Monday, May 6, 2019

Một gia đình hưng vượng cần có 4 yếu tố

Hoàng tộc Nhật Bản. Ảnh: Wikipedia

Có câu nói rằng: “Cuộc đời con người, thành công lớn nhất không ngoài sự thành công của hôn nhân, hạnh phúc lớn nhất không ngoài hạnh phúc gia đình”. Gia đình hòa thuận, hưng vượng là điều mà ai ai cũng mong mỏi, là phúc báo mà mọi người đều muốn có. Vậy đâu là điều cốt yếu để gia đình có được phúc báo ấy? Dưới đây là 4 yếu tố đảm bảo gia đình hưng vượng lâu dài.

Thiện lương
Thiện lương có thể dưỡng đức. Phong thủy tốt nhất của một gia đình chính là thiện lương.
Trong Luận Ngữ, Khổng Tử giảng: “Kỷ dục lập nhi lập nhân, kỷ dục đạt nhi đạt nhân”, tức là những gì mình muốn lập thì cũng nên lập cho người khác, những gì mình muốn đạt thì cũng nên cho người khác đạt được. Bởi vậy, muốn người khác đối đãi tử tế với mình thì trước tiên phải đối đãi tử tế với người.
Có câu chuyện kể rằng, có một người nông dân sở hữu một loại giống ngô có phẩm chất tốt. Hàng năm, ông ta đều nhận được giải thưởng người sở hữu giống ngô tốt nhất. Điều khiến mọi người khó tin là người nông dân này đã sẵn sàng hào phóng phân phát giống ngô này cho những người nông dân khác.
Có một người đem thắc mắc này hỏi ông ta: “Vì sao ông lại dễ dàng phân phát giống ngô tốt của mình cho người khác như vậy?”
Người nông dân trả lời: “Bạn đối tốt với người khác, kỳ thực là đối tốt với bản thân mình! Hoa ngô trong quá trình thụ phấn nhờ gió thổi, nếu như ngô của những nhà xung quanh đều có phẩm chất kém thì chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến chất lượng ngô của tôi. Bởi vậy, tôi sẵn sàng phân phát giống ngô tốt của mình cho mọi người, vừa là để tốt cho mọi người nhưng cũng chính là tốt cho bản thân mình!”
Cổ ngữ nói: “Phúc báo ở phía sau.” Người hiền lành có thể trước mắt chịu thiệt, nhưng tương lai của họ sẽ có phúc trạch thâm hậu, thậm chí có thể tạo phúc cho con cháu.
Nuôi dưỡng con trẻ cũng giống như việc trồng cây. Chỉ có lấy phẩm đức làm chất dinh dưỡng để tưới, con trẻ liền có thể có được tương lai tốt đẹp giống như cây xanh nhờ chất dinh dưỡng mà mọc lên tươi tốt, cành lá xum xuê.
Nhẫn nhịn
Nhẫn nhịn là cách dưỡng phúc.
Có một cặp vợ chồng, họ đã chung sống hòa thuận cùng nhau mấy chục năm, trải qua biết bao khó khăn mưa gió. Người chồng hiện đã trở thành lãnh đạo của một công ty lớn. Một lần, cả hai vợ chồng họ cùng đến dự lễ cưới của một nhân viên cấp dưới.
Có một cậu thanh niên hỏi hai vợ chồng họ bí quyết giữ gìn hạnh phúc hôn nhân mấy chục năm qua.
Người chồng vừa cười vừa trả lời: “Bí quyết chỉ có một chữ: Nhẫn”.
Người vợ đứng bên cạnh người chồng, nói thêm một câu: “Thêm một chữ: Nhịn nữa”.
Quả thực, vợ chồng chung sống cùng nhau dưới một mái nhà, sao tránh được những vấp váp, mâu thuẫn xảy ra. Thế nên, giữa vợ chồng với nhau, phải biết nhường nhịn. Người xưa có câu: “Tu trăm năm mới đi chung một chuyến thuyền, tu ngàn năm mới nên duyên vợ chồng”. Nhân sinh một đời, có thể ở chung trọn đời trọn kiếp là việc không hề dễ dàng gì. Vậy nên, biết trân trọng tình cảm của nhau thì hôn nhân mới có thể lâu bền, hạnh phúc gia đình mới được lâu dài.
Gia đình là nơi để yêu thương, không phải là nơi để nói lý hay tranh luận đúng sai, ai là người có lỗi… Bởi tranh cãi dẫu đúng sai rõ ràng rồi thì tình yêu thương cũng sẽ vơi dần, thậm chí không còn nữa. Gia đình là bến cảng của các thành viên, có thể khoan dung và nhường nhịn lẫn nhau, mới là bí quyết để gia đình mãi hòa thuận.
Chuyên cần
Chăm chỉ chuyên cần là cách phát tài.
Ngày nay, nhiều gia đình sinh một con, vậy nên cha mẹ thường ra sức nuông chiều và thỏa mãn nhu cầu của con cái. Cha mẹ thường sợ con mình sẽ phải chịu khổ, chịu mệt… Kết quả là dưỡng thành những đứa trẻ không biết chăm chỉ làm việc, không nguyện ý chịu trách nhiệm.
Những đứa trẻ này thường chỉ biết ỷ lại vào cha mẹ, hơn nữa trở nên ham hư vinh và lười biếng làm việc. Chúng khi còn bé ở nhà thì cái gì cũng không làm, ngửa tay là được cho tiền, khi trưởng thành cũng vẫn như cũ, sẽ không thể tự lực cánh sinh, gánh vác cuộc sống của mình.
Tăng Quốc Phiên từng nói, một gia đình có hưng thịnh hay không chỉ cần nhìn vào ba điểm dưới đây là biết rõ:
Thứ nhất: Nhìn xem con cháu ngủ đến mấy giờ. Nếu như ngủ đến lúc mặt trời lên cao mới bắt đầu dậy thì gia đình này đang từ từ lười biếng mà đi xuống.
Thứ hai: Nhìn xem con cháu trong nhà có chăm chỉ làm việc hay không? Bởi vì thói quen làm việc sẽ ảnh hưởng đến cả cuộc đời của một người.
Thứ ba: Nhìn xem con cháu có thường đọc sách kinh điển của các bậc cao nhân thánh hiền hay không? Bởi vì người không học sẽ không hiểu nghĩa và không biết đạo lý.
Khiến cho con trẻ có thể tự mình cố gắng, tự mình đi làm việc, giúp con hiểu được ‘chuyên cần và nỗ lực’, đây mới là món quà tốt nhất mà cha mẹ nên dành tặng cho con, cũng là hành trang đảm bảo nhất để con bước vào đời.
Đọc sách
Đọc sách thánh hiền là cách bồi dưỡng đức hạnh.
Đối với một gia đình mà nói, không có thói quen nào tốt hơn thói quen đọc sách. Thông qua đọc sách, chúng ta có thể “làm bạn” với các nhà hiền triết, tìm thấy câu trả lời cho những nghi hoặc trên con đường nhân sinh. Đọc sách không chỉ giúp chúng ta có thêm tri thức, mở mang trí tuệ mà còn giúp chúng ta thay đổi thế giới quan và nhân sinh quan.
Gia tộc họ Bùi ở Văn Hỷ, Sơn Tây, Trung Quốc là một ví dụ. Gia tộc này đã kế thừa và phát huy truyền thống đọc sách tới 2.000 năm lịch sử, và trở thành đại thế gia đầu tiên lừng danh nhất trong lịch sử Trung Hoa. Theo tổng kết trong “Gia phả của họ Bùi”, gia tộc họ Bùi từ khi bắt đầu ra đời đã sinh ra 59 vị tể tướng, 59 vị đại tướng quân và có hơn 3.000 người được ghi danh sử sách …
Một trong những bí quyết của gia tộc họ Bùi chính là giáo dục việc đọc sách. Bùi gia cho rằng, đọc sách mới hiểu được đạo lý: Con người không đọc sách, không biết đạo lý, cũng chỉ như con trâu con bò chỉ biết kéo xe. Học mà không hành thì cũng không đủ.
Bùi gia còn có một quy tắc, đó là nếu người nào không thi đỗ tú tài thì không được bước chân vào từ đường của dòng họ. Vậy nên, trong gia tộc họ Bùi, từ trên xuống dưới, vô luận là nam hay nữ, già hay trẻ, cả gia tộc đều có một thói quen đọc sách, yêu thích đọc sách. Những thành viên trong gia tộc họ Bùi nhờ vậy mà ngày càng phát triển hưng thịnh, tích đức hành thiện luôn đi đôi với phát triển sự nghiệp. Điều này là vô cùng hiếm thấy trong lịch sử.

An Hòa
(Theo TrithucVN.net)

Saturday, December 1, 2018

Những giới luật mà người cư sĩ Phật tử cần biết khi hộ độ chư Tăng


1. Tất cả các đồ ăn, thức uống đều phải được dâng (trừ nước lọc và tăm xỉa răng không nhất thiết phải dâng tận tay chư Tăng). Khi dâng không đứng quá xa, tránh để cho chư Tăng khỏi với tay.

2. Đồ ăn, thức uống đã dâng cho chư Tăng, nếu cư sĩ đụng vào thì phải dâng lại mới hợp lệ.

3. Thuốc trị bệnh có thành phần đường chỉ được giữ tối đa bảy ngày. Nếu trong thuốc không có đường thì được giữ lâu dài.

4. Có năm loại được coi là thuốc, được phép dùng vào buổi chiều (sau 12g trưa) và được giữ tối đa bảy ngày là: Bơ lỏng, bơ đặc, dầu, mật ong và đường.

5. Cà phê không đường, sữa hoặc sô cô la được phép dùng vào buổi chiều (theo truyền thống Thái Lan).

6. Không được uống trà vào buổi chiều (theo truyền thống Miến Điện).

7. Chư Tăng được phép xả đồ không dùng đến cho cha mẹ hoặc người hộ Tăng (kappiya).

8. Không mượn vật dụng của chư Tăng dùng cho cá nhân.

9. Chư Tăng được phép xin hoặc yêu cầu người thân trong gia đình trong phạm vi 7 đời (cả bên nội lẫn bên ngoại) hoặc người đã tác bạch thỉnh mời. Chẳng hạn có người thỉnh rằng: “Nếu Sư cần loại thuốc nào trong ba tháng hạ thì con xin cúng dường” hay “Nếu Sư có cần đi đâu, con xin thu xếp xe”. Như vậy, nhà sư có thể yêu cầu khi có nhu cầu.

10. Chư Tăng không được phép yêu cầu đồ ăn trừ khi có bệnh và không được phép cất giữ đồ ăn qua đêm – để nhấn mạnh sự phụ thuộc của nhà sư đối với hàng cư sĩ, và mặt khác giúp cho nhà sư không bị dính mắc vào các đồ ăn mà mình ưa thích.

11. Không nên hỏi nhà sư muốn ăn món gì. Người xuất gia phải là người dễ nuôi, có thể bất kỳ vật thực nào nhận được, không phải là người kén chọn. Muốn có đồ ăn chay hay bất kỳ đồ ăn nào cũng là đòi hỏi, trừ trường hợp có bệnh.

12. Có tám vật dụng cơ bản của một vị sư gồm: Tam y (y thường, y nội và Y Tăng già lê), bát, dao cạo, kim chỉ, dây lưng và đồ lọc nước.

13. Trái cây trước khi dâng phải làm theo luật bằng cách đốt, khía bằng dao hoặc móng tay hay bỏ hết hạt.

14. Chư Tăng không được phép trực tiếp nhận tiền bạc. Người muốn cúng dường phải nói trước: “Ai là người hộ tăng (kappiya) cho sư?”. Sau khi gửi tứ vật dụng (tiền) cho người kappiya, thí chủ quay trở lại tác bạch rằng: “Con đã cúng dường tứ vật dụng cho sư trị giá… hiện nay người hộ tăng của sư đang cất giữ. Bất cứ khi nào có nhu cầu gì, thỉnh sư yêu cầu người hộ tăng để thu xếp”. Hoặc người hộ tăng sẽ thay mặt thí chủ cúng dường để tác bạch. Chỉ sau khi được tác bạch thì vị sư mới được yêu cầu.

15. Chư Tăng không được phép ngồi chung với nữ nhân trong chỗ khuất.

16. Một số sư có hạnh nguyện chỉ ăn trong bát các đồ ăn sau khi đã nhận. Tất cả cơm, thức ăn, bánh, trái cây đều được cho vào trong bát (không ăn đồ ăn dâng thêm sau đó).

17. Nhà sư không được phép nhận lời nếu thí chủ thỉnh mời tới thọ trai mà có nói tên đồ ăn, ví dụ nói: “Xin thỉnh quý sư dùng phở/ bún chả/ bữa cơm” là không hợp lệ. Chỉ nên nói: “Xin thỉnh quý sư đến trai tăng/ thọ trai”.

Nói chung, không dùng các từ như “cơm, bánh” hoặc tên các món ăn cụ thể khi thỉnh mời các vị sư đến trai tăng, có thể nói như trên hoặc đơn giản là: “Xin thỉnh sư đi thọ thực”.

18. Có thể ở qua đêm chung mái nhà với chư Tăng nếu có tường ngăn hoặc lối đi riêng.

19. Thí chủ có tác bạch hộ độ chư Tăng theo kỳ hạn hoặc không kỳ hạn.

20. Không dâng đồ ăn, vật thực phi thời (sau 12g trưa), trừ nước ép một số trái cây đã lọc hết xác, tép (nước mía, cam, bưởi…). Nước hoa quả đó chỉ còn lại nước trong là hợp lệ.

21. Không nên chạm trực tiếp hoặc gián tiếp vào chư Tăng.

22. Có bốn yếu tố để việc cúng dường thành tựu từ phía thí chủ:

i. Giữ giới trong sạch (năm giới hoặc tám giới).

ii. Vật cúng dường có được do làm ăn lương thiện.

iii. Tâm trong sạch (không xuất phát từ việc mưu cầu hoặc tâm tham).

iv. Có đức tin nơi Tam bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp.

23. Không dâng đồ ăn trước khi mặt trời mọc (mùa hè khoảng 5g30, mùa đông khoảng 6g). Một cách để kiểm tra thời gian hợp lệ là thấy rõ chỉ tay vào sớm bình minh.

24. Một vị Sư đang nhập hạ được phép đi không quá 7 ngày. Tuy nhiên, nếu Phật tử hay người bất kỳ nào yêu cầu: “Xin thỉnh pháp Sư đến nói pháp” thì vị sư được phép ra đi hợp lệ.

25. Một vị sư thuyết pháp, nói đạo cần sự có mặt của ít nhất của một nam cư sĩ.

26. Khi Tỳ khưu thấy người ta giết thịt con vật cho mình ăn, hoặc nghe thấy tiếng con vật kêu, hoặc nghi người ta giết con vật đó cho mình ăn thì không được thọ dụng thịt đó.

27. Tỳ khưu không nhận thịt sống, thịt tái. Có mười loại thịt Tỳ khưu không được ăn là: Thịt người, thịt hổ, báo, rắn, voi, ngựa, gấu, chó, sư tử, mèo rừng (để tránh bị chúng ngửi thấy mùi đồng loại và tấn công khi tỳ khưu ở rừng hoặc đi khất thực và tránh thế gian chê trách).

28. Khi thỉnh sư đến tư gia lưu trú, cần tác bạch như sau: “Chúng con xin dâng cúng tư gia này được coi là ngôi chùa tạm cùng toàn bộ các vật dụng đến chư Đại đức Tăng. Mong các ngài hoan Hỉ thọ lãnh và tùy nghi sử dụng trong thời gian lưu trú”. Như vậy, nhà sư có thể mặc y và sử dụng các tiện nghi (điện, nước, nhà vệ sinh…) mà không bị ái ngại.

(Tuệ Ân sưu tầm)

Tham khảo thêm: https://www.accesstoinsight.org/lib/authors/ariyesako/layguide.html

Trả Lại Thời Gian (Ns. Thanh Sơn)

Đây là bài hát của nhạc sĩ Thanh Sơn, được ông sáng tác giai đoạn trước năm 1975. Giai đoạn đó, hầu hết các sáng tác của Thanh Sơn đều là trữ tình lãng mạn. Nếu là người yêu thích nhạc của ông, chắc hẳn mọi người đều để ý được một đặc điểm rất nổi bật trong các bài hát do ông viết là ngoài phần nhạc không nói đến, phần ca từ bài hát rất thơ và nhiều lời ca cũng là một bài thơ trữ tình với những gieo vần nhuần nhuyễn. Trả lại thời gian cũng như vậy. Nếu chỉ xét phần lời, đây là một bài thơ hoàn chỉnh.

Thanh Sơn đã từng tâm sự rằng, bài hát là nỗi lòng của ông về một mối tình dang dở với một người con gái ông gặp ở Đà Lạt. Tuy là một mối tình ngắn ngủi nhưng lại là một mối tình để lại trong ông nhiều khắc khoải, tâm sự nhất, cũng là một mối tình mang biết bao day dứt, tuyệt vọng.

“Xin trả lại những kỷ niệm buồn vui
Ngày xanh đã theo thời gian qua mất rồi
Ngồi viết tâm sự nhớ ngược về quá khứ
Chợt lên nét suy tư
Bao năm thầm kín trót thương tà áo tím
Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim…”

Phần đầu của bài hát nói về thời điểm hiện tại và sự hiện diện của nỗi nhớ về mối tình năm xưa cùng những ký ức về những kỷ niệm buồn vui đã trải qua. Đặc biệt là câu cuối của phần đầu: Những đêm sương lạnh nghe trái sầu rớt vào tim. Phải chăng là bởi vì nhạc sĩ gặp người con gái năm xưa đó trong chính màn sương lờ lững của xứ lạnh cho nên mỗi khi sương xuống, tim ông lại không thể ngăm được cơn sầu tựa như đổ xuống làm nghẹn ngào khắc khảo tâm can.

“Thương rất nhiều mái tóc xõa bờ vai
Tình khôn lớn nuôi chờ mong ôi quá dài
Lòng vẫn u hoài thấy chuyện tình đổi thay
Đời ai biết được ai
Chia ly là hết, xót xa nhiều cũng thế
Nếu mai sau gặp xin cúi mặt làm ngơ.”

Phần tiếp theo của bài hát, Thanh Sơn vẽ nên những nét tự sự về chuyện tình quá khứ. Người con gái với mái tóc dài ấy là hình ảnh kiều diễm dịu dàng đầy tính Việt Nam. “Mái tóc dài xõa bờ vai” để lại bao niềm thương nỗi nhớ. Nhưng chẳng phải đó là tình cảm hời hợt kiểu ong bướm si tình như ta thường thấy ở các nhạc sĩ. Đây là một thứ tình cảm bền chặt, thực tình hơn và chỉ với chữ THƯƠNG, ta biết được tác giả không chỉ là yêu đương thoảng qua mà thực tâm muốn gắn bó cuộc đời với người ấy. Chính câu hát tiếp theo nói rõ hơn về những ước đợi, chờ mong đến khi tình yêu chín muồi, “khôn lớn”. Tuy vậy, đời nào như mơ, chẳng biết vì điều gì, tình yêu đó rồi cũng đến lúc đổi thay mà chẳng ai biết rõ lý do. Đến lúc nhận ra thì nhạc sĩ phải bằng hoàng và u sầu rằng thứ tình cảm một thời đã không còn nữa. Cuộc đời là chốn vô thường mà, có thứ gì là tồn tại mãi được đâu. Tình yêu lại càng dễ thay đổi, lụy tàn. Cho dù có ai đó nỡ nặng tình rồi thì sau khi nói lời chia ly, mọi chuyện đã kết thúc. Có lẽ tác giả chính là người nặng tình đó, để rồi cho dù muốn hay không, người con gái ông thương cuối cùng cũng cất bước ra đi, cho dù có gặp lại cũng chỉ “cúi mặt làm ngơ”. “Cúi mặt làm ngơ” chẳng phải là hành động của cô gái ấy mà chính là điều mà tác giả tự dặn mình: cho dù còn vương vấn biết bao thì nếu có cơ may gặp lại, ông cũng sẽ cúi mặt làm ngơ để mọi dĩ vãng chôn vùi quá khứ. Ở trong câu này, có thể dùng nhiều từ thay thế như ngoảnh mặt làm ngơ, tuy nhiên, cúi mặt lại mang một sắc thái nói lên sự bất lực, cay đắng, ngậm ngùi. Chẳng phải là vô tình, chỉ là chẳng có đủ dũng cảm để đối diện lại với gương mặt người ta đã và đang thương nhớ nữa.

Cuộc đời dài rộng xa xăm, kiếp nhân sinh đầy khắc khoải. Thời gian thì chẳng bao giờ có thể ngừng lại, cũng như năm xưa khoảnh khắc yêu đương rồi cũng tan theo dòng chảy của tạo hóa. Những câu hát tiếp theo trong đoạn điệp khúc nói lên tình cảnh của một người yêu đơn phương người cũ. Giờ cô ấy đã trở thành “người nơi đó”, tình yêu thì cũng đã trở thành tình chia phôi. Ấy thế mà người ôm mộng chẳng thể quên đi, để nỗi nhớ thương vô vọng cứ dằn vặt ngày qua ngày. Tác giả nhiều lần tìm cách để quên đi lắm chứ, nhưng rồi đêm đến, tất cả mọi nỗ lực đều vô nghĩa, nỗi nhớ ấy chưa bao giờ vơi đi, lại sống lại sống động như chưa từng phôi pha. Đến mức tác giả vô vọng hỏi mình: “Biết cuộc đời mình ra sao?”. Biết sống làm sao khi cả đời sẽ ôm nặng một mối tuyệt tình này chứ?

Phần cuối cùng cũng là lời tạ từ của ông đối với dĩ vãng ấy:
“Ôm kỷ niệm chẳng nửa lời thở than
Một tâm khúc cho người thương, cho tiếng đàn
Đời đã không màng những gì mình mơ ước,
mà sao khó tìm quên?
Xa nhau thì nhớ lúc đến gần xao xuyến
Nhớ thương bây giờ xin trả lại thời gian.”

Tình yêu đâu phải là thử thách đâu mà nói đến chuyện đạt được hay không? Nó cũng chẳng phải một câu đố để tìm ra đáp án rõ ràng. Người ta biết rằng thật sự rất ngu khờ khi cứ ôm trọn mãi những kỷ niệm, ảo vọng quá khứ đó nhưng có tự nói với mình bao nhiêu lần hãy quên đi, người phụ tình, đời bạc bẽo ta cần chi phải níu kéo, ấy vậy mà có làm được đâu. “Đời đã không màng những gì mình mơ ước, mà sao khó tìm quên?”. Bóng người thương năm ấy giờ đã trở thành người dưng rồi ấy vậy mà ông vẫn cứ tương tư xa gần không thôi, cho dù chẳng thể giáp mặt, gặp nhau chỉ dám làm ngơ nhưng ông nào có thể lẫn bước đi được đâu, vẫn loanh quanh để nghe thấy trái tim mình còn xao xuyến nhiều lắm.

Câu hát cuối cùng là lời tạ từ với dĩ vãng mà dứt khoát lắm tác giả mới có thể nói ra. Ông nguyện xin gửi lại tất cả những nhớ thương, ký ức, niềm khổ đau tình yêu này lại cho thời gian. Ông nguyện sẽ không mang theo nói cho phần đời còn lại nữa. Nếu thời gian đã vô tình với tình yêu đến thế thì những dằn vặt này thời gian hãy giữ lấy đi, hãy giữ lấy đi để lòng người thanh thản. “Xin trả lại thời gian”

Một nhạc phẩm thật sâu lắng và khắc khoải.

(Theo Sơn Đoàn)

Như Quỳnh - Trả Lại Thời Gian (Thanh Sơn). Paris By Night 103 - Tình Sử Trong Âm Nhạc Việt Nam:
https://youtu.be/la_p7iSZb10

Đăng Đàn Cung

Giai điệu mà mình thích nghe từ thuở nhỏ trong các dịp tế lễ, ma chay ở dưới quê, giờ mới biết là Quốc ca của Triều Nguyễn!
http://loibaihat.mobi/loi-bai-hat/IWAEB8D0/dang-dan-cung-ban-dai-nhac.html

Theo trang Wikipedia:

Đăng đàn cung (chữ Hán: 登壇宮,diễn nghĩa: Giai điệu đăng đàn) là tên của quốc thiều thời nhà Nguyễn, có tiết tấu dựa trên ngũ cung.
Lịch sử
Khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã tổ chức ngay một nghi lễ triều chính cho công việc nhận tước vị này. Có một chuyên gia người Pháp tên là J.B. Chaigneau được lệnh nhà vua soạn thảo bản quốc thiều để sử dụng trong các đại lễ của triều đình. Ông đã dựa theo hình thức bản Marche Militaire để dựng lên bản "Đăng đàn cung" quốc thiều nhà Nguyễn.[cần dẫn nguồn]
Từ thời vua Gia Long trở đi, Đăng đàn cung còn được dùng mỗi khi vua du xuân hoặc khi xa giá từ Đại Nội lên đàn Nam Giao.
Sang thế kỷ 20 triều Khải Định, người trưởng ban nhạc trong Đại Nội bấy giờ là ông J. Tịnh (tức bác sĩ Nguyễn Đương Tinh) cho soạn lại Đăng đàn cung theo ký âm pháp của nhạc phương Tây để dễ sử dụng trong quân nhạc của Đại Nội. Theo Nguyễn Khoa Toàn, việc ký âm điệu Đăng đàn cung theo lối Tây phương làm cho bài hát nghe không còn hồn nhạc Việt Nam thuần túy.[cần dẫn nguồn]
Khi vua Bảo Đại hồi loan năm 1932, bản nhạc này đã được sử dụng để nghênh đón, đặc biệt lần này có thêm cả lời. Lời bài hát do Ưng Thiều soạn. Mấy câu mở đầu bài là:
Dậy, dậy, dậy mở mắt xem toàn châu
Đèn khai hóa rọi khắp toàn cầu
Ngọn đường thông thương ngàn dặm
Xe tàu điện, tàu nước, tàu bay...
Vào năm 1945, khi Trần Trọng Kim lên làm thủ tướng của Đế quốc Việt Nam thì bài Đăng đàn cung vẫn được dùng làm quốc thiều và có dự định đặt lời mới nhưng chưa kịp thì chính phủ bị giải thể.
Kể từ sau thời gian trên thì bài Đăng Đàn Cung chỉ còn xuất hiện trong các đám tế lễ cổ truyền và ngày nay chúng ta còn được nghe mỗi khi có biểu diễn nhã nhạc Cung đình Huế hay trong Festival Huế 2004. Trong cuộc sống đời thường, trẻ em Huế thường hát theo điệu Đăng đàn cung nhưng với lời dân gian khác.
Dàn nhạc
Để thể hiện bài này, dàn nhạc triều Nguyễn phải dùng cả trống đại, trống con, xập xoã (cymbale), kèn, sáo và đàn hoà nhịp với nhau. Tiếng kèn và sáo là nổi trội nhất.
Phần ký âm
Phần ký âm bao gồm các nốt nhạc được đọc theo cách của người xưa như sau:
Họ phạn họ, xàng xê cống cống xê xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê
Cồng xàng xê cống, họ cống liu cống xê xàng
Xự xàng cống xê xàng xự, xê xàng xự họ phạn, họ
Xự họ phạn họ xự, xê xàng họ, phạn, họ
Xự họ phạn xự, xê xàng xự xàng cống xàng xê.
Phần lời
Phần lời bài hát dưới đây lấy từ trong cuốn Hymnes et Pavillon d'Indochine.
Kìa... núi vàng bể bạc,
Có sách Trời, sách Trời, định phần:
Một dòng ta gầy non song vững-chặt.
Đã ba ngàn, mấy trăm năm,
Bắc Nam cùng một nhà con Hồng cháu Lạc.
Văn-minh đào-tạo:
Màu gấm hoa càng đượm.
Rạng vẻ dòng-giống Tiên-Long.
Ấy, công gầy dựng,
Từ xưa đà khó-nhọc,
Nhớ công dày-nặng,
Lòng trung-quân đã sẵn.
Cố yêu nhau, với nhau một niềm
Nguyện nhà Việt Nam muôn đời thạnh-trị.
Lời sửa đổi
Lời bài hát do ông Nguyễn Phúc Ưng Thiều viết, dùng trong thập niên 1940:
1.
Dậy dậy dậy mở mắt xem toàn châu,
Đèn khai hóa rạng khắp hoàn cầu.
Ngọn đường thông thương ngàn dặm, xe tàu điện, tàu nước, tàu bay.
Nghề khôn khéo chạy khắp phương trời,
Càng ngày văn minh càng rộng, tranh cạnh lợi quyền.
Đất càng ngày càng rộng, dân giàu nước mạnh.
Nước càng ngày càng thịnh, của có thêm người khôn.
2.
Người Nam Quốc, một giống Tiên Rồng,
Thiệt giòng giai nhân tài tử, xưa rày gọi là nước tài ba.
Nền văn hiến, nặn đúc anh hùng,
Sẵn tài thông minh trời dựng, thêm nghề học hành.
Học càng ngày càng tiến, nghề nghiệp mở rộng.
Nước càng giàu càng mạnh, nòi giống thêm vẻ vang.
3.
Này Âu Á, gặp lúc phong trào,
Sẵn thấy gia công rèn tập, trăm nghề nghiệp đều biết đều hay.
Đường tiến hóa chạy suốt Tam Kỳ,
Càng ngày non sông càng đẹp, cảm ơn bù trì.
Chúc Đại Pháp bình an, nước nhà thịnh trị,
Chúc Nam Việt vạn tuế, trường thọ vô cương.
Lời mới
Nguyễn Đình Thi năm 1945 cũng đặt lời cho bản này như sau:
Sông núi ta còn thắm nhường kia,
Chúng ta còn yêu đồng bào.
Gương người xưa, lòng ta há phút giây nào phai,
Đồng bào! Mau chung sức nhau nắm tay ta thề,
Yêu thương non nước, dìu dắt nâng cao nòi giống nước Nam nhà.
Chung sức và chung lòng, không ngại ngùng ta ra đời.
Tin tài ta, tin chắc nơi ngày mai...
Nhân kỷ niệm 1000 năm Thăng Long Hà Nội, nhạc sĩ Ngọc Phan đã hòa âm và soạn lại lời mới cho điệu "Đăng đàn cung", tựa đề "Non Sông Vang Câu Ca Mừng":
1.
Khắp đất trời quê ta rộn rã lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà.
Nhịp nhàng gái trai trẻ già, nắn cung đàn cùng hát lời ca,
Mừng đất nước đổi mới chan hoà,
Đời vui ấm no muôn nhà, tiếng ca cùng hoà.
Khắp đất trời quê ta tiếng ca đậm đà.
2.
Các dân tộc Việt Nam cùng đón niềm vui,
Mừng đất nước rộn rã tiếng cười.
Bạn bè khắp nơi trao lời, chúc mừng đất nước đẹp tươi,
Mừng Thủ đô - Thành phố bao đời,
Sử xanh vẫn luôn rạng ngời chiến công tuyệt vời.
Bao bạn bè năm châu hát chung niềm vui.
3.
Đây đất trời Thăng Long, Rồng chiếu hiển linh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình.
Cùng nhau sống trong thanh bình, tô thêm màu mảnh đất đẹp xinh,
Ngàn năm sáng dải đất ân tình,
Cùng vui sống trong thanh bình, tiếng ca ngọt lành.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
4.
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình,
Vui hát mừng Thủ đô xứng danh Hoà Bình.
Tham khảo
Đôi điều về Đăng đàn cung quốc thiều của triều Nguyễn, Thiện Mộc Lan, Tạp chí Thông tin Khoa học và Công nghệ, số 1(27), 2000.
Bài : dậy dậy dậy, mở mắt xem toàn châu ....... mới chính là bài Đăng đàn cung. Phật giáo Huế đã dùng nhạc này thay lời trong một đám rước ngày vía Thích ca mồng 8 tháng tư (vào khoảng năm 1933). Nó hay dùng trong các đám rước như Nam giao chẳng hạn.
Bài: Kìa núi vàng bể bac ....xuất hiện ở Huế dưới thời chính phủ Pétain. Nguyền khoa Toàn (hình như là tá lý Bộ Học) đã ra sức phổ biến bài này trong học sinh. Trước đó chỉ có quôc thiều Pháp (bài Marseillaiise) Để mị dân. trong lễ lược đều đánh 2 bài: Marseillaiise trước rồi Kìa núi vàng sau...Thậm chí lá trước đó là màu vàng có tam tài (xanh trắng đỏ) ở góc trên trong cũng được gỡ bỏ, chỉ còn màu vàng.

Tuesday, October 9, 2018

Ca từ trong nhạc xưa: Trên dốc đá tôi tình cờ quen nàng...!


Cuộc gặp gỡ hy hữu giữa một nhóm nam và nữ ở thành phố biển Vũng Tàu đã làm nên tác phẩm độc đáo của một tác giả bí hiểm.

Từ năm 1966 – 1975, tại 102/8 Hai Bà Trưng (Tân Định, Sài Gòn) có lớp nhạc “Lê Minh Bằng” quy tụ hàng trăm học viên. Lớp nhạc này do 3 nhạc sĩ: Lê Dinh, Minh Kỳ, Anh Bằng tổ chức và trực tiếp đứng lớp (Lê Minh Bằng là ghép từ tên của 3 người).

Chính “lò nhạc” này đã đào tạo được những ca sĩ nổi tiếng như: Kim Loan, Giáng Thu, Trang Mỹ Dung, Mạnh Quỳnh (tác giả ca khúc Gõ cửa hiện sống ở Sài Gòn, không phải ca sĩ trẻ Mạnh Quỳnh ở hải ngoại), Hải Lý, Nhật Thiên Lan, Thu Thủy… Ngoài dạy nhạc, Lê Minh Bằng còn là bút danh chung của nhóm 3 nhạc sĩ này ký dưới những bài hát rất quen thuộc như: Hai mùa mưa, Lẻ bóng, Sầu lẻ bóng, Chuyện hai chúng mình, Đôi bóng, Tình đời…

Gặp gỡ “Mai – Bích – Dung”

Một ngày cuối tuần của năm 1970, ba nhạc sĩ rủ nhau đi ô tô ra Vũng Tàu chơi. Khi xe đến Bãi Trước, họ thấy ba cô gái mặc áo dài đi giữa trưa nắng nóng. Khi ấy nhạc sĩ Anh Bằng lái xe, nhạc sĩ Minh Kỳ ngồi phía trước, nhạc sĩ Lê Dinh ngồi ghế sau. Bất ngờ Minh Kỳ nói với Anh Bằng: “Bằng ơi, dừng xe lại cho ba cô đó lên đi chung với mình. Nắng như vầy mà 3 cô đi bộ tội nghiệp quá!”. Do tính hơi nhát, Anh Bằng bảo: “Thôi, ông đi mời đi, tôi không đi đâu”. Thấy 2 người bạn cứ đùn đẩy nên nhạc sĩ Minh Kỳ nói: “Thôi, dừng xe lại để tôi đi cho”.

Nhạc sĩ Lê Dinh kể lại: “Anh Minh Kỳ xuống xe và không biết ảnh nói gì với 3 cô đó mà trông 3 cô rất vui vẻ và họ đồng ý lên xe. Vì phía băng trước có anh Minh Kỳ ngồi, nên 3 cô phải ngồi ở băng sau với tôi. Tôi hỏi tại sao 3 cô đi bộ dưới nắng trưa như vậy, thì được biết cả 3 cô đều là sinh viên, đi Vũng Tàu tìm con sứa để về trường thí nghiệm. Rồi họ tự giới thiệu tên lần lượt là Mai (ngồi kế bên nhạc sĩ Lê Dinh), Bích và ngồi ngoài cùng là Dung”.

Cuộc gặp gỡ tình cờ đó rất ngắn ngủi, nhóm nam mời 3 cô ra Bãi Sau dùng cơm trưa. Ăn xong, 3 cô xuống mé biển tiếp tục tìm sứa. Và rồi họ ra Bến xe Vũng Tàu để trở về Sài Gòn.

Linh hồn tượng đá…

Đêm đó về khách sạn, nhạc sĩ Anh Bằng là người đề xướng viết bài hát Linh hồn tượng đá, lấy tên tác giả là Mai Bích Dung (tên của 3 cô gái ghép lại). Ngay đêm đó ca khúc ra đời với những ca từ: “Trên dốc đá tôi tình cờ quen nàng. Ngồi bên nhau, gọi tên nhau để rồi yêu nhau. Em đã đến và đã đến, như áng mây bay, như cánh chim qua bầu trời, ôi hình hài một vài giờ vui… (rồi nức nở) Em ơi, em ơi… Thời gian gặp gỡ nào được bao nhiêu, mà khi rời gót lòng đầy cô liêu, nên xa em rồi, tôi nhớ em nhiều… Em ơi, em ơi… Thà không gặp gỡ, thà đừng quen nhau, đừng cho hình bóng, đừng nhìn nhau lâu, tôi không ôm ấp kỷ niệm đớn đau…”.

Sau khi nhạc phẩm được in ra, nhạc sĩ Anh Bằng đích thân mang đến ngôi trường các cô đang học, tặng mỗi người một bản Linh hồn tượng đá còn thơm mùi mực in và có chữ ký của cả 3 chàng nhạc sĩ hào hoa. Từ một cái duyên đưa đẩy mà một tình khúc lãng mạn đã ra đời… Cũng cần nói thêm, nhóm nhạc sĩ này còn lấy nhiều “tên chung” khác ký dưới nhiều bản nhạc như: Chuyện tình Lan và Điệp 1, 2, 3 (ký tên Mạc Phong Linh – Mai Thiết Lĩnh), Cô hàng xóm (Giang Minh Sơn), Đà Lạt hoàng hôn (Dạ Cầm), Mưa trên phố Huế (Tôn Nữ Thụy Khương) hoặc các tên khác như: Vũ Chương, Dạ Ly Vũ, Hoàng Minh, Trần An Thanh, Tây Phố, Trúc Ly, Phương Trà, Huy Cường, Mặc Vũ…

Tuy là ký tên chung Lê Minh Bằng nhưng hầu hết đều do Anh Bằng sáng tác, các nhạc sĩ Lê Dinh và Minh Kỳ chỉ góp ý, sửa sang một vài lời ca, thêm bớt vài chi tiết. Nhưng với sự thân thiết và tôn trọng lẫn nhau nên những sáng tác này đều được ký tên chung: Lê Minh Bằng.

Điều thú vị là 3 thành viên của nhóm này, mỗi người sinh trưởng từ một miền của đất nước (Bắc – Trung – Nam): Nhạc sĩ Anh Bằng tên thật là Trần An Bường, sinh năm 1925 tại Thanh Hóa (ông mất năm 2015 tại California, Mỹ). Nhạc sĩ Minh Kỳ tên thật là Nguyễn Phúc Vĩnh Mỹ, sinh năm 1930 tại Nha Trang (ông vốn thuộc dòng dõi hoàng tộc nhà Nguyễn, ông mất năm 1976). Nhạc sĩ Lê Dinh tên thật Lê Văn Dinh, sinh năm 1934 tại Gò Công, hiện sinh sống tại Montreal, Canada.

Còn 3 cô gái ngày xưa? Được biết sau mấy mươi năm bây giờ cô Mai (tên thật Mai Xuân Lan) hiện đang ở tiểu bang Ohio (Mỹ). Cô Bích đang cư ngụ tại tiểu bang Arizona (Mỹ). Cô Dung (tên thật Lưu Dung Anh) đang sống ở TP.HCM, chơi rất thân với giới văn nghệ sĩ xưa.

Theo Thanh Niên
(Nguồn: https://nhacxua.vn/ca-tu-trong-nhac-xua-tren-doc-da-toi-tinh-co-quen-nang/)

Nghe bài hát: Linh hồn tượng đá. Ca sĩ: Đan Nguyên

Wednesday, May 27, 2015

10 Reasons You Need to Go to Myanmar

I’ve been traveling around Asia for over three years, but it wasn’t until recently that I traveled to Myanmar, also known as Burma. And I will say it right now: It’s an insane, beautiful, challenging, and hilarious country, and it simply blew my mind. Whenever I meet backpackers, I always say to them, “You have to go to Myanmar. It’s a life-changing experience.” Many people skip Myanmar for the easier, well-known backpacker route, which begins in Thailand and then goes through Laos, Cambodia, and Vietnam. But in my opinion, Myanmar offers more than all of the other countries of Southeast Asia thrown together. Here’s why. 

1. The people are so, so kind.

For true hospitality, travel to Myanmar. Out of all of the Asians I’ve met, the people in Myanmar are the kindest, most friendly people. They’re willing to go above and beyond to be friends with you, help you out, and make sure you are having a great time in their country. They always seem to be happy, smiling, and keen to practice their English over a glass of tea.

They can be quite shy people, as they are extremely polite, but once you get to know them, they open up. Kids, however, tend to be the exception to the rule. They will run up to you to practice their English, and unlike the rest of Asia, they never hassled me for money. The people of Myanmar left a lasting impression on me. I felt as though I could truly trust them, and I made some incredible connections with locals I met along the way.

2. The temple ruins are amazing.

When most people think of lost cities, they immediately think of Angor Wat in Cambodia, or maybe Hampi in India. But the ruins of Bagan in central Myanmar are without a doubt the most stunning, least-touristy ruins I have ever seen. I spent an incredible few days there, exploring the area by bike, watching the sun set over Bagan’s temple-studded plains, and making friends with the local kids out to practice their English. For the true adventurer, you can head even deeper into the country’s largely unexplored regions and visit the stunning temple ruins at Mrauk Au. They are so remote that you will probably have them all to yourself.

3. There is room to truly explore. 

Myanmar is an absolutely massive country, and there are many hidden gems that only locals know about. It is extremely easy to get off the beaten track, and to have temples, ruins, mountains, and caves all to yourself. When I was backpacking in Myanmar, I felt like I had stepped back 100 years into the past, like a proper explorer.

The people I met in remote communities in the Shan highlands had often not seen another westerner for months or even years. And while I was exploring the south of the country, I came across a huge field of painted Buddha statues. Some were cracked and covered by the jungle; others looked freshly painted. Who built them, painted them, and maintained them? I have absolutely no idea. And that is why I love Myanmar.

4. The hiking is incredible.

Trekking in Myanmar is a relatively new activity, but tour agencies are already stepping up to cater toward adventurous backpackers. Most backpackers opt for a two-day trek around the stilt villages of Inle Lake, but for an even more remote experience, head deep into the Shan highlands, or south to Hp-Pan.

Here, you can summit jungle-clad limestone peaks — many of which are topped by small monasteries — and soak in some spectacular views. Trekking in Myanmar is a really amazing experience. I met colorful freshwater crabs, hiked through mist-draped forests, and shared tea with novice monks who spoke no English, but always seemed happy to see me.

5. There are monks. Lots of monks.

Speaking of monks, it’s pretty hard to travel in Myanmar without meeting a few amazing ones. I had some very heady discussions with monks I met in temples, on buses, in the street, and even while riding my bicycle. The monks are a friendly bunch, and they’d often ask me all kinds of questions, from what life is like outside Myanmar to spirituality to football (yes, football!).

A monk told me that monks make up one percent of Myanmar’s entire population, and they certainly do seem to be everywhere. One experience in particular stands out. While I was trekking, I met a shy monk who was working on repairing a temple wall. We chatted for a while, and I spent an hour or so helping him. Then, he offered me tea and we talked even more. Because of that experience, I came away with a much richer understanding of what Buddhism is all about.

6. The food is delicious.

“Really? The food’s okay?” you may ask. Yes, food is better than okay. The cuisine in Myanmar is some of the best in Asia. Sure, there may not be many Burmese restaurants outside of Myanmar, but that’s largely because the country has been shut off from the rest of the world for so long. The food is an eclectic mix of Thai, Chinese, and Indian cuisine, and basically includes all the best bits from each.

A couple dishes to look out for:

*Gyin Thohk: tasty ginger salad with sesame seeds.

*Kat Kyi Hnyat: the Burmese answer to Pad Thai. It’s a gorgeous coastal dish that consists of rice noodles, seafood, meats, raw bean sprouts, and fried eggs.

*Danbauk: a tasty Indian-inspired curry served with mango pickle, fresh mint, and green chili.

*Shan Tofu: awesome homemade tofu from the Shan highlands.

7. The beer is cheap. And good.

I have made it a personal mission to sample as many local beers throughout the world as I possibly can. And so far, Myanmar Beer is without a doubt my favorite brand. For just 50 cents, you can have a cool, refreshing, tap-drawn beer in an iced glass. For five bucks, you can get well and truly merry. Mandalay Beer makes a tasty alternative if you get sick of Myanmar Beer, but I can almost guarantee you won’t.

8. The beaches!

Most backpackers are not yet aware that Myanmar has some of the most beautiful beaches and islands in the world. Until recently, these palm-fringed, white-sand playgrounds were off limits unless you had a super-yacht handy, but this is changing fast. Every week, more and more restrictions are being lifted.

Now is the perfect time to travel to Myanmar and hunt for your dream island. Think coral blue waters, coconut cocktails, and perfect sandy beaches. There are over 800 empty islands in Myanmar’s Mergui archipelago, which means that now is a great time to head out on a kayak or boat and discover paradise in the ocean.

9. It has really cool caves.

When I’m traveling, I’m always looking for adventurous ways to keep myself busy, whether it’s living in a cave with a Bedouin or mountain biking through the jungles of Laos. In Myanmar, there are a ton of activities for the adventurous traveler, but one of the best has got to be exploring some of its huge caves.

Many of these are not covered by any guidebook; it’s simply a case of asking around and seeing if there are any cool caves nearby. One of the biggest caves that I visited was in the south of the country, and was filled with huge Buddha images and statues as well as some beautiful rock formations. I walked through it for over an hour before I emerged on the other side to find a hidden lake framed by a backdrop of limestone mountains. To this day, that is still one of the most beautiful things I have ever discovered while backpacking.

10. It’s changing fast.

Myanmar has become THE place to go. I was lucky enough to first visit in 2012, when I met perhaps a dozen backpackers in my entire time there. But these days, more and more backpackers are tagging the country on to the classic Thailand/Laos/Vietnam/Cambodia route, and rightly so!

However, as the country continues to open up and as investments and travelers alike continue to pour in, it is only a matter of time before some of Myanmar’s most enchanting attractions become diluted. Luckily, the country is so big that there is still plenty of room, and plenty of wild places left for backpackers to explore. So do not hesitate. Visit this incredible land now, meet the wonderful people, have a beer (or three) and explore until your heart’s content.

By Will Hatton.

Tám Điều Suy Tưởng của Bậc Đại Nhân


Sau khi được phép của Đức Phật, Đại Đức Anuruddha vào rừng trúc để hành thiền. Theo chú giải Đại Đức Anuruddha đã tinh tấn thực hành trong vòng nửa tháng, phần lớn là đi kinh hành. Đến ngày thứ mười lăm, cảm thấy mỏi mệt vì kinh hành lui tới quá nhiều, Ngài ngồi nghỉ dưới một khóm trúc. Lúc ngồi dưới khóm trúc xét lại việc hành thiền của mình, xem thử phải làm những gì để đi đến giác ngộ, và “bảy điều suy tưởng” hay “bảy tư tưởng” sau đây đã khởi sinh trong Ngài:
1. Tư tưởng thứ nhất: Thiểu dục. Người muốn giác ngộ đạo quả Niết Bàn cần phải có ít nhu cầu hay “Thiểu dục”. Pháp giải thoát không dành cho người có nhiều nhu cầu. Điều này có nghĩa là giáo pháp chỉ có thể thành đạt ở những người ít tham muốn và không thể thành đạt bởi những ai có nhiều tham muốn, nhiều nhu cầu. Thiểu dục, ít ham muốn là điều kiện để thành đạt giáo pháp, giác ngộ đạo quả; đó là những đặc tính được Đức Phật tán dương. Đó là đặc tính mà mọi vị Tăng và thiền sinh phải phát triển. Nếu chúng ta muốn nhiều thứ thì chúng ta không thể hành thiền được. Nếu chúng ta muốn kết quả, nếu chúng ta muốn định tâm, nếu chúng ta muốn xuyên suốt chân lý, nếu chúng ta muốn có nhiều Trí Tuệ thì chúng ta sẽ không đạt được tiến bộ trong việc hành thiền.
Có bốn loại thiểu dục (ít tham muốn):
a) Ít tham muốn hay thiểu dục về phương diện tứ vật dụng: Thức ăn, nhà ở, y phục, thuốc trị bệnh.
b) Ít tham muốn hay thiểu dục về phương diện chứng đắc thiền hay giác ngộ đạo quả. Chúng ta không được khoe khoang sự giác ngộ của mình khi đạt được sự giác ngộ. Chúng ta phải giữ sự giác ngộ bên trong ta và không được để cho người khác hay biết về sự giác ngộ của mình. Không thố lộ hay khoe khoang về sự giác ngộ của mình giúp chúng ta vun bồi đức khiêm nhường.
c) Ít tham muốn hay thiểu dục về phương diện phô bày kiến thức. Thiểu dục cũng còn được áp dụng cho việc học hỏi. Dầu cho bạn có học thuộc lòng Tam Tạng Kinh Điển, bạn cũng không nên khoe khoang hay thố lộ kiến thức hay sự hiểu biết của mình.
d) Ít tham muốn hay thiểu dục về phương diện thực hành giáo pháp. Khi một nhà Sư nguyện thực hành hạnh Đầu Đà thì cũng phải thực hành thế nào để những người khác không biết rằng mình đang thực hành hạnh Đầu Đà. Phải luôn luôn khiêm nhường.
Thiểu Dục là một đặc tính tốt đẹp của nhà Sư cũng như của thiền sinh. Chỉ những kẻ thiểu dục mới thành tựu giáo pháp. Những kẻ tham muốn nhiều không thể thành tựu mục đích giải thoát. Đó là tư tưởng đầu tiên đến với Anruddha.
2. Tư tưởng thứ hai: Tri túc hay bằng lòng với những gì mình có. Sự thành tựu giáo pháp chỉ đạt được với người biết hài lòng với những gì mình đã có. Sự thành tựu giáo pháp không đến với người không hài lòng hay bất mãn. Giáo pháp, đạo quả chỉ có thể thành tựu bởi những người biết hài lòng. Biết hài lòng là một đặc tính tốt đẹp. Biết hài lòng có nghĩa là hài lòng với những gì đã có, hài lòng với những gì mình nhận được. Nếu bạn có một vật gì đó thì bạn hãy hoan hỷ và bằng lòng với vật đó. Đừng mong muốn vật khác. Khi có ai cho bạn vật gì, bạn phải vừa lòng với vật đó. Đừng nói ‘tôi không muốn cái này, hãy cho tôi cái kia’, hay ‘tôi muốn cái kia, tôi không muốn cái này’. Đó là thái độ không hài lòng, là tham. Thiền sinh phải hài lòng với những gì mình gặt hái được cũng như với những gì mình có. Chỉ những người biết hài lòng mới có thể thành tựu giáo pháp, giác ngộ, đạo quả. Hài lòng là một đặc tính tốt đẹp lớn lao. Đó là đặc tính đòi hỏi các thiền sinh và các nhà Sư phải có.
3. Tư tưởng thứ ba: Thích ẩn cư. Sự giác ngộ Đạo, Quả, Niết Bàn chỉ đạt được đối với người thích ẩn cư, không thể thành tựu đối với người thích quần tụ. Có ba loại ẩn cư: thân ẩn cư, tâm ẩn cư và tị phiền não ẩn cư. Đến một nơi thanh tịnh để hành thiền, đó là điều tốt. Hành thiền trong thành phố rất khó vì có nhiều tiếng động ồn ào. Nếu chọn được một nơi an tịnh ít tiếng động, ít gặp những cảnh dễ làm ta phóng tâm, thì đó là nơi để cho thân ẩn cư. Một nơi an tịnh rất thích hợp cho việc hành thiền. Tuy nhiên, đối với một số người lúc đầu rất khó sống ẩn cư. Một thiền sinh có lần đến than phiền với tôi: “Ở đây im lặng quá rất ít những điều làm phóng tâm. Chúng ta cần phải tạo ra những gì dễ làm thiền sinh phóng tâm để thiền sinh đương đầu với chúng”. Có lẽ một số thiền sinh quen với chỗ ồn ào, náo nhiệt nên cảm thấy thật khó chịu khi ẩn cư nơi yên tĩnh, vắng lặng.
Chỗ tốt nhất để hành thiền là chỗ yên lặng và ít người lui tới, không bị muỗi mòng, côn trùng quấy nhiễu, có đủ chỗ để đi kinh hành, có chỗ ngủ đơn giản sạch sẽ. Trong một nơi như thế mà bạn hành thiền không tiến bộ thì chỉ mình bạn mới là người đáng trách chứ không phải hoàn cảnh hay nơi chốn ẩn cư. Theo chú giải: tâm ẩn cư là hành thiền cho đến khi đạt được các tầng thiền. Chỉ khi nào tâm nhập trong thiền thì tâm mới ẩn cư khỏi các phiền não trong một thời gian dài. Tâm ẩn cư là một bước rất tốt đẹp, nhưng chưa đủ. Bạn cần đi thêm một bước xa hơn là thực hành Thiền Minh Sát. Khi bạn hành Thiền Minh Sát một cách tốt đẹp, và giác ngộ đạo quả thì tâm sẽ giải thoát khỏi tất cả mọi phiền não. Đó gọi là giai đoạn “tị phiền não ẩn cư”.
Chúng ta ít nhất cũng phải có được thân ẩn cư và tâm ẩn cư, và cuối cùng ta có thể giác ngộ đạo quả, thành tựu giáo pháp. Giáo pháp không thể đạt được đối với người thích quần tụ. Quần tụ ở đây có hai nghĩa: Quần tụ với người khác, và Quần tụ với phiền não.
Chúng ta có thể tránh quần tụ với người khác bằng cách đi vào một nơi ẩn cư vắng lặng, không có ai chung quanh, nhưng tâm chúng ta lại đầy tham ái dính mắc. Như vậy mặc dầu chúng ta ở giữa rừng sâu, nhưng tâm bị phiền não quấy rầy thì cũng chưa phải là ẩn cư. Giáo pháp không thể được thành tựu đối với những người thích quần tụ với người khác, thích nhiều hoạt động với người khác, thích những tư tưởng thế tục, tâm đầy phiền não. Giáo pháp không thể thành tựu đối với những người như vậy.
4. Tư tưởng thứ tư: Tinh tấn. Sự thành tựu giáo pháp chỉ đến với người tinh tấn. Sự thành tựu giáo pháp không đến với người làm biếng. Chỉ có người tinh tấn mới đạt thành đạo quả. Việc hành thiền đòi hỏi phải có nỗ lực tinh tấn. Không tinh tấn thì không thể giữ tâm trên đề mục. Như vậy sẽ không có Chánh Niệm. Không có Chánh Niệm thì không có Định tâm và kết quả là không có Trí Tuệ hay không có sự xuyên thấu vào sự vật.
Tinh tấn là một yếu tố quan trọng trong việc hành thiền. Tinh tấn bao gồm cả hai phương diện thể chất lẫn tinh thần. Nhờ tinh tấn thể chất, bạn mới có thể ngồi xếp bằng, lưng giữ thẳng và mới có thể thực tập kinh hành. Nhờ tinh tấn tinh thần tâm mới ở thường trực trên đề mục hiện tại.
Trong việc hành thiền cần có đủ cả tinh tấn thể chất lẫn tinh tấn tinh thần. Chỉ người tinh tấn mới thành tựu đạo quả, người chây lười biếng nhác không thể thành tựu pháp cao thượng. Lười biếng hành thiền có thể do ở chỗ thiếu thỏa thích trong việc hành thiền. Lười biếng cũng có thể do ở việc thực hành nữa: Khi việc hành thiền không tiến triển tốt đẹp; khi bạn không thể tập trung tâm ý; khi bạn không đạt kết quả tốt trong việc hành thiền, bạn trở nên thất vọng và buồn chán. Điều này có thể khiến bạn làm biếng, không muốn hành thiền, nhiều khi còn muốn từ bỏ hết việc hành thiền nữa. Lười biếng là một chướng ngại, là một hiểm nguy trong việc hành thiền. Bởi vậy cần phải loại trừ tâm lười biếng ngay khi nó vừa khởi sinh.
Có thể loại trừ tư tưởng chây lười, biếng nhác trong việc hành thiền bằng cách suy tư đến những lợi ích do việc hành thiền đem lại. Khi Chánh Niệm ghi nhận đề mục hiện tại, tâm bạn an lạc tĩnh lặng. Sự an lạc tĩnh lặng này là kết quả trực tiếp của việc hành thiền. Còn rất nhiều lợi ích khác, bao gồm việc bạn có đủ khả năng, can đảm và nghị lực để đương đầu với những vấn đề xảy ra trong cuộc sống hằng ngày. Lợi ích tối thượng của thiền sinh là thoát khỏi mọi phiền não. Nghĩ đến những lợi ích của việc hành thiền sẽ khích lệ bạn tinh tấn nhiều hơn. Bạn có thể tự nhủ: nếu mất cơ hội hành thiền này ta sẽ tiếc nuối về sau, người nào bỏ lỡ cơ hội này sẽ đau khổ trong tương lai.
Bạn có thể khích lệ tâm mình bằng cách đọc kinh sách. Trong kinh Pháp cú có những câu khích lệ sự tinh tấn của bạn, nhất là lúc bạn đang bị sự chây lười, biếng nhác chi phối khiến bạn chẳng muốn hành thiền. Một câu Pháp Cú nói: “Đừng bỏ qua cơ hội này. Người nào bỏ qua cơ hội này sẽ sầu muộn, đau khổ vì phải sinh vào cõi Địa Ngục”. Ngay khi không bị sinh vào Địa Ngục, bạn cũng sẽ âu sầu, phiền muộn khi bỏ qua dịp này. Trong một câu khác, Đức Phật dạy: “Sống một trăm năm chây lười biếng nhác, không bằng sống một ngày tinh tấn cần chuyên”. Trăm năm biếng nhác không đổi được một ngày tinh tấn. Suy tư như vậy sẽ là động cơ thúc đẩy bạn hành thiền.
Giáo Pháp không thể thành tựu đến người chây lười biếng nhác, đến người không cố gắng hành thiền, và đến người không chịu hành thiền. Giáo Pháp chỉ thành tựu đến người nỗ lực tinh tấn hành thiền.
5. Tư tưởng thứ năm: Chánh Niệm. Sự thành tựu giáo pháp chỉ thành tựu đến người có tâm Chánh Niệm (người hành Thiền Minh Sát). Giáo pháp không thành tựu đến người thất niệm (người không hành thiền, người không Chánh Niệm, người biếng nhác). Thiền sinh phải hành thiền một cách tinh tấn, chánh niệm để đạt kết quả tốt đẹp, đó là chứng ngộ đạo quả. Nếu không hành thiền chúng ta sẽ không có chút hi vọng nào giải thoát khỏi các phiền não, và do đó không thể thoát khỏi khổ đau.
Muốn thiết lập chánh niệm vững chắc, chúng ta chỉ cần làm một điều thôi, đó là chú tâm chánh niệm một cách đúng đắn. Ngoài Chánh Niệm ra, không có con đường nào khác để phát triển Trí Tuệ. Nhờ thực tập Chánh Niệm chúng ta sẽ đạt được Chánh Niệm vững chắc, sâu xa và xuyên suốt. Chính Chánh Niệm là nhân của Chánh Niệm. Chánh Niệm trước vun bồi khiến Chánh Niệm sau mạnh mẽ hơn và đưa đến sự tập trung tâm ý một cách tốt đẹp. Sự tập trung tâm ý tốt đẹp đó là tâm Định. Như vậy, giáo pháp chỉ thành tựu với người thực hành chánh niệm. Giáo pháp không thể thành tựu với người thiếu chánh niệm, người không thực hành chánh niệm.
6. Tư tưởng thứ sáu: Chánh Định. Giáo pháp chỉ thành tựu đến người có Định Tâm. Giáo pháp không thành tựu đến người có tâm tán loạn. Một điều chúng ta thấy rõ là người có tâm tán loạn không thể nào thành tựu giáo pháp. Muốn thành tựu giáo pháp phải có sự tập trung tâm ý. Chỉ khi nào có Định Tâm lúc ấy mới có Trí Tuệ; điều này có nghĩa là có sự hiểu biết sáng suốt, xuyên thấu vào sự vật để thấy rõ bản chất thật sự của sự vật. Đức Phật đã dạy: “Này các thầy tỳ khưu, hãy tinh tấn thực hành pháp định tâm. Khi tâm định tốt đẹp các thầy sẽ thấy rõ bản chất thật sự của mọi sự vật”.
Định Tâm là một yếu tố thiết yếu trong việc thực hành Thiền Minh Sát. Định Tâm phải được Chánh Niệm hỗ trợ, và Chánh Niệm phải được Tinh Tấn hỗ trợ. Do tích cực tinh tấn, bạn có thể giữ tâm mình trên đề mục, theo dõi đề mục. Khi tâm bạn đã nằm vững chắc trên đề mục thì đó là lúc Định Tâm đến. Một khi đã có được Định Tâm, an tịnh, tĩnh lặng; tâm sẽ ở trên đề mục một thời gian đủ dài, lúc bấy giờ, Trí Tuệ, sự hiểu biết đề mục, sẽ tự động đến. Giáo pháp chỉ thành tựu đến những người có Định Tâm; giáo pháp không thể thành tựu đến những người có tâm lang bạt phóng túng.
7. Tư tưởng thứ bảy: Trí Tuệ. Giáo pháp chỉ thành tựu đến những người có Trí Tuệ. Theo chú giải, người sáng suốt hay người có Trí Tuệ có nghĩa là người có sự hiểu biết về nghiệp báo, biết rằng nghiệp là gia tài, là của thừa kế của mình. Điều này có nghĩa là có sự tin tưởng vào luật nghiệp báo, có sự hiểu biết về luật nhân quả. Chỉ những người có sự hiểu biết căn bản này mới có thể hành thiền đạt được kết quả, thấy rõ giáo pháp. Giáo pháp chỉ dành cho người có sự sáng suốt, cho người có sự hiểu biết luật nghiệp báo, nhân quả. Giáo pháp không thể thành tựu đến những người không hiểu biết điều này.
Đó là bảy tư tưởng đã xuất hiện trong tâm của Đại Đức Anuruddha trong khi đang ngồi dưới bóng mát của khóm trúc. Trong khi đó, Đức Phật đang ở chỗ ngụ của mình hiểu được những tư tưởng của học trò, bèn đến giúp Đại Đức Anuruddha và nói: “Này Anuruddha! Con có những suy nghĩ như vậy là đúng lắm, tốt lắm; nhưng cần thêm một điều nữa”.
Và Đức Phật đã thêm vào tư tưởng số tám, đó là:
8. Hướng đến giải thoát, Niết Bàn. Đức Phật dạy Đại Đức Anuruddha: “Giáo pháp hay đạo quả Niết Bàn chỉ có thể thành tựu bởi người có tâm mong muốn, thích thú trong Niết Bàn”.
Đức Phật dùng chữ Papañca trong câu nói của Ngài: “Giáo pháp hay đạo quả Niết Bàn chỉ có thể thành tựu bởi người có tâm mong muốn thoát khỏi những trạng thái Papañca (mở rộng)”. Papañca có nghĩa là Tham Ái, Tà Kiến và Mạn (so sánh hơn thua). Papañca còn có nghĩa là nới rộng, bành trướng, làm cho lớn hơn, làm cho dài hơn. Bao lâu chúng ta còn có Tham Ái, còn hiểu biết sai lầm (Tà Kiến), còn Ngã Mạn, bấy lâu chúng ta còn luân lưu trong vòng tái sinh. Do còn Tham Ái, Tà Kiến và Mạn nên chúng ta sẽ lang thang trong vòng luân hồi nhiều lần, nhiều lần nữa. Đó là vì chúng ta muốn kéo dài sự luân lưu. Bởi thế chúng ta được gọi là ở trong trạng thái Papañca, là trạng thái bành trướng hay kéo dài. Một khi, đã thoát khỏi trạng thái Papañca nghĩa là thoát khỏi Tham Ái, Tà Kiến và Mạn thì đó là Niết Bàn; có nghĩa là người thích thú giải thoát, Niết Bàn. Chỉ những người có sự thích thú giải thoát, Niết Bàn, có sự nỗ lực thực hành mới có thể đạt được giáo pháp cao thượng, đạo, quả và Niết Bàn. Đạo quả và Niết Bàn không thể đến được với người còn có tư tưởng muốn luân lưu vòng sinh tử.
Trong thực hành, muốn hướng đến Niết Bàn, chúng ta phải hướng tâm đến sự vô thường, sự sinh diệt, sự tan biến của mọi sự vật. Có thấy được thế gian vô thường, có thấy rõ mọi sự vật đều không vững bền đến rồi đi và đang ở trạng thái hoại diệt thì ta mới ý thức được rằng chẳng có gì trên thế gian này có tầm quan trọng đến nỗi ta phải tham luyến dính mắc vào. Thấy được như thế, hiểu được như thế thì Tham Ái, Tà Kiến, Mạn mới vắng bóng, và đó mới là Niết Bàn.
Tư tưởng thứ tám là tư tưởng quan trọng nhất. Bảy tư tưởng đầu tiên là những điều kiện hay những yếu tố tiên quyết trong việc hành thiền, nhưng bảy yếu tố này chỉ đóng vai trò như những dụng cụ hay phương tiện thôi chứ chúng không phải là cứu cánh hay mục tiêu tối hậu của việc hành thiền. Hành thiền Huệ hay thiền Minh Sát là nhằm mục đích giải thoát hay loại trừ phiền não tham, sân, si mà muốn loại trừ các phiền não này thì phải loại trừ nguyên nhân của chúng. Nguyên nhân của tham ái, chấp thủ, si mê là đánh giá sai lầm hay hiểu lầm giá trị của đối tượng mà ta đang tham ái, chấp giữ; cho rằng chúng thường còn, đáng yêu, thuộc quyền làm chủ của chúng ta, trong khi đó chúng là vô thường, khổ, và không làm chủ được. (Như Kinh Giới hạnh và kinh Hiểu Biết đã nói: Một vị tỳ khưu có giới hạnh và hiểu biết cần phải thận trọng chú tâm theo dõi quán sát năm uẩn thủ để thấy chúng là Vô thường, Khổ, Bệnh tật, Ung nhọt, Mũi nhọn, Khốn cùng, Đau xót, Nằm ngoài, Hủy hoại, Trống rỗng, và Vô ngã (không có cốt lõi) để đạt Đạo và Quả từ Tu Đà Hoàn đến A La Hán, giải thoát, Niết Bàn. Do đó, người hành thiền phải hướng tâm đến Giải thoát Niết Bàn hay hướng đến việc thấy rõ vô thường, khổ, vô ngã.
Sau khi thêm tư tưởng thứ tám vào bảy tư tưởng của Đại Đức Anuruddha, Đức Phật trở về chỗ ngụ của mình và giảng giải tám tư tưởng này cho các thầy tỳ khưu. Tám tư tưởng này được gọi là “Tám Điều Suy Tưởng của Bậc Đại Nhân”.
Đại Đức Anuruddha tiếp tục hành thiền theo lời hướng dẫn của Đức Phật, hướng tâm đến Niết Bàn, đến sự giải thoát, khởi đầu là hướng tâm đến sự vô thường, sinh diệt, không hướng tâm đến Tham, Tà Kiến, Mạn cũng không hướng tâm đến việc loại trừ Tham, Tà Kiến, Mạn. Chẳng bao lâu sau Đại Đức Anuruddha đắc quả A La Hán.
Các thiền sinh nên học hỏi và thực hành tám tư tưởng của bậc đại nhân này. Có nghĩa là thiền sinh phải:
1. Thiểu dục (ít tham muốn).
2. Tri túc (biết đủ), bằng lòng với những gì đã có và những gì đã nhận được.
3. Sống ẩn cư, cả tâm ẩn cư lẫn thân ẩn cư.
4. Tinh tấn.
5. Chánh niệm vào những gì đang khởi sinh trong giây phút hiện tại.
6. Định tâm.
7. Có Trí Tuệ, hiểu biết căn bản về luật nhân quả và nghiệp báo.
8. Hướng đến giải thoát, Niết Bàn, tức là hướng tâm vào sự vô thường, sự sinh diệt của các pháp; không thích thú trong Tham Ái, Tà Kiến và Mạn. Đó là không thích thú trong các việc bất thiện nhờ luôn luôn luôn hướng tâm vào sự vô thường của tất cả sự vật.
Những sự hướng dẫn thực hành này giúp cho việc hành thiền được mạnh mẽ, và tiến triển tốt đẹp. Khi sự tiến triển bị ngăn chận thì hãy nhớ rằng: Người có nhiều phiền não bất thiện không thấy được chính nó và cũng không thấy được đạo quả một cách rõ ràng.
Trong lúc hành thiền, có hai trường hợp hay hai pháp làm cản trở việc giác ngộ là: tự cao ngã mạn và thối chí ngã lòng. Nếu tự cao ngã mạn và thối chí ngã lòng xuất hiện thì hãy đến gặp một vị thầy đủ thẩm quyền để xin lời khuyên bảo của vị thầy như Đại Đức Anuruddha đã làm.
Cầu mong các bạn tinh tấn thực hành, thanh lọc tâm tốt đẹp, dẫn đến Niết Bàn.

(Trích “Hiểu Biết Trọn Vẹn”, Hòa Thượng Sīlānanda giảng, Sư Khánh Hỷ soạn dịch)