Monday, December 29, 2014

Lời khuyên dạy của Đức Phật đối với các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội

Kinh Giáo thọ Thi-ca-la-việt
(PTS: D, III, 180 - Sīgālasuttaṃ)
P/s : Bài Kinh này trình bày Lời khuyên dạy của Đức Phật đối với các mối quan hệ trong gia đình và ngoài xã hội.

Như vậy tôi nghe.
1. Một thời Thế Tôn sống ở Ràjagaha (Vương Xá thành), tại Veluvana (Trúc Lâm), Kalandakanivàpa (chỗ tìm ăn của loài sóc). Lúc bấy giờ, Singàlaka (Thi-ca-la-việt), gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng.
2. Rồi Thế Tôn buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Vương Xá khất thực. Thế Tôn thấy Singàlaka, gia chủ tử, dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm nước, với tóc thấm nước, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông, hướng Nam, hướng Tây, hướng Bắc, hướng Hạ, hướng Thượng. Thấy vậy Ngài nói với Singàlaka, gia chủ tử:
- Này Gia chủ tử, vì sao Ngươi dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông... hướng Thượng?
- Bạch Thế Tôn, thân phụ con khi gần chết có dặn con: "Này con thân yêu, hãy đảnh lễ các phương hướng". Bạch Thế Tôn, con kính tín, cung kính, tôn trọng, đảnh lễ lời nói của thân phụ con, buổi sáng dậy sớm, ra khỏi thành Vương Xá, với áo thấm ướt, với tóc thấm ướt, chấp tay đảnh lễ các phương hướng, hướng Ðông... hướng Thượng.
- Này Gia chủ tử, trong luật pháp của bậc Thánh, lễ bái sáu phương không phải như vậy.
- Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, thế nào là lễ bái sáu phương? Bạch Thế Tôn, trong luật pháp của bậc Thánh, đảnh lễ sáu phương phải như thế nào? Lành thay! Thế Tôn hãy giảng pháp ấy cho con!
- Này Gia chủ tử, hãy nghe và suy nghiệm kỹ, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Singàlaka, gia chủ tử vâng lời Thế Tôn. Thế Tôn giảng như sau:
3. - Này Gia chủ tử, đối với vị Thánh đệ tử, bốn nghiệp phiền não được diệt trừ, không làm ác nghiệp theo bốn lý do, không theo sáu nguyên nhân để phung phí tài sản. Vị này, nhờ từ bỏ mười bốn ác pháp, trở thành vị che chở sáu phương; vị này đã thực hành để chiến thắng hai đời, vị này đã chiến thắng đời này và đời sau. Sau khi thân hoại mạng chung, vị này sanh ở thiện thú, Thiên giới.
Thế nào là bốn nghiệp phiền não đã được diệt trừ? Này Gia chủ tử, đó là nghiệp phiền não sát sanh, nghiệp phiền não trộm cắp, nghiệp phiền não tà dâm, nghiệp phiền não nói láo. Bốn nghiệp phiền não này đã được trừ diệt.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
4. Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Sát sanh và trộm cắp,
Nói láo, lấy vợ người,
Kẻ trí không tán thán,
Những hạnh nghiệp như vậy.
5. Thế nào là không làm ác nghiệp theo bốn lý do? Ác nghiệp làm do tham dục, ác nghiệp làm do sân hận, ác nghiệp làm do ngu si, ác nghiệp làm do sợ hãi. Này Gia chủ tử, vì vị Thánh đệ tử không tham dục, không sân hận, không ngu si, không sợ hãi, nên không làm ác nghiệp theo bốn lý do.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
6. Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Ai phản lại Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh bị sứt mẻ
Như mặt trăng đêm khuyết.
Ai không phản Chánh pháp,
Vì tham, sân, bố, si,
Thanh danh được tròn đủ,
Như mặt trăng đêm đầy.
7. Thế nào là không theo sáu nguyên nhân phung phí tài sản? Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu là nguyên nhân phung phí tài sản. Du hành đường phố phi thời là nguyên nhân phung phí tài sản. La cà đình đám hí viện là nguyên nhân phung phí tài sản. Ðam mê cờ bạc là nguyên nhân phung phí tài sản. Giao du ác hữu là nguyên nhân phung phí tài sản. Quen thói lười biếng là nguyên nhân phung phí tài sản.
8. Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sáu nguy hiểm: Tài sản hiện tại bị tổn thất, đấu tranh tăng trưởng, bệnh tật dễ xâm nhập, thương tổn danh dự, để lộ âm tàng, và thứ sáu là trí lực tổn hại. Này Gia chủ tử, đam mê các loại rượu có sau nguy hiểm như vậy.
9. Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm: Tự mình không được che chở hộ trì, vợ con không được che chở hộ trì, tài sản không được che chở hộ trì, bị tình nghi là tác giả các ác sự, nạn nhân các tin đồn thất thiệt, tự rước vào thân nhiều khổ não. Này Gia chủ tử, du hành đường phố phi thời có sáu nguy hiểm như vậy.
10. Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm: Luôn luôn tìm xem chỗ nào có múa, chỗ nào có ca, chỗ nào có nhạc, chỗ nào có tán tụng, chỗ nào có nhạc tay, chỗ nào có trống. Này Gia chủ tử, la cà đình đám hý viện có sáu nguy hiểm như vậy.
11. Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm: Nếu thắng thì sanh oán thù, nếu thua thì tâm sanh sầu muộn, tài sản hiện tại bị tổn thất, tại hội trường (pháp đình) lời nói không hiệu lực, bằng hữu đồng liêu khinh miệt, vấn đề cưới gả không được tín nhiệm vì người đam mê cờ bạc không xứng để có vợ. Này Gia chủ tử, đam mê cờ bạc có sáu nguy hiểm như vậy.
12. Này Gia chủ tử, thân cận các ác hữu có sáu nguy hiểm: Những kẻ cờ bạc, loạn hành, nghiện rượu, những kẻ trá ngụy, lường gạt, bạo động là những người bạn, là những thân hữu của người ấy. Này Gia chủ tử, thân cận ác hữu có sáu nguy hiểm như vậy.
13. Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm: "quá lạnh", không làm việc; "quá nóng", không làm việc; "quá trễ" không làm việc; "quá sớm", không làm việc; "tôi đói quá", không làm việc; "tôi quá no", không làm việc. Trong khi những công việc phải làm lại không làm. Tài sản chưa có không xây dựng lên, tài sản có rồi bị tiêu thất. Này Gia chủ tử, quen thói lười biếng có sáu nguy hiểm như vậy. Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
14. Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Có bạn gọi bạn rượu,
Có bạn, bạn bằng mồm,
Bạn lúc thật hữu sự,
Mới xứng danh bạn bè.
Ngủ ngày, thông vợ người,
Ưa đấu tranh, làm hại,
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Ác hữu, ác bạn lữ,
Ác hạnh, hành ác xứ,
Ðời này cả đời sau,
Hai đời, người bị hại.
Cờ bạc và đàn bà,
Rượu chè, múa và hát
Ngủ ngày, đi phi thời
Thân ác hữu, xan tham,
Sáu sự não hại người.
Chơi xúc xắc, uống rượu
Theo đuổi đàn bà người,
Lẽ sống của người khác,
Thân cận kẻ hạ tiện,
Không thân cận bậc trí,
Người ấy tự héo mòn,
Như trăng trong mùa khuyết.
Rượu chè không tiền của,
Khao khát, tìm tửu điếm,
Bị chìm trong nợ nần,
Như chìm trong bồn nước,
Mau chóng tự hại mình,
Như kẻ mất gia đình.
Ai quen thói ngủ ngày,
Thức trọn suốt đêm trường,
Luôn luôn say sướt mướt,
Không thể sống gia đình.
Ở đây ai hay than:
Ôi quá lạnh, quá nóng,
Quá chiều, quá trễ giờ,
Sẽ bỏ bê công việc.
Lợi ích, điều tốt lành,
Bị trôi dạt một bên.
Ai xem lạnh và nóng,
Nhẹ nhàng hơn cỏ lau,
Làm mọi công chuyện mình,
Hạnh phúc không từ bỏ.
15. Này Gia chủ từ, có bốn hạng người phải xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người khéo nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn; người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
16. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Người vật gì cũng lấy, cho ít xin nhiều, vì sợ mà làm, làm vì mưu lợi cho mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp người vật gì cũng lấy phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
17. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Tỏ lộ thân tình việc đã qua; tỏ lộ thân tình việc chưa đến; mua chuộc cảm tình bằng sáo ngữ; khi có công việc, tự tỏ sự bất lực của mình. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp, người chỉ biết nói giỏi phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
18. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Ðồng ý các việc ác; không đồng ý các việc thiện; trước mặt tán thán; sau lưng chỉ trích. Này Gia chủ tử, như vậy là bốn trường hợp kẻ nịnh hót phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
19. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn: Là bạn khi mình đam mê các loại rượu; là bạn khi mình du hành đường phố phi thời; là bạn khi mình la cà đình đám hý viện; là bạn khi mình đam mê cờ bạc. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người tiêu pha xa xỉ phải được xem không phải bạn, dầu tự cho là bạn.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
20. Thiện Thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Người bạn gì cũng lấy,
Người bạn chỉ nói giỏi,
Người nói lời nịnh hót,
Người tiêu pha xa xỉ.
Cả bốn, không phải bạn,
Biết vậy, người trí tránh,
Như đường đầy sợ hãi.
21. Này Gia chủ tử, bốn loại bạn này phải được xem là bạn chân thật: Người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật; người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là bạn chân thật; người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là bạn chân thật; người bạn có lòng thương tưởng phải được xem là bạn chân thật.
22. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là bạn chân thật: Che chở cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, che chở của cải cho bạn khi bạn vô ý phóng dật, là chỗ nương tựa cho bạn khi bạn sợ hãi, khi bạn có công việc sẽ giúp đỡ cho bạn của cải gấp hai lần những gì bạn thiếu. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn giúp đỡ phải được xem là người bạn chân thật.
23. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật: Nói cho bạn biết điều bí mật của mình; giữ gìn kín điều bí mật của bạn; không bỏ bạn khi bạn gặp khó khăn; dám hy sinh thân mạng vì bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn chung thủy trong khổ cũng như trong vui phải được xem là người bạn chân thật.
24. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật: Ngăn chận bạn không làm điều ác; khuyến khích bạn làm điều thiện; cho bạn nghe điều bạn chưa nghe; cho bạn biết con đường lên cõi chư Thiên. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn khuyên điều lợi ích phải được xem là người bạn chân thật.
25. Này Gia chủ tử, có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật: Không hoan hỷ khi bạn gặp hoạn nạn; hoan hỷ khi bạn gặp may mắn; ngăn chận những ai nói xấu bạn; khuyến khích những ai tán thán bạn. Này Gia chủ tử, như vậy có bốn trường hợp, người bạn thương tưởng phải được xem là người bạn chân thật.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
26. Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Bạn sẵn sàng giúp đỡ,
Bạn chung thủy khổ vui,
Bạn khuyến khích lợi ích,
Bạn có lòng thương tưởng.
Biết rõ bốn bạn này,
Người trí phục vụ họ,
Như mẹ đối con ruột.
Người trí giữ giới luật,
Sáng như lửa đồi cao.
Người tích trữ tài sản,
Như cử chỉ con ong.
Tài sản được chồng chất,
Như ụ mối đùn cao,
Người cư xử như vậy,
Chất chứa các tài sản,
Vừa đủ để lợi ích
Cho chính gia đình mình.
Tài sản cần chia bốn
Ðể kết hợp bạn bè:
Một phần mình an hưởng,
Hai phần dành công việc,
Phần tư, phần để dành,
Phòng khó khăn hoạn nạn.
27. Này Gia chủ tử, vị Thánh đệ tử hộ trì sáu phương như thế nào? Này Gia chủ tử, sáu phương này cần được hiểu như sau: Phương Ðông cần được hiểu là cha mẹ. Phương Nam cần được hiểu là sư trưởng. Phương Tây cần được hiểu là vợ con. Phương Bắc cần được hiểu là bạn bè. Phương Dưới cần được hiểu là tôi tớ, lao công. Phương Trên cần được hiểu là Sa-môn, Bà-la-môn.
28. Này Gia chủ tử, có năm trường hợp, người con phải phụng dưỡng cha mẹ như phương Ðông: "Ðược nuôi dưỡng, tôi sẽ nuôi dưỡng lại cha mẹ; tôi sẽ làm bổn phận đối với cha mẹ; tôi sẽ gìn giữ gia đình và truyền thống; tôi bảo vệ tài sản thừa tự; tôi sẽ làm tang lễ khi cha mẹ qua đời". Này Gia chủ tử, được con phụng dưỡng như phương Ðông, theo năm cách như vậy, cha mẹ có lòng thương tưởng đến con theo năm cách: Ngăn chận con làm điều ác; khuyến khích con làm điều thiện; dạy con nghề nghiệp, cưới vợ xứng đáng cho con; đúng thời trao của thừa tự cho con.
Này Gia chủ tử, như vậy là cha mẹ được con phụng dưỡng như phương Ðông theo năm cách và cha mẹ có lòng thương tưởng con theo năm cách. Như vậy phương Ðông được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
29. Này Gia chủ tử, có năm cách, đệ tử phụng dưỡng các bậc sư trưởng như phương Nam: Ðứng dậy để chào, hầu hạ thầy, hăng hái học tập, tự phục vụ thầy, chú tâm học hỏi nghề nghiệp. Này Gia chủ tử, được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách như vậy, các bậc sư trưởng có lòng thương tưởng đến các đệ tử theo năm cách: Huấn luyện đệ tử những gì mình đã được khéo huấn luyến; dạy cho bảo trì những gì mình được khéo bảo trì; dạy cho thuần thục các nghề nghiệp; khen đệ tử với các bạn bè quen thuộc; bảo đảm nghề nghiệp cho đệ tử về mọi mặt.
Này Gia chủ tử, như vậy là bậc sư trưởng được đệ tử phụng dưỡng như phương Nam theo năm cách và sư trưởng có lòng thương tưởng đến đệ tử theo năm cách. Như vậy phương Nam được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
30. Này Gia chủ tử, có năm cách, người chồng phải đối xử với vợ như phương Tây: Kính trọng vợ, không bất kính đối với vợ; trung thành với vợ; giao quyền hành cho vợ; sắm đồ nữ trang với vợ; Này Gia chủ tử, được chồng đối xử như phương Tây theo năm cách như vậy, người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách: Thi hành tốt đẹp bổn phận của mình; khéo tiếp đón bà con; trung thành với chồng; khéo gìn giữ tài sản của chồng; khéo léo và nhanh nhẹn làm mọi công việc.
Này Gia chủ, người vợ được người chồng đối xử như phương Tây theo năm cách và người vợ có lòng thương tưởng chồng theo năm cách. Như vậy phương Tây được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
31. Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với bạn bè như phương Bắc: Bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự, không lường gạt. Này Gia chủ tử, được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách như vậy, bạn bè có lòng thương kính vị thiện nam tử theo năm cách: Che chở nếu vị thiện nam tử phóng túng; bảo trì tài sản của vị thiện nam tử nếu vị này phóng túng; trở thành chỗ nương tựa khi vị thiện nam tử gặp nguy hiểm; không tránh xa khi vị thiện nam tử gặp khó khăn; kính trọng gia đình của vị thiện nam tử.
Như vậy các bạn bè được vị thiện nam tử đối xử như phương Bắc theo năm cách và bạn bè có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Bắc được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
32. Này Gia chủ tử, có năm cách một vị Thánh chủ nhân đối xử với hạng nô bộc như phương Dưới: Giao việc đúng theo sức lực của họ; lo cho họ ăn uống và tiền lương; điều trị cho họ khi bệnh hoạn; chia xẻ các mỹ vị đặc biệt cho họ; thỉnh thoảng cho họ nghỉ phép. Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách như kia, có lòng thương tưởng đối với vị chủ nhân theo năm cách như sau: Dậy trước khi chủ dậy; đi ngủ sau chủ; tự bằng lòng với các vật đã cho; khéo làm các công việc; đem danh tiếng tốt đẹp cho chủ.
Này Gia chủ tử, các hàng nô bộc được vị Thánh chủ nhân đối xử như phương Dưới với năm cách, có lòng thương tưởng đối với Thánh chủ nhân theo năm cách. Như vậy phương Dưới được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
33. Này Gia chủ tử, có năm cách vị thiện nam tử đối xử với các vị Sa-môn, Bà-la-môn như phương Trên: Có lòng từ trong hành động về thân; có lòng từ trong hành động về khẩu; có lòng từ trong hành động về ý; mở rộng cửa để đón các vị ấy; cúng dường các vị ấy các vật dụng cần thiết. Này Gia chủ tử, các vị Bà-la-môn, Sa-môn được vị thiện nam tử đối xử như phương Trên theo năm cách như vậy, có lòng thương tưởng vị thiện nam tử ấy theo năm cách sau đây: Ngăn họ không làm điều ác; khuyến khích họ làm điều thiện; thương xót họ với tâm từ bi, dạy họ những điều chưa nghe; làm cho thanh tịnh điều đã được nghe; chỉ bày con đường đưa đến cõi Trời.
Này Gia chủ tử, các vị Sa-môn, Bà-la-môn được thiện nam tử đối xử như phương Trên với năm cách, và các vị Sa-môn, Bà-la-môn có lòng thương tưởng vị thiện nam tử theo năm cách. Như vậy phương Trên được che chở, được trở thành an ổn và thoát khỏi các sự sợ hãi.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy.
34. Thiện thệ thuyết giảng xong, bậc Ðạo Sư lại giảng thêm:
Cha mẹ là phương Ðông,
Sư trưởng là phương Nam,
Vợ chồng là phương Tây,
Bạn bè là phương Bắc,
Nô bộc là phương Dưới,
Sa-môn, Bà-la-môn,
Có nghĩa là phương Trên.
Cư sĩ vì gia đình,
Ðảnh lễ phương hướng ấy.
Kẻ trí giữ Giới, Luật,
Từ tốn và biện tài,
Khiêm nhường và nhu thuận,
Nhờ vậy được danh xưng.
Dậy sớm không biếng nhác,
Bất động giữa hiểm nguy,
Người hiền, không phạm giới,
Nhờ vậy được danh xưng.
Nhiếp chúng, tạo nên bạn,
Từ ái, tâm bao dung,
Dẫn đạo, khuyến hóa đạo,
Nhờ vậy được danh xưng.
Bố thí và ái ngữ,
Lợi hành bất cứ ai,
Ðồng sự trong mọi việc,
Theo trường hợp xử sự.
Chính những nhiếp sự này,
Khiến thế giới xoay quanh,
Như bánh xe quay lăn,
Vòng theo trục xe chính.
Nhiếp sự này vắng mặt,
Không có mẹ hưởng thọ,
Hay không cha hưởng thọ,
Sự hiếu kính của con.
Do vậy bậc có trí,
Ðối với nhiếp pháp này,
Như quán sát chấp trì,
Nhờ vậy thành vĩ đại,
Ðược tán thánh, danh xưng.
35. Khi được nghe vậy, Singàlaka, gia chủ tử bạch Thế Tôn: "Thật vi diệu thay, bạch Thế Tôn! Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho người bị lạc hướng, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Thế Tôn dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Bạch Thế Tôn, nay con xin quy y Thế Tôn, quy y Pháp và chúng Tỷ-kheo. Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử, từ nay trở đi cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng.
(Kinh Trường Bộ số 31, HT. Minh Châu dịch Việt)

Bản Anh ngữ:
Sigalovada Sutta: The Discourse to Sigala
The Layperson's Code of Discipline
translated from the Pali by Narada Thera © 1996

Thus have I heard:
On one occasion the Exalted One was dwelling in the Bamboo Grove, the Squirrels' Sanctuary, near Rajagaha.
Now at that time, young Sigala, a householder's son, rising early in the morning, departing from Rajagaha, with wet clothes and wet hair, worshipped with joined hands the various quarters — the East, the South, the West, the North, the Nadir, and the Zenith.
Then the Exalted One, having robed himself in the forenoon took bowl and robe, and entered Rajagaha for alms. Now he saw young Sigala worshipping thus and spoke to him as follows:
"Wherefore do you, young householder, rising early in the morning, departing from Rajagaha, with wet clothes and wet hair, worship, with joined hands these various quarters — the East, the South, the West, the North, the Nadir, and the Zenith?"
"My father, Lord, while dying, said to me: The six quarters, dear son, you shall worship. And I, Lord, respecting, revering, reverencing and honoring my father's word, rise early in the morning, and leaving Rajagaha, with wet clothes and wet hair, worship with joined hands, these six quarters."
"It is not thus, young householder, the six quarters should be worshipped in the discipline of the noble."
"How then, Lord, should the six quarters be worshipped in the discipline of the noble? It is well, Lord, if the Exalted One would teach the doctrine to me showing how the six quarters should be worshipped in the discipline of the noble."
"Well, young householder, listen and bear it well in mind; I shall speak." — "Very good, Lord," responded young Sigala.
And the Exalted One spoke as follows:
"Inasmuch, young householder, as the noble disciple (1) has eradicated the four vices in conduct,[1] (2) inasmuch as he commits no evil action in four ways, (3) inasmuch as he pursues not the six channels for dissipating wealth, he thus, avoiding these fourteen evil things, covers the six quarters, and enters the path leading to victory in both worlds: he is favored in this world and in the world beyond. Upon the dissolution of the body, after death, he is born in a happy heavenly realm.
(1) "What are the four vices in conduct that he has eradicated? The destruction of life, householder, is a vice and so are stealing, sexual misconduct, and lying. These are the four vices that he has eradicated."
Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
Killing, stealing, lying and adultery,
These four evils the wise never praise.
(2) "In which four ways does one commit no evil action? Led by desire does one commit evil. Led by anger does one commit evil. Led by ignorance does one commit evil. Led by fear does one commit evil.[2]
"But inasmuch as the noble disciple is not led by desire, anger, ignorance, and fear, he commits no evil."
Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
Whoever through desire, hate or fear,
Or ignorance should transgress the Dhamma,
All his glory fades away
Like the moon during the waning half.
Whoever through desire, hate or fear,
Or ignorance never transgresses the Dhamma,
All his glory ever increases
Like the moon during the waxing half.
(3) "What are the six channels for dissipating wealth which he does not pursue?
(a) "indulgence in intoxicants which cause infatuation and heedlessness;
(b) sauntering in streets at unseemly hours;
(c) frequenting theatrical shows;
(d) indulgence in gambling which causes heedlessness;
(e) association with evil companions;
(f) the habit of idleness.
(a) "There are, young householder, these six evil consequences in indulging in intoxicants which cause infatuation and heedlessness:
(i) loss of wealth,
(ii) increase of quarrels,
(iii) susceptibility to disease,
(iv) earning an evil reputation,
(v) shameless exposure of body,
(vi) weakening of intellect.
(b) "There are, young householder, these six evil consequences in sauntering in streets at unseemly hours:
(i) he himself is unprotected and unguarded,
(ii) his wife and children are unprotected and unguarded,
(iii) his property is unprotected and unguarded,
(iv) he is suspected of evil deeds,[3]
(v) he is subject to false rumours,
(vi) he meets with many troubles.
(c) "There are, young householder, these six evil consequences in frequenting theatrical shows. He is ever thinking:
(i) where is there dancing?
(ii) where is there singing?
(iii) where is there music?
(iv) where is there recitation?
(v) where is there playing with cymbals?
(vi) where is there pot-blowing?[4]
(d) "There are, young householder, these six evil consequences in indulging in gambling:
(i) the winner begets hate,
(ii) the loser grieves for lost wealth,
(iii) loss of wealth,
(iv) his word is not relied upon in a court of law,
(v) he is despised by his friends and associates,
(vi) he is not sought after for matrimony; for people would say he is a gambler and is not fit to look after a wife.
(e) "There are, young householder, these six evil consequences in associating with evil companions, namely: any gambler, any libertine, any drunkard, any swindler, any cheat, any rowdy is his friend and companion.
(f) "There are, young householder, these six evil consequences in being addicted to idleness:
"He does no work, saying:
(i) that it is extremely cold,
(ii) that it is extremely hot,
(iii) that it is too late in the evening,
(iv) that it is too early in the morning,
(v) that he is extremely hungry,
(vi) that he is too full.
"Living in this way, he leaves many duties undone, new wealth he does not get, and wealth he has acquired dwindles away."
Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
"One is a bottle friend; one says, 'friend, friend' only to one's face; one is a friend and an associate only when it is advantageous.
"Sleeping till sunrise, adultery, irascibility, malevolence, evil companions, avarice — these six causes ruin a man.
"The man who has evil comrades and friends is given to evil ways, to ruin does he fall in both worlds — here and the next.
"Dice, women, liquor, dancing, singing, sleeping by day, sauntering at unseemly hours, evil companions, avarice — these nine[5] causes ruin a man.
"Who plays with dice and drinks intoxicants, goes to women who are dear unto others as their own lives, associates with the mean and not with elders — he declines just as the moon during the waning half.
"Who is drunk, poor, destitute, still thirsty whilst drinking, frequents the bars, sinks in debt as a stone in water, swiftly brings disrepute to his family.
"Who by habit sleeps by day, and keeps late hours, is ever intoxicated, and is licentious, is not fit to lead a household life.
"Who says it is too hot, too cold, too late, and leaves things undone, the opportunities for good go past such men.
"But he who does not regard cold or heat any more than a blade of grass and who does his duties manfully, does not fall away from happiness."
"These four, young householder, should be understood as foes in the guise of friends:
(1) he who appropriates a friend's possessions,
(2) he who renders lip-service,
(3) he who flatters,
(4) he who brings ruin.
(1) "In four ways, young householder, should one who appropriates be understood as a foe in the guise of a friend:
(i) he appropriates his friend's wealth,
(ii) he gives little and asks much,
(iii) he does his duty out of fear,
(iv) he associates for his own advantage.
(2) "In four ways, young householder, should one who renders lip-service be understood as a foe in the guise of a friend:
(i) he makes friendly profession as regards the past,
(ii) he makes friendly profession as regards the future,
(iii) he tries to gain one's favor by empty words,
(iv) when opportunity for service has arisen, he expresses his inability.
(3) "In four ways, young householder, should one who flatters be understood as a foe in the guise of a friend:
(i) he approves of his friend's evil deeds,
(ii) he disapproves his friend's good deeds,
(iii) he praises him in his presence,
(iv) he speaks ill of him in his absence.
(4) "In four ways, young householder, should one who brings ruin be understood as a foe in the guise of a friend:
(i) he is a companion in indulging in intoxicants that cause
infatuation and heedlessness,
(ii) he is a companion in sauntering in streets at unseemly hours,
(iii) he is a companion in frequenting theatrical shows,
(iv) he is a companion in indulging in gambling which causes heedlessness."
Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
The friend who appropriates,
the friend who renders lip-service,
the friend that flatters,
the friend who brings ruin,
these four as enemies the wise behold,
avoid them from afar as paths of peril.
"These four, young householder, should be understood as warm-hearted friends:
(1) he who is a helpmate,
(2) he who is the same in happiness and sorrow,
(3) he who gives good counsel,
(4) he who sympathises.
(1) "In four ways, young householder, should a helpmate be understood as a warm-hearted friend:
(i) he guards the heedless,
(ii) he protects the wealth of the heedless,
(iii) he becomes a refuge when you are in danger,
(iv) when there are commitments he provides you with double the
supply needed.
(2) "In four ways, young householder, should one who is the same in happiness and sorrow be understood as a warm-hearted friend:
(i) he reveals his secrets,
(ii) he conceals one's own secrets,
(iii) in misfortune he does not forsake one,
(iv) his life even he sacrifices for one's sake.
(3) "In four ways, young householder, should one who gives good counsel be understood as a warm-hearted friend:
(i) he restrains one from doing evil,
(ii) he encourages one to do good,
(iii) he informs one of what is unknown to oneself,
(iv) he points out the path to heaven.
(4) "In four ways, young householder, should one who sympathises be understood as a warm-hearted friend:
(i) he does not rejoice in one's misfortune,
(ii) he rejoices in one's prosperity,
(iii) he restrains others speaking ill of oneself,
(iv) he praises those who speak well of oneself."
Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
The friend who is a helpmate,
the friend in happiness and woe,
the friend who gives good counsel,
the friend who sympathises too  —
these four as friends the wise behold
and cherish them devotedly
as does a mother her own child.
The wise and virtuous shine like a blazing fire.
He who acquires his wealth in harmless ways
like to a bee that honey gathers,[6]
riches mount up for him
like ant hill's rapid growth.
With wealth acquired this way,
a layman fit for household life,
in portions four divides his wealth:
thus will he friendship win.
One portion for his wants he uses,[7]
two portions on his business spends,
the fourth for times of need he keeps.
"And how, young householder, does a noble disciple cover the six quarters?
"The following should be looked upon as the six quarters. The parents should be looked upon as the East, teachers as the South, wife and children as the West, friends and associates as the North, servants and employees as the Nadir, ascetics and brahmans as the Zenith.[8]
"In five ways, young householder, a child should minister to his parents as the East:
(i) Having supported me I shall support them,
(ii) I shall do their duties,
(iii) I shall keep the family tradition,
(iv) I shall make myself worthy of my inheritance,
(v) furthermore I shall offer alms in honor of my departed
relatives.[9]
"In five ways, young householder, the parents thus ministered to as the East by their children, show their compassion:
(i) they restrain them from evil,
(ii) they encourage them to do good,
(iii) they train them for a profession,
(iv) they arrange a suitable marriage,
(v) at the proper time they hand over their inheritance to them.
"In these five ways do children minister to their parents as the East and the parents show their compassion to their children. Thus is the East covered by them and made safe and secure.
"In five ways, young householder, a pupil should minister to a teacher as the South:
(i) by rising from the seat in salutation,
(ii) by attending on him,
(iii) by eagerness to learn,
(iv) by personal service,
(v) by respectful attention while receiving instructions.
"In five ways, young householder, do teachers thus ministered to as the South by their pupils, show their compassion:
(i) they train them in the best discipline,
(ii) they see that they grasp their lessons well,
(iii) they instruct them in the arts and sciences,
(iv) they introduce them to their friends and associates,
(v) they provide for their safety in every quarter.
"The teachers thus ministered to as the South by their pupils, show their compassion towards them in these five ways. Thus is the South covered by them and made safe and secure.
"In five ways, young householder, should a wife as the West be ministered to by a husband:
(i) by being courteous to her,
(ii) by not despising her,
(iii) by being faithful to her,
(iv) by handing over authority to her,
(v) by providing her with adornments.
"The wife thus ministered to as the West by her husband shows her compassion to her husband in five ways:
(i) she performs her duties well,
(ii) she is hospitable to relations and attendants[10]
(iii) she is faithful,
(iv) she protects what he brings,
(v) she is skilled and industrious in discharging her duties.
"In these five ways does the wife show her compassion to her husband who ministers to her as the West. Thus is the West covered by him and made safe and secure.
"In five ways, young householder, should a clansman minister to his friends and associates as the North:
(i) by liberality,
(ii) by courteous speech,
(iii) by being helpful,
(iv) by being impartial,
(v) by sincerity.
"The friends and associates thus ministered to as the North by a clansman show compassion to him in five ways:
(i) they protect him when he is heedless,
(ii) they protect his property when he is heedless,
(iii) they become a refuge when he is in danger,
(iv) they do not forsake him in his troubles,
(v) they show consideration for his family.
"The friends and associates thus ministered to as the North by a clansman show their compassion towards him in these five ways. Thus is the North covered by him and made safe and secure.
"In five ways should a master minister to his servants and employees as the Nadir:
(i) by assigning them work according to their ability,
(ii) by supplying them with food and with wages,
(iii) by tending them in sickness,
(iv) by sharing with them any delicacies,
(v) by granting them leave at times.
"The servants and employees thus ministered to as the Nadir by their master show their compassion to him in five ways:
(i) they rise before him,
(ii) they go to sleep after him,
(iii) they take only what is given,
(iv) they perform their duties well,
(v) they uphold his good name and fame.
"The servants and employees thus ministered to as the Nadir show their compassion towards him in these five ways. Thus is the Nadir covered by him and made safe and secure.
"In five ways, young householder, should a householder minister to ascetics and brahmans as the Zenith:
(i) by lovable deeds,
(ii) by lovable words,
(iii) by lovable thoughts,
(iv) by keeping open house to them,
(v) by supplying their material needs.
"The ascetics and brahmans thus ministered to as the Zenith by a householder show their compassion towards him in six ways:
(i) they restrain him from evil,
(ii) they persuade him to do good,
(iii) they love him with a kind heart,
(iv) they make him hear what he has not heard,
(v) they clarify what he has already heard,
(vi) they point out the path to a heavenly state.
"In these six ways do ascetics and brahmans show their compassion towards a householder who ministers to them as the Zenith. Thus is the Zenith covered by him and made safe and secure." Thus spoke the Exalted One. And when the Master had thus spoken, he spoke yet again:
The mother and father are the East,
The Teachers are the South,
Wife and Children are the West,
The friends and associates are the North.
Servants and employees are the Nadir,
The ascetics and brahmans are the Zenith;
Who is fit to lead the household life,
These six quarters he should salute.
Who is wise and virtuous,
Gentle and keen-witted,
Humble and amenable,
Such a one to honor may attain.
Who is energetic and not indolent,
In misfortune unshaken,
Flawless in manner and intelligent,
Such a one to honor may attain.
Who is hospitable, and friendly,
Liberal and unselfish,
A guide, an instructor, a leader,
Such a one to honor may attain.
Generosity, sweet speech,
Helpfulness to others,
Impartiality to all,
As the case demands.
These four winning ways make the world go round,
As the linchpin in a moving car.
If these in the world exist not,
Neither mother nor father will receive,
Respect and honor from their children.
Since these four winning ways
The wise appraise in every way,
To eminence they attain,
And praise they rightly gain.
When the Exalted One had spoken thus, Sigala, the young householder, said as follows:
"Excellent, Lord, excellent! It is as if, Lord, a man were to set upright that which was overturned, or were to reveal that which was hidden, or were to point out the way to one who had gone astray, or were to hold a lamp amidst the darkness, so that those who have eyes may see. Even so, has the doctrine been explained in various ways by the Exalted One.
"I take refuge, Lord, in the Buddha, the Dhamma, and the Sangha. May the Exalted One receive me as a lay follower; as one who has taken refuge from this very day to life's end."

Notes
1. kamma-kilesa, lit., 'actions of defilement.'
2. These are the four agati, 'evil courses of action': chanda, dosa, moha, bhaya.
3. Crimes committed by others.
4. A kind of amusement.
5. The Pali original has here "six causes" as two compound words and one double-term phrase are counted as units.
6. Dhammapada v. 49: "As a bee, without harming the flower, its color or scent, flies away, collecting only the honey..."
7. This portion includes what is spent on good works: gifts to monks, charity, etc.
8. "The symbolism is deliberately chosen: as the day in the East, so life begins with parents' care; teacher's fees and the South are the same word: dakkhina; domestic cares follow when the youth becomes man, as the West holds the later daylight; North is 'beyond' (uttara), so by help of friends, etc., he gets beyond troubles." — (Rhys Davids)
9. This is a sacred custom of the Aryans who never forgot the dead. This tradition is still faithfully observed by the Buddhists of Sri Lanka who make ceremonial offerings of alms to the monks on the eighth day, in the third month, and on each anniversary of the demise of the parents. Merit of these good actions is offered to the departed after such ceremony. Moreover after every punna-kamma (good action), a Buddhist never fails to think of his parents and offer merit. Such is the loyalty and the gratitude shown to parents as advised by the Buddha.
10. lit., 'the folk around' (parijana).

Friday, December 19, 2014

Chữa bệnh bằng Thiền Quán


Hiện nay, mặc dù khoa học công nghệ y học tiên tiến hiện đại, nhiều phương pháp chữa bệnh mới và nhiều loại thuốc men được phát minh. Nhưng những căn bệnh hiểm nghèo vẫn duy trì và khó chữa trị dứt điểm, đặc biệt là căn bệnh ung thư ở Việt Nam ngày càng tăng. Nếu căn bệnh thế kỷ này có thể chữa được với chi phí bằng nhiều tiền hoặc rất nhiều tiền thì thế giới đã không mất đi sớm một Steve Jobs đầy tài năng và giàu có, ông chủ sáng lập của tập đoàn công nghệ nổi tiếng thế giới – Apple Inc. Đại đa số dân nghèo Việt Nam hoặc ở đâu trên thế giới khi bị phát hiện ung thư thì đều coi như bản án tử hình đã được tuyên cho mình. Vì rất ít người có thể bỏ ra hàng trăm ngàn hoặc hàng triệu đô-la Mỹ để lấp vào chi phí điều trị cả ở trong nước hay ra nước ngoài. Đặc biệt trong giai đoạn mà môi sinh ô nhiễm, thức ăn thức uống độc hại lan tràn thì ngay cả bản thân mình cũng chuẩn bị sẵn cho tình huống bản thân có thể mang vào và dính líu. Đã từ sớm mình đã tìm hiểu cách phòng ngừa bằng việc sưu tập các tài liệu y học, vấn đề thực dưỡng, tư duy tâm lý khi những người thân và bạn bè khắp nơi gặp phải. Nhưng có qua thì sẽ có lại, gặp bệnh hiểm nghèo thì coi như nghiệp bất thiện đến hồi cho quả, trời kêu ai nấy dạ! Quy luật tự nhiên của đời người là Sinh-Lão-Bệnh-Tử, bệnh tật thì có nhiều nguyên nhân, trong đó có 4 nguyên nhân chính: bệnh do thời tiết, bệnh do vật thực, bệnh do tâm, bệnh do nghiệp. Bệnh do thời tiết thì khắc phục bảo vệ cơ thể bằng cách phòng lạnh chống nóng không được chủ quan coi thường và y khoa; Bệnh do vật thực thì cũng có cách phòng ngừa bằng tiết chế, thực dưỡng, y khoa can thiệp; Bệnh do tâm thì có môi trường giáo dục, tư vấn tâm lý, môi trường tôn giáo hay tu tập tâm linh khắc phục, nếu thấy thân tâm mệt mỏi thì đừng có sân hận, nếu tham đắm mê muội thì đừng có tham lam vơ vét,…; Còn bệnh do nghiệp thì khỏi phải bận tâm, nhân quả ai làm nấy chịu, nếu thấy chưa đến thời vận thì “đức năng thắng số” vớt vát, thánh nhân “thất thập cổ lai hy” ra đi nhẹ nhàng đúng thời vận, mặt không ngoảnh lại, tay không nắm giữ!
Vì có như lý tác ý một cơ thể khỏe mạnh khi đang còn nhiều tuổi thọ để thực tập con đường đoạn tận phiền não khổ đau, một người với tâm lý không muốn sự can thiệp mổ xẻ tốn kém và có thiện tâm trong sạch muốn tinh tấn thực tập chánh niệm sớm đoạn tận phiền não, nghĩ rằng đây là cơ hội của “tinh tấn ba-la-mật” vô tình gặp “tinh tấn giác chi” thì người đó có thể tự chữa bệnh bằng thiền Quán, hay còn gọi là thiền Tuệ, thiền Minh Sát (Vipassanā Bhāvanā). Trong Tam Tạng Kinh Điển Pāḷi, bộ Kinh Tương Ưng, có các bài Kinh (3 bài) nói về trường hợp các bậc Đại Trưởng lão ngày xưa và ngay cả Đức Phật cũng đã tự chữa khỏi căn bệnh khi nghe tụng đọc lại bài Kinh về Thất Giác Chi và duy trì Niệm được liên tục lên các cảm thọ của cơn bệnh. Đây cũng là lợi ích không ngờ của việc công phu tụng kinh trong Đạo Phật:

PTS: S, IV, 79

Gilānasuttaṃ

Evaṃ me sutaṃ. Ekaṃ samayaṃ bhagavā rājagahe viharati veluvane kalandakanivāpe. Tena kho pana samayena āyasmā mahākassapo pipphaliguhāyaṃ [Pippali - machasaṃ] viharati ābādhiko dukkhito bāḷhagilāno. Atha kho bhagavā sāyanhasamayaṃ paṭisallanā vuṭṭhito yenāyasmā mahākassapo tenupasaṅkami. Upasaṅkamitvā paññatena āsane nisīdi. Nisajja kho bhagavā āyasmantaṃ mahākassapaṃ etadavoca: "kacci te kassapa, khamanīyaṃ? Kacci yāpanīyaṃ? Kacci dukkhā vedanā? Paṭikkamanti no abhikkamanti? Paṭikkamosānaṃ paññāyati no abhikkamo?Ti na me bhante, khamanīyaṃ. Na yāpanīyaṃ bāḷhā me dukkhā vedanā abhikkamanti, no paṭikkamanti. Abhikkamosānaṃ paññāyati, no paṭikkamo"ti.
"Sattime kassapa bojjhaṅgā mayā sammadakkhātā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbāṇaya saṃvattanti. Katame satta: satisambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Dhammavicayasambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Viriyasambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Pītisambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Passaddhisambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Samādhisambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Upekhāsambojjhaṅgo kho kassapa, mayā sammadakkhāto bhāvito bahulīkato. Abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattati. Ime kho kassapa, satta bojjhaṅgā mayā sammadakkhānā bhāvitā bahulīkatā abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṃvattantīti. Taggha bhagava [Bhagavā - machasaṃ, syā], bojjhaṅgā, taggha sugata, bojjhaṅgāti.
Idamavoca bhagavā. Attamano āyasmā mahākassapo bhagavato bhāsitaṃ abhinandi. Vuṭṭhāhi [Vuṭṭhahi - machasaṃ, syā] cāyasmā mahākassapo tamhā ābādhā. Tathā pahīno ca āyasmato mahākassapassa so ābādho ahosīti.
(Paṭhamagilānasutta,Mahāvaggasamyutta, Samyuttanikāya)

Kinh Bệnh (1)

Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Vương Xá, rừng Trúc Lâm, tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.
Lúc bấy giờ, Tôn giả Mahà Kassapa trú ở hang Pipphalì, bị bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Mahà Kassapa; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.
Ngồi xuống, Thế Tôn nói với Tôn giả Mahà Kassapa :
- Này Kassapa, Ông có kham nhẫn được chăng? Ông có chịu đựng được chăng? Có phải khổ thọ giảm thiểu, không có tăng trưởng? Có phải có triệu chứng giảm thiểu, không có tăng trưởng?
- Bạch Thế Tôn, con không thể kham nhẫn, con không thể chịu đựng. Khổ thọ kịch liệt tăng trưởng nơi con, không có giảm thiểu. Có triệu chứng tăng trưởng, không có giảm thiểu.
- Này Kassapa, bảy giác chi này do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Thế nào là bảy? Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn... Xả giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Bảy giác chi này, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
- Thật vậy, bạch Thế Tôn, chúng là giác chi. Thật vậy, bạch Thiện Thệ, chúng là giác chi.
Thế Tôn thuyết như vậy, Tôn giả Mahà Kassapa hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy. Và Tôn giả Mahà Kassapa được thoát khỏi bệnh ấy. Bệnh ấy của Tôn giả Mahà Kassapa được đoạn tận như vậy.
(Kinh Bệnh I, Phẩm Về Bệnh, Tương Ưng Giác Chi, Thiên Đại Phẩm, Tương Ưng Bộ - HT. Minh Châu dịch Việt)

Gilana Sutta I: Ill
translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu © 1997

I have heard that on one occasion the Blessed One was staying in Rajagaha in the Bamboo Grove, the Squirrels' Sanctuary. And on that occasion Ven. Maha Kassapa was staying in the Pepper Tree Cave, diseased, in pain, severely ill. Then the Blessed One, in the late afternoon, left his seclusion and went to where Ven. Maha Kassapa was staying. On arrival, he sat down on a prepared seat and said to Ven. Maha Kassapa, "I hope you are getting better, Kassapa. I hope you are comfortable. I hope that your pains are lessening and not increasing. I hope that there are signs of their lessening, and not of their increasing."
"I am not getting better, lord. I am not comfortable. My extreme pains are increasing, not lessening. There are signs of their increasing, and not of their lessening."
"Kassapa, these seven factors for Awakening rightly taught by me, when developed and pursued, lead to direct knowledge, to self-Awakening, to Unbinding. Which seven?
"Mindfulness as a factor for Awakening rightly taught by me, when developed and pursued, leads to direct knowledge, to self-Awakening, to Unbinding.
"Analysis of qualities as a factor for Awakening, rightly taught by me, when developed and pursued, leads to direct knowledge, to self-Awakening, to Unbinding.
"Persistence as a factor for Awakening...
"Rapture as a factor for Awakening...
"Serenity as a factor for Awakening...
"Concentration as a factor for Awakening...
"Equanimity as a factor for Awakening rightly taught by me, when developed and pursued, leads to direct knowledge, to self-Awakening, to Unbinding.
"Kassapa, these are the seven factors for Awakening rightly taught by me that — when developed and pursued — lead to direct knowledge, to self-Awakening, to Unbinding."
"They are indeed factors for Awakening, O Blessed One. They are indeed factors for Awakening, O One Well-Gone."
That is what the Blessed One said. Gratified, Ven. Maha Kassapa delighted in the Blessed One's words. And Ven. Maha Kassapa recovered from his disease. That was how Ven. Maha Kassapa's disease was abandoned.
[Source: "Gilana Sutta: Ill" (SN 46.14), translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu. Access to Insight (Legacy Edition), 30 November 2013, http://www.accesstoinsight.org/tipitaka/sn/sn46/sn46.014.than.html]

*** Ngài thiền sư Sayādaw Mahāsi có kể lại nhiều trường hợp các thiền sinh của mình đã tự khỏi bệnh sau quá trình tu tập thiền Quán nhờ duy trì pháp Niệm không gián đoạn suốt cả ngày lẫn đêm.
Phương pháp Tây y nói rằng: Nếu những tiểu vi sinh tốt (tiểu thể tốt) với sự hỗ trợ của thuốc men mà chiến thắng những tiểu vi sinh xấu (vi khuẩn, vi rút,…) bằng cách tiêu diệt chúng, thời sẽ có sự bình phục. Cũng vậy, người ta có thể nói: Chứng bệnh được chữa khỏi bởi vì các Sắc xấu (Du-rūpa) biến mất, hay bị thay thế sau khi bị Sắc tốt (Su-rūpa) tẩy trừ qua pháp Niệm nói riêng và pháp Thất Giác Chi nói chung. “Niệm giác chi, này Kassapa, do Ta chơn chánh thuyết giảng, được tu tập, được làm cho sung mãn, đưa đến thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn”. Niết-bàn là sự chấm dứt tất cả ô nhiễm, tất cả mọi khổ đau. Ở đây pháp Niệm được duy trì liên tục, không gián đoạn vào các cảm thọ khổ, và thân sắc,… sẽ tạo nên những Sắc tốt (Rūpa-ja-citta) sẽ tẩy trừ và thay thế Sắc xấu để đưa đến sự chấm dứt khổ đau, tức căn bệnh được đẩy lùi, các tế bào bệnh bị loại trừ! Niệm Giác Chi được ưu tiên đầu tiên trong tu tập tâm và phát triển tâm sung mãn vì có bài Kinh Tứ Niệm Xứ đã hướng dẫn rõ ràng “Ekamaggo” và Niệm có chức năng làm quân bình và phát triển đồng đều Ngũ Căn, Ngữ Lực. Niệm làm cho Tín và Tuệ tăng trưởng đồng đều, Tấn và Định cũng như vậy. Ở đất nước mà phương pháp tu tập và hành trì thiền tập Tứ Niệm Xứ, Thất Giác Chi còn thịnh hành và mọi tầng lớp người dân hưởng ứng như xứ Myanmar, thì ngoài lợi ích mang lại sức khỏe cộng đồng, công tác thiện nguyện và tăng trưởng nghiệp phước thiện lành, họ còn là đất nước được tiếng là rộng lượng nhất thế giới do Quỹ Hỗ Trợ Từ Thiện công bố!
Và pháp Niệm Giác Chi “coi ngó” các cảm thọ sinh diệt do bệnh tật, u nang,… là công phu chính trong cuộc đời phát triển tâm linh của “Bậc Trí”!
**TP. PA**

Saturday, December 13, 2014

Hiện Pháp Lạc Trú

Một thời, Tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) và Tôn giả Mahà Kotthika trú ở Bàrànasi (Ba-la-nại), tại Isipatana (Chư Thiên đọa xứ), vườn Lộc Uyển.
Rồi Tôn giả Mahà Kotthika, vào buổi chiều, từ Thiền tịnh đứng dậy, đi đến Tôn giả Sàriputta... thưa như sau:
- Thưa Hiền giả Sàriputta, những pháp gì Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý?
- Này Hiền giả Kotthika, Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỷ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỷ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu.
- Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Sàriputta, những pháp gì cần phải như lý tác ý?
- Với Tỷ-kheo đã chứng quả Dự lưu, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Dự lưu, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Nhứt lai.
- Nhưng Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Sàriputta, phải như lý tác ý các pháp gì?
- Tỷ-kheo Nhứt lai, này Hiền giả Kotthika, phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Nhứt lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Bất lai.
- Nhưng Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý những pháp gì?
- Tỷ-kheo Bất lai, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã. Sự kiện này có thể xảy ra, này Hiền giả, Tỷ-kheo Bất lai, do như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả A-la-hán.
- Nhưng vị A-la-hán, này Hiền giả Sàriputta, cần phải như lý tác ý các pháp gì?
- Vị A-la-hán, này Hiền giả Kotthika, cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn này là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
Với vị A-la-hán, này Hiền giả, không có gì phải làm nữa, hay không có phải thêm gì nữa trong công việc làm. Nhưng sự tu tập, làm cho sung mãn những pháp này sẽ đưa đến hiện tại lạc trú và chánh niệm tỉnh giác.
(Kinh Vị Giữ Giới, Thiên Uẩn, Tương Ưng Bộ - HT. Minh Châu dịch Việt)

PTS: S, iii, 167

Ekaṃ samayaṃ āyasmā sāriputto āyasmā ca mahākoṭṭhito [Mahā koṭṭhīko - machasaṃ], bārāṇasiyaṃ viharanti isipatane migadāye. Atha kho āyasmā mahākoṭṭhito - sāyanhasamayaṃ paṭisallānā vuṭṭhito yenāyasmā sāriputto tenupasaṃkami, upasaṃkamitvā āyasmatā sāriputtena saddhiṃ sammodi, sammodanīyaṃ kathaṃ sāraṇīyaṃ vītisāretvā ekamantaṃ nisīdi. Ekamantaṃ nisinno kho āyasmā mahākoṭṭhato āyasmantaṃ sāriputtaṃ etadavoca: "sīlavatā āvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasikātabbā"ti.
Sīlavatāvuso koṭṭhita, bhikkhunā pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato rogato gaṇḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato yoniso manasikātabbā. Katame pañca, seyyathīdaṃ: rūpupādānakkhandho vedanupādānakkhandho saññupādānakkhandho saṅkhārupādānakkhandho viññāṇupādānakkhandho sīlavatāvuso koṭṭhita, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotapattiphalaṃ sacchikareyyāti. Anattato yeniso manasi karonto sotāpattiphalaṃ sacchikareyyāti ṭhānaṃ kho panetaṃ āvuso, vijjati yaṃ sīlaṃ bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotāpattiphalaṃ sacchikareyyāti anattato yoniso mananasi karonto sotāpatiphalaṃ sacchikareyyāti.
Sotāpannena panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasikātabbāti.
Sotaṃpannena'pi kho āvuso koṭṭhita, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotapattiphalaṃ sacchikareyyāti. Anattato yoniso manasikātabbo, ṭhānaṃ kho panetaṃ āvuso, vijjati yaṃ sotāpanno bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotāpattiphalaṃ sacchikareyyāti anattato yoniso mananasi karonto sakadāgāmīphalaṃ sacchikareyyāti.
Sakadāgāminā panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasikātabbāti.
Sakadāgāmināpi kho āvuso koṭṭhita, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotapattiphalaṃ sacchikareyyāti. Anattato yeniso manasikātabbo, ṭhānaṃ kho panetaṃ āvuso, vijjati yaṃ sakadāgāmi bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotāpattiphalaṃ sacchikareyyāti anattato yoniso mananasi karonto anāgāmiphalaṃ sacchikareyyāti.
Anāgāminā panāvuso sāriputta, bhikkhunā katame dhammā yoniso manasikātabbāti? Anāgāmināpi kho āvuso koṭṭhita, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotapattiphalaṃ sacchikareyyāti. Anattato yeniso manasikātabbo, ṭhānaṃ kho panetaṃ āvuso, vijjati yaṃ anāgāmī bhikkhu ime pañcupādānakkhandhe aniccato dukkhato yoniso manasi karonto sotāpattiphalaṃ sacchikareyyāti anattato yoniso mananasi karonto arahattaphalaṃ [Arahattaṃ - machasaṃ, syā] sacchikareyyāti.
Arahatā panāvuso sāriputta, katame dhammā yoniso manasikātabbāti.
Arahatā'pi kho āvuso koṭṭhita, bhikkhunā ime pañcupādānakkhandhā aniccato dukkhato rogāto ghaṇaḍato sallato aghato ābādhato parato palokato suññato anattato yoniso manasikātabbo, natthi kho āvuso, arahato uttariṃ karaṇīyaṃ, katassasa vā paticayo [Paṭiccayo - syā, PTS] api ca ime dhammā bhāvitā bahulīkatā diṭṭhadhammasukhavihāraya ceva saṃvattanti satisampajaññāya cāti.
(Sīlavanta suttaṃ, Khandhakavagga, Saṃyuttanikāya, Suttantapiṭaka)

Silavant Sutta: Virtuous
translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu © 1998

On one occasion Ven. Sariputta & Ven. Maha Kotthita were staying near Varanasi in the Deer Park at Isipatana. Then Ven. Maha Kotthita, emerging from seclusion in the late afternoon, went to Ven. Sariputta and, on arrival, exchanged courteous greetings with him. After an exchange of friendly greetings & courtesies, he sat to one side. As he was sitting there, he said to Ven. Sariputta, "Sariputta my friend, which things should a virtuous monk attend to in an appropriate way?"
"A virtuous monk, Kotthita my friend, should attend in an appropriate way to the five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. Which five? Form as a clinging-aggregate, feeling... perception... fabrications... consciousness as a clinging-aggregate. A virtuous monk should attend in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. For it is possible that a virtuous monk, attending in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant... not-self, would realize the fruit of stream-entry."
"Then which things should a monk who has attained stream-entry attend to in an appropriate way?"
"A monk who has attained stream-entry should attend in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. For it is possible that a monk who has attained stream-entry, attending in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant... not-self, would realize the fruit of once-returning."
"Then which things should a monk who has attained once-returning attend to in an appropriate way?"
"A monk who has attained once-returning should attend in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. For it is possible that a monk who has attained once-returning, attending in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant... not-self, would realize the fruit of non-returning."
"Then which things should a monk who has attained non-returning attend to in an appropriate way?"
"A monk who has attained non-returning should attend in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. For it is possible that a monk who has attained non-returning, attending in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant... not-self, would realize the fruit of arahantship."
"Then which things should an arahant attend to in an appropriate way?"
"An arahant should attend in an appropriate way to these five clinging-aggregates as inconstant, stressful, a disease, a cancer, an arrow, painful, an affliction, alien, a dissolution, an emptiness, not-self. Although, for an arahant, there is nothing further to do, and nothing to add to what has been done, still these things — when developed & pursued — lead both to a pleasant abiding in the here-&-now and to mindfulness & alertness."

P/s: Thành ngữ: “diṭṭhadhammasukhavihāra”, dịch nghĩa là Hiện pháp lạc trú, Hiện tại lạc trú,  hay Sống an lạc trong hiện tại.
Theo từ điển Pali-Việt của TL. Bửu Chơn:
[Diṭṭha (pp. của passati) thấy. nt. trông thấy. Diṭṭhadhamma m. đời hiện tại. adj. người được giác ngộ đến mục tiêu cuối cùng.]
* Đối với bậc Thánh A-ra-hán, là người đã được giác ngộ đến mục tiêu cuối cùng, đã đoạn tận phiền não khổ đau, đã buông gánh nặng xuống, việc cần làm đã làm xong, không còn trở lui đời sống này nữa, nên vị ấy sống an lạc trong đời sống hàng ngày vì không còn bị lậu hoặc chi phối, chỉ thỉnh thoảng còn cảm thọ khổ về thân vì còn mang cái thân ngũ uẩn thô trược này. Nên Diṭṭhadhamma mang nghĩa thứ 2 ở trên.
* Còn đối với hành giả phàm phu chưa bước vào dòng Thánh, Diṭṭhadhamma mang nghĩa thứ nhất. Hành giả phàm phu lấy việc thấy Pháp để  nuôi dưỡng sự an lạc trong đời sống tu tập giải thoát khổ hàng ngày, có thể gọi là nếm được hương vị hạnh phúc an lạc do thực hành Pháp của Đức Phật đã để lại; hương vị của Giới, của Định và của Tuệ. Hiểu thành ngữ đó một cách thô thiển là: Sống an lạc sau khi đã thấy và đã biết rõ Pháp Phật. (Ngày nay có cả một rừng rậm pháp, thật không dễ để phân biệt đâu là Pháp Phật đâu là "pháp" nói chung!). Muốn được an vui trong cuộc sống thì tất cả hành giả là vị giữ giới, là bậc Thánh thứ nhất, bậc Thánh thứ nhì, bậc Thánh thứ ba, ngay cả bậc Thánh A-ra-hán đều cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn (ngũ uẩn chấp thủ) là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.
**TP.PA st

Friday, December 5, 2014

Bạn Hữu


1. - Thành tựu bảy chi phần, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn. Thế nào là bảy?
2. - Cho những gì khó cho, làm những gì khó làm, nhẫn những gì khó nhẫn, nói lên những gì bí mật của mình, che giấu bí mật của người khác, không từ bỏ khi gặp bất hạnh, không có khinh rẻ khi tài sản khánh tận.
Thành tựu bảy chi phần này, này các Tỷ-kheo, một Tỷ-kheo cần phải thân cận như một người bạn.

Bạn cho điều khó cho,
Làm những điều khó làm,
Kham nhẫn những lời nói,
Thật khó lòng kham nhẫn,
Nói lên bí mật mình,
Che giấu bí mật người,
Bất hạnh, không từ bỏ,
Khánh tận, không chê khinh,
Trong những trường hợp trên,
Tìm được người như vậy,
Với ai cần bạn hữu,
Hãy gần bạn như vậy.
(Kinh Bạn Hữu, Bộ Kinh Tăng Chi, HT. Minh Châu dịch Việt)

PTS: AN, IV, 031
(Mitta suttaṃ)
(Sāvatthinidānaṃ)
Sattahi bhikkhave, aṅgehi samannāgato mitto sevitabbo, katamehi sattahī: 
Duddadaṃ dadāti, dukkaraṃ karoti, dukkhamaṃ khamati, guyhamassa āvikaroti, guyhaṃ assa pariguhati, āpadāsu na jahati, khīṇena nātimaññati. Imehi kho bhikkhave, sattahaṅgehi samannāgato mitto sevitabboti. 

Duddadaṃ dadāti vittaṃ1 dukkaraṃ cāpi kubbati, 
Athopissa duruttāni khamati dukkhamānipi. 

Guyhaṃ cassa2 akkhāti guyhassa parigūhati, 
Āpadāsu na jahāti khīṇena nātimaññati, 

Yasmiṃ etāni ṭhānāni saṃvijjantīdha puggale, 
So mitto mittakāmena bhajitabbo tathāvidhoti.
[1. Duddadaṃdadāti mitto machasaṃ; 2. Guyhañca tassa machasaṃ]

"Monks, a friend endowed with seven qualities is worth associating with. Which seven? He gives what is hard to give. He does what is hard to do. He endures what is hard to endure. He reveals his secrets to you. He keeps your secrets. When misfortunes strike, he doesn't abandon you. When you're down & out, he doesn't look down on you. A friend endowed with these seven qualities is worth associating with."

He gives what is beautiful,
   hard to give,
does what is hard to do,
endures painful, ill-spoken words.

His secrets he tells you,
your secrets he keeps.

When misfortunes strike,
   he doesn't abandon you;
when you're down & out,
   doesn't look down on you.

A person in whom these traits are found,
is a friend to be cultivated
by anyone wanting a friend.
(Mitta Sutta: A Friend, translated from the Pali by Thanissaro Bhikkhu)
**TP.PA sưu tầm.