking, I met a shy monk who was
working on repairing a temple wall. We chatted for a while, and I spent an hour
or so helping him. Then, he offered me tea and we talked even more. Because of
that experience, I came away with a much richer understanding of what Buddhism
is all about.
6. The food is delicious.
“Really? The food’s okay?”
you may ask. Yes, food is better than okay. The cuisine in Myanmar is some of the best in Asia .
Sure, there may not be many Burmese restaurants outside of Myanmar , but
that’s largely because the country has been shut off from the rest of the world
for so long. The food is an eclectic mix of Thai, Chinese, and Indian cuisine,
and basically includes all the best bits from each.
A couple dishes to look out
for:
*Gyin Thohk: tasty ginger
salad with sesame seeds.
*Kat Kyi Hnyat: the Burmese
answer to Pad Thai. It’s a gorgeous coastal dish that consists of rice noodles,
seafood, meats, raw bean sprouts, and fried eggs.
*Danbauk: a tasty
Indian-inspired curry served with mango pickle, fresh mint, and green chili.
*Shan Tofu: awesome homemade
tofu from the Shan highlands.
7. The beer is cheap. And
good.
I have made it a personal
mission to sample as many local beers throughout the world as I possibly can.
And so far, Myanmar Beer is without a doubt my favorite brand. For just 50 cents,
you can have a cool, refreshing, tap-drawn beer in an iced glass. For five
bucks, you can get well and truly merry. Mandalay Beer makes a tasty
alternative if you get sick of Myanmar Beer, but I can almost guarantee you
won’t.
8. The beaches!
Most backpackers are not yet
aware that Myanmar
has some of the most beautiful beaches and islands in the world. Until
recently, these palm-fringed, white-sand playgrounds were off limits unless you
had a super-yacht handy, but this is changing fast. Every week, more and more
restrictions are being lifted.
Now is the perfect time to
travel to Myanmar
and hunt for your dream island. Think coral blue waters, coconut cocktails, and
perfect sandy beaches. There are over 800 empty islands in Myanmar ’s
Mergui archipelago, which means that now is a great time to head out on a kayak
or boat and discover paradise in the ocean.
9. It has really cool caves.
When I’m traveling, I’m
always looking for adventurous ways to keep myself busy, whether it’s living in
a cave with a Bedouin or mountain biking through the jungles of Laos . In Myanmar , there
are a ton of activities for the adventurous traveler, but one of the best has
got to be exploring some of its huge caves.
Many of these are not
covered by any guidebook; it’s simply a case of asking around and seeing if
there are any cool caves nearby. One of the biggest caves that I visited was in
the south of the country, and was filled with huge Buddha images and statues as
well as some beautiful rock formations. I walked through it for over an hour
before I emerged on the other side to find a hidden lake framed by a backdrop
of limestone mountains. To this day, that is still one of the most beautiful
things I have ever discovered while backpacking.
10. It’s changing fast.
However, as the country
continues to open up and as investments and travelers alike continue to pour
in, it is only a matter of time before some of Myanmar ’s most enchanting
attractions become diluted. Luckily, the country is so big that there is still
plenty of room, and plenty of wild places left for backpackers to explore. So
do not hesitate. Visit this incredible land now, meet the wonderful people,
have a beer (or three) and explore until your heart’s content.
By Will Hatton.
Subscribe to:
Posts (Atom)




