Tuesday, October 8, 2013

Những gánh quà sáng xứ Huế

Sao quên được những gánh quà sáng ở Huế, nó làm rộn ràng, huyên náo cả một góc ngã tư nhưng quá đỗi gần gũi, thân thuộc. Tự bao giờ đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần và ẩm thực nơi đây.

Khi còn nhỏ, sáng nào mẹ cũng ra đầu ngõ mua quà điểm tâm cho chúng tôi. Hồi đó phụ nữ không có thói quen ăn hàng ở vỉa hè như bây giờ. Tất cả đồ ăn làm sẵn được mua về ăn tại nhà, chứ con gái mới lớn cha mẹ không cho ăn vặt ở ngoài đường. Đầu ngõ nhà tôi hầu như là tập hợp của những gánh hàng quà đặc trưng nhất ở Huế. Tôi nhớ không lầm có đến gần chục món ăn được bày bán ở ngã tư Âm hồn, nội thành Huế.

Món quà sáng tôi ưa chuộng nhất thời đó là một tô cháo gạo đỏ thơm phức mùi lá dứa với một ít cá bống thệ kho rim hay có khi chỉ là một gói xôi nóng hổi bọc trong lá chuối với một nhúm muối mè. Nó giúp tôi ấm bụng vào những sớm mùa đông giá rét đi bộ đến trường. Thỉnh thoảng vào chủ nhật tôi mới có thì giờ thong thả để thưởng thức những món ngon khác như bún bò giò heo, bánh canh cua, xôi bắp. Nhìn vào gánh bún đã thấy hấp dẫn quá chừng với nồi nước bún nổi váng đỏ tươi gợi lên cảm giác cay xè vì có nhiều ớt.

Mỗi khi cô bán bún dùng cái vá để múc nước dùng vào tô, xăm xắp trong đó là những miếng chả cua béo ngậy, miếng giò búp săn chắc hay những lát thịt bò gân mềm mại, vừa húp nước bún nóng hổi vừa cắn một ít ớt hiểm cay xè thật là đã đời. Bên cạnh là gánh khoai sắn bốc khói nghi ngút, thơm lừng mà ai cũng muốn mua thêm để đến giữa buổi có cái lót dạ. Thỉnh thoảng tôi lại đổi món, ăn bánh canh Nam Phổ, nhìn nồi bột bốc khói thơm lừng, ở trên nổi tôm thịt vàng óng.

Tiết trời se lạnh, bưng trên tay tô bánh canh nóng hổi, vừa thổi vừa húp, vị ngọt của tôm tươi và gạch cua cứ đọng mãi trên đầu lưỡi. Ngồi ở cuối hàng là cô bán cơm hến lúc nào cũng có nhiều thực khách vây quanh. Gánh hàng nổi bật bởi nhiều màu sắc và hương vị, nồi nước luộc hến trắng ngà đang sôi sùng sục, từng xấp bánh tráng vàng ươm, giòn rụm, chén ớt chưng đỏ thắm, tô hành phi, đậu phụng rang mỡ màng.

Bắt mắt nhất là rổ rau sống với đầy đủ loại rau tươi rói như rau thơm, rau muống chẻ, rau tía tô, bắp chuối bào. Vị mặn mòi của ruốc biển, ngọt bùi của những con hến bé xíu, vị béo của tóp mỡ, cái giòn của đậu phụng và bánh tráng, cái mát lạnh của mớ rau sống ăn kèm và độc đáo nhất là miếng cơm nguội làm dịu đi vị cay xé lưỡi của ớt. Tất cả giao hòa với nhau làm nên hương vị tuyệt hảo của món ăn bình dân, đầy màu sắc và âm thanh, kích thích tất cả giác quan trong cơ thể.

Số ít người không thích dùng món cơm hến, có thể là do vị nồng của ruốc, vị cay tận óc của ớt hiểm, nhưng cảm giác ngắm nhìn người khác vừa ăn cơm hến vừa hít hà, chảy nước mắt nước mũi, toát mồ hôi cũng thú vị lắm. Nói không ngoa, cơm hến là món ăn “quốc hồn quốc túy” của người Huế.

Đầu xuân, tôi thường nhắc mẹ mua cho những trái bắp ở cồn Hến nóng hổi và ngọt lịm. Đó là thứ quà sáng giản dị mà tiện lợi nhất, đã đi khắp nơi nhưng chưa ở đâu tôi lại thấy bắp mềm mại, dẻo, bùi và thơm như bắp trồng ở bãi cồn này. Mùa bắp đi qua vẫn còn món xôi bắp cho những ai ghiền và nhớ món này. Xôi bắp được nấu rất công phu, bắp khô được ngâm trong nước vôi trong, sau đó chà thật kỹ, hầm nhiều giờ cho thật mềm sau đó hong lên với nếp. Tôi thích được ngắm nhìn cô bán hàng xới một ít xôi bắp ra dĩa bằng cái chén sành con con, rồi bào từng lát đậu xanh tơi bột lên trên, sau đó mới cho đậu đường và một ít dầu béo khử hành là xong.

Hai bàn tay cô nhanh thoăn thoắt, như đang múa trên gánh hàng. Còn nhiều món quà hấp dẫn khác tôi hay được ăn như bánh bột lọc bọc tôm thịt, bánh bèo, bánh nậm, những món bánh dung dị mà thấm đẫm hương đồng gió nội, cái tinh túy của nắng mưa ở mảnh đất miền Trung khắc nghiệt này. Chỉ hình dung lại thôi đã thấy bồi hồi, nhớ nhung, quay quắt trong lòng.

Sao quên được những gánh quà sáng ở Huế, nó làm rộn ràng, huyên náo cả một góc ngã tư nhưng quá đỗi gần gũi, thân thuộc, tự bao giờ đã trở thành một phần không thể thiếu được trong đời sống tinh thần và ẩm thực nơi đây. Trong câu chuyện của những người con xa xứ bên ly cà phê, hầu như không quên đề cập đến những món ăn yêu thích xưa, có thể để vơi đi nỗi nhớ và tìm đồng minh cho câu chuyện của mình.

Trải qua bao biến thiên, bộn bề lo toan trong cuộc sống, từng nếm trải hầu hết mùi vị đắng cay ngọt bùi, nhưng trong tiềm thức của tôi chỉ còn đọng lại hương vị tuyệt vời của những món ăn giản dị ở quê nhà. Ước ao sau này nghỉ hưu, tôi lại về sống ở Huế những ngày tháng êm đềm bên bạn bè, người thân yêu để được hàn huyên, tâm sự, thưởng thức những món quà quê thân thiết, đậm đà.

Hàn Linh

Theo Vnexpress.net

P/s: Đọc bài này làm tôi nhớ những ngày tháng học trò của mình năm xưa quá! Nhớ những bữa sáng ăn vội trước lúc đến trường, nhớ những ngõ hẻm phố nhỏ cong queo, nhớ con đường “phượng bay” mỗi trưa đạp xe đi học. Xin cám ơn tác giả bài viết!

Sunday, September 1, 2013

Thờ Phật như thế nào?



Cúng dường lên đức Phật bằng cách HÀNH ĐẠO là cao thượng nhất. Tuy nhiên, đó là nói về Lý. Còn Sự để tỏ lòng thành kính lên đấng CHÍ TÔN người Phật tử cũng có thể dùng hương, đèn, trầm, hoa lên cúng Phật với đầy đủ Lý và Sự cũng được chấp nhận là hiệp theo lẽ Đạo.

Sách "MINH TÂM BỬU GIÁM" có bài Kệ như sau:
LỄ PHẬT GIẢ, KÍNH PHẬT CHI ĐỨC
NIỆM PHẬT GIẢ, CẢM PHẬT CHI ÂN
KHÁN KINH GIẢ, MINH PHẬT CHI LÝ
TỌA THIỀN GIẢ, ĐĂNG PHẬT CHI CẢNH
CHỨNG NGỘ GIẢ, ĐẮC PHẬT CHI ĐẠO.

1. "LỄ PHẬT GIẢ, KÍNH PHẬT CHI ĐỨC" có nghĩa là lạy Phật, ta kính trọng cái đức của Phật, Ân đức trọn lành là BI, TRÍ, TỊNH của đấng ĐẠI GIÁC NGỘ, là tấm gương vô cùng cao quý, đáng cho chúng sanh lễ bái cúng dường.

2. "NIỆM PHẬT GIẢ, CẢM PHẬT CHI ÂN": Niệm tưởng hồng danh ba Đời chư Phật, là nhớ ơn cao dày, hoàn toàn bi mẫn, thương xót mọi người, mọi loài mà các Ngài đã từng hy sinh thân mạng máu xương trong vô lượng kiếp, bổ túc MƯỜI PHÁP BA LA MẬT tròn đủ, đã xả thân cầu đạo, mong cứu độ quần sanh, ví như cha mẹ đêm ngày dãi nắng dầm mưa để tạo ra cơm, áo tài sản cho các con được an vui sung sướng.

3. "KHÁN KINH GIẢ, MINH PHẬT CHI LÝ": Nghĩa là xem xét đọc tụng kinh, để suy nghiệm cho hiểu biết nghĩa lý lời vàng, tiếng ngọc của đức Phật đã giáo truyền, để thấy rõ thế nào là phải, thế nào là trái, đâu là nẻo chánh, đường tà, thế nào là lành, thế nào là dữ, đâu là sự khổ, đâu là nẻo vui, mà cố gắng hành theo cho được kết quả tốt đẹp.

4. "TOẠ THIỀN GIẢ, ĐĂNG PHẬT CHI CẢNH": Ngồi tham thiền, lắng lòng trong sạch thanh tịnh chú tâm trong đề mục chỉ quán hay minh sát để đè nén diệt trừ phiền não, trau dồi tâm cho sạch, sáng suốt, quán thấy vạn vật là vô thường, khổ, vô ngã và bất tịnh.

5. "CHỨNG NGỘ GIẢ, ĐẮC PHẬT CHI ĐẠO": Mục đích của PHẬT GIÁO là chuyển mê khai ngộ, ly khổ đắc lạc. Vì mê lầm ngã chấp, cho vạn hữu là của TA. Vợ ta, con ta, gia tài sự sản của ta, rồi bo bo giữ lấy, làm cho tâm trí phải lo âu thống khổ. Khi tham thiền, quán tưởng, nhận thấy các pháp hữu vi đều phải chịu dưới sự chi phối của định luật vô thường hằng biến đổi, mà thức tỉnh cõi lòng để diệt trừ TAM ĐỘC là THAM SÂN và SI.

Tuy còn mang thân xác này, nhưng tâm trí đã được nhẹ nhàng minh mẫn, sáng suốt không còn bị ô nhiễm đắm đuối theo mùi trần, không còn bị phiền não lay động tâm, há chẳng phải là đạt đến cảnh giới NIẾT BÀN TỰ TẠI của chư Phật rồi sao?

NGƯỜI CƯ SĨ CÓ THỜ HÌNH TƯỢNG PHẬT ĐƯỢC KHÔNG?

Thờ phụng ảnh tượng cũng chỉ là phương tiện lấy giả để tầm chân, mượn cái có để nhắc nhở nội tâm đó thôi. Chứ thật ra tượng gỗ hay tượng đất tượng đồng hay xi măng cốt sắt, hình giấy hay ảnh lụa cũng chỉ là những vật liệu do con người cấu trúc kiến tạo ra, chứ đâu có phải đức Phật ngồi đó?

Có điều, mượn hình thức giả tạm đó để nhắc nhở tâm, ví như ta treo tấm gương để soi chiếu, để lau chùi rửa ráy mặt mình cho sạch sẽ gọi là LÝ. Còn treo gương để làm cảnh, để trang hoàng chưng diện cho đẹp, thì chỉ là sự giả tướng mà thôi.

Có Sự mà không hiểu LÝ thì gọi là TÙ MÙ. Bằng chấp LÝ mà bỏ SỰ (Phật tại Tâm) thì coi như khô khan thiếu sót (cũng được gọi là TU QUÈ) vậy.

ĐEM HOA QUẢ, VẬT THỰC CÚNG DƯỜNG PHẬT ĐƯỢC KHÔNG?

Đặt trên bàn Phật vài nải chuối với ngũ quả. Năm bảy chén chè, vài chục cái bánh v.v...để gọi là cúng Phật. Hoặc giả có người để đến ba bốn ngày, đến đỗi chè thiu chuối mốc, chứ đức Phật có hưởng chút nào đâu?

Trái lại, ruồi lằn bu đậu, gián, chuột phá phách tiểu dãi trong đó, rồi vô tình đem ăn, sinh bệnh hoạn không khéo lại than trời, trách Phật nữa!

Đức Phật đã lên đường tịch diệt cách đấy hơn 25 thế kỷ mà còn ăn uống nỗi gì? Vả lại nói một cách cho dễ hiểu. Ví như các vị chư thiên thấp nhất của 26 tầng trời là TỨ ĐẠI THIÊN VƯƠNG. Chư vị ấy, vật thực tự nhiên mà có do theo ý muốn, nhờ phước báu của sự bố thí theo hỗ trợ, chứ đâu phải nấu nướng chiên xào, mắm muối tiêu ớt như của thế tục đâu?

Đem vật thực của chúng ta dùng đây, dù là cao lương mỹ vị, sơn hào hải phẩm, dù cho ngon quý báu nhất cõi trần này, đem dâng cúng đến các Ngài, thì chẳng khác nào trâu bò đem rơm cỏ là món ăn ngon nhất của chúng cho loài người dùng có được không?

Vậy thì đức Phật là đấng Chí Tôn Chí Thánh, bậc đã đi đến nơi sáng suốt trọn lành, Ngài đã vượt ra khỏi vòng TAM GIỚI rồi, mà chúng ta lại đem dâng cúng đồ uế trược, phàm tục của chúng ta đến Ngài sao? Vì cố chấp thủ cựu do sự bày đặt của người Trung Quốc mê tín nên chúng ta cứ nhắm mắt làm theo với quan niệm "XƯA BÀY NAY LÀM, TRƯỚC SAO, SAU VẬY" để cho NGOẠI ĐẠO chê cười là "ĐẠO PHẬT MÊ TÍN DỊ ĐOAN".

VẬY CÚNG PHẬT BẰNG GÌ, CHẢ LẼ THỜ KHÔNG VẬY SAO?

Cúng dường lên đức Phật bằng cách HÀNH ĐẠO là cao thượng nhất. Tuy nhiên, đó là nói về Lý. Còn Sự để tỏ lòng thành kính lên đấng CHÍ TÔN người Phật tử cũng có thể dùng hương, đèn, trầm, hoa lên cúng Phật với đầy đủ Lý và Sự cũng được chấp nhận là hiệp theo lẽ Đạo. Cúng dường hiệp theo lẽ Đạo có nghĩa là gì?

Khi thắp đèn lên cho sáng, ta quán niệm: Đây là ngọn đèn tuệ của ba đời chư Phật đã vẹt tan màn bóng tối VÔ MINH đã che án chúng sanh trong vô lượng kiếp. Đốt ba cây nhang là tượng trưng cho ba nén Hương Lòng "TÂM HƯƠNG" có mùi thơm ngào ngạt, đó là hương Giới, hương Định và hương Tuệ hay còn gọi là HƯƠNG TRÍ KIẾN và TRI KIẾN GIẢI THOÁT.

Dâng Hoa lên cúng Phật, chúng ta cũng quán niệm rằng "HOA" này tốt đẹp xinh tươi, nhưng rồi đây nó cũng sẽ úa tàn theo năm tháng.

Cũng như thân ta, vóc huyễn giả tạm nay, rồi cũng sẽ già, đau và chết như thế ấy.

Làm và quán niệm như thế để luôn luôn nhắc nhở tâm ta gọi là cúng dường Sự và Lý đúng theo Lẽ Đạo. Đúng với lòng tôn kính, cao quý lên đức THẾ TÔN.

Trích sách DẪN LỐI VỀ NGUỒN
của Tỳ-khưu Định Lực (Samādhipālo Bhikkhu)

**TP sưu tầm**

Sunday, August 18, 2013

Buddha Jayamaṅgala Gāthā (Kệ Hạnh phúc thù thắng)


1. Bāhuṁ sahassamabhinimmita sāyudhantaṁ
Girimekhalaṁ uditaghorasasenamāraṁ
Dānādidhammavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

Ngữ vựng:
- Bāhu : cánh tay
- Abhinimmita (abhinimmināti): đã tạo ra, đã hóa ra
- Sāyudha (āvudha) : với khí giới
- Anta : cực, rất nhiều
- Girimekhala : tên của một con voi
- Udita (udeti) : đã cỡi
- Ghora : kinh khủng, hung bạo
- Dāna : bố thí
- Vidhina (vidhī) : bằng cách, nhờ
- Jitavantu : chiến thắng
- Muninda : vua ẩn sĩ, bậc Đại Giác
- Tejasā : với uy lực
- Jaya-maṅgala : thắng hạnh, hạnh phúc thù thắng

Nghĩa: (Đức Phật cao thượng hơn các bậc trí tuệ, Ngài đã cảm thắng Ma Vương. Ma Vương biến thành ngàn cánh tay đều cầm khí giới, cưỡi voi Girimekhala đủ cả binh ma, tiếng hét la vang rền. Nhờ Pháp Thập độ, nhất là pháp Bố Thí mà Đức Phật đã cảm thắng được Ma Vương. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

2. Mārātirekamabhiyujjhita sabbarattim
Ghorampanāḷavakamakkhamathaddhayakkhaṁ
Khantīsudantavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Atireka : dư thừa, vượt trội hơn
- Abhiyujjhita (abhiyujjhati) : đã chiến đấu
- Sabba rattiṃ : suốt đêm
- Ālavaka : tên một vị Dạ-xoa
- Makkha : ương ngạnh, hung hãn, thịnh nộ
- Pana… atha : lại nữa, mặt khác, lại càng
- Addha : say sưa, hung hăng
- Khantī : nhẫn nhục
- Sudanta : thuần phục, khéo điều phục

(Đức Phật đã cảm thắng được dạ xoa Āḷavaka rất ngang ngạnh, trổ tài ra oai trọn đêm trước Đức Phật. Dạ xoa rất hung ác và trí lực hơn cả Ma Vương nhưng đã bị Đức Chánh Biến Tri dùng Pháp nhẫn nại thu phục. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

3. Nāḷaāgiriṁ gajavaraṁ atimattabhūtaṁ
Dāvaggicakkamasanīva, sudāruṅantaṁ
Mettambuseka vidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Gaja : voi
- Matta : say
- Ati-matta-bhūta : quá say
- Dāva : sức nóng
- Aggi : lửa
- Dāvaggi : đám cháy rừng
- Cakkamasani : vòng sấm sét
- Dāruṇa : hung dữ, dữ tợn
- Anta : cực kỳ, cùng cực
- Sudāruṇanta : cực kỳ hung dữ
- Ambu : nước
- Seka : sự rải, rưới

(Đức Phật đã cảm thắng được voi dữ Nāḷāgiri đang nổi cơn hung dữ như lửa rừng, như sấm sét bằng cách rải lòng Từ Bi. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người).

4. Ukkhittakhaggamatihaṭṭha sudāruṅantaṁ
Dhāvantiyojanapathaṅgulimālavantaṁ
Iddhībhisaṅkhatamano jitavā Munindo
Tam tejasa bhavatu te jayamangalani. 

- Ukkhitta (ukkhipati) : đưa lên, vung lên
- Khagga : gươm
- Atihaṭṭha : phấn khởi, phấn chấn, phấn khích
- Dhāva : sự chạy
- Ti : 3
- Yojana : do tuần
- Patha : đường
- Aṅguli : ngón tay
- Aṅgulimāla : tràng, vòng ngón tay
- Aṅgulimālavanta : người đeo vòng ngón tay
- Abhisaṅkhata (abhisaṅkharoti): đã sửa soạn, đã chuẩn bị

(Đức Phật dùng phép Thần Thông cảm thắng Aṅgulimāla - tên kẻ cướp sát nhân hung bạo, chuyên giết người lấy ngón tay xỏ làm tràng hoa đeo cổ khi Ngài bị tên cướp cầm gươm rượt xa ba do - tuần. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

5. Katvāna kaṭṭhamudaraṁ iva gabbhinīyā
Ciñcāya duṭṭhavacanaṁ janakāyamajjhe
Santena somavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Katvāna (karoti) : sau khi đã làm
- Kaṭṭha : khúc gỗ
- Udara : bụng
- Gabbhinī : phụ nữ có thai
- Ciñcā : nàng Ciñcā
- Duṭṭhavacana : lời nói xấu, vu khống
- Janakāya : quần chúng
- Santa : trầm tĩnh, bình thản, an tịnh
- Somma : nhã nhặn, hiền hòa

(Đức Phật đã hóa giải những lời vu khống ác độc của nàng Ciñcā khi nàng rắp tâm quấn khúc gỗ giả làm đứa trẻ trong bụng để mang thai. Nhờ dùng Pháp Chánh Định mà Đấng Toàn Tri đã cảm thắng được nàng giữa chốn đông người. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

6. Saccaṁ vihāyamatisaccakavādaketuṁ
Vādābhiropitamanaṁ ati - andhabhūtaṁ
Paññapadīpajalito jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Vihāya (vijahati) : tảng lờ, từ bỏ, từ chối
- Saccaka : tên một du sĩ ngoại đạo
- Ketu : ngọn cờ, phan, phướn
- Vāda : luận thuyết
- Abhiropita (abhiropeti) : chú trọng, tôn thờ
- Andha : mù
- Ati-andha-bhūta : mù tịt, quá ngu si
- Padīpa : ánh sáng, ngọn đèn
- Jalita (jalati) : chiếu sáng, thắp sáng

(Đức Phật sáng suốt nhờ ngọn đèn Tuệ, Ngài đã cảm thắng kẻ ngoại đạo Saccaka là kẻ không ngay thật, chỉ ưa sự phỉnh nịnh và kiêu căng, là kẻ rất u mê chẳng khác gì người mù. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

7. Nandopanandabhujagaṁ vibudhaṁ mahiddhiṁ
Puttena therabhujagena damāpayanto
Iddhūpadesavidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Nandopananda : tên một Long vương
- Bhujaga : rồng rắn
- Vibuddha : không giác ngộ, tà kiến
- Putta : con trai
- Thera : Trưởng lão (chỉ ngài Mục-Kiền-Liên)
- Bhujagena : bằng thân rồng
- Dama : điều phục
- Upayanta (upayāti) : tiếp cận, đến gần
- Upadesa (upadasseti) : sự khuyên dạy, chỉ bày

(Đức Phật dạy Đại đức Moggallāna biến làm Long Vương để thu phục rồng chúa Nandopananda, là rồng chúa có nhiều thần thông nhưng đầy tà kiến. Nhờ dạy Đại đức Moggallāna mà Đức Chánh Biến Tri đã nhiếp phục được rồng chúa ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

8. Duggāhadiṭṭhibhujagena sudaṭṭhahatthaṁ
Brahmaṁ viduddhijutimiddhibakābhidhānaṁ
Ñāṅāgadena vidhinā jitavā Munindo
Taṁ tejasā bhavatu te jayamaṅgalani. 

- Duggāha (du + gāha) : ác thủ (chấp điều ác)
- Gāha (gaṇhāti) : nắm
- Su-daṭṭha (dasati) : bị (khéo) cắn
- Hattha : tay
- Visuddhi : thanh tịnh
- Juti : chói lọi, rực rỡ
- Baka : tên một vị Phạm thiên
- Abhidhāna : tự xưng, tên
- Agada : thuốc chữa bệnh

(Đức Phật đã cảm thắng Đại Phạm Thiên Baka có thần thông, là vị tự cho mình là cao thượng, có đức trong sạch nên đã chấp hẳn vào tà kiến. Nhờ Giác Tuệ mà Đấng Chánh Biến Tri đã nhiếp phục được Đại Phạm Thiên ấy. Do nhờ Phật lực này, xin cho sự hạnh phúc phát sinh đến người) 

Etāpi Buddhajayamaṅgalaṭṭhagāthā
Yo vācako dinadine sarate matandī
Hitvāna nekavividhāni cupaddavāni
Mokkhaṁ sukhaṁ adigameyya naro sapañño.

- Gāthā : kệ tụng, thơ
- Vācana : học thuộc lòng, tụng
- Dina-dine : hàng ngày
- Sarate (sarati) : ghi nhớ, niệm
- Ma (mā) : không, đừng
- Tandī : mệt mỏi, uể oải
- Hitvāna (jahati) : sau khi đã loại bỏ
- Neka (na + eka) : nhiều thứ
- Vividha : nhiều lần
- Upaddava : sự thống khổ, tai ương
- Mokkha : sự giải thoát
- Adhigameyya (adhigameti) : có thể đạt được
- Nara : người
- Sapañña : có trí khôn ngoan

(Những người có trí tuệ, không biếng nhác, thường ngày hằng tụng hoặc niệm tám kệ ngôn, tán dương oai lực của Đấng Chánh Biến Tri, thì sẽ tránh khỏi vô số nạn tai, và sẽ chứng quả Niết Bàn tối thượng)

**Thuận Pháp st**

Tuesday, August 6, 2013

Vị Sư già và những câu chuyện “tri kỷ”!

Ngày hôm nay, một ngày đáng quên. Cũng là một ngày đáng nhớ! Đáng quên đi những chuyện xui xẻo, chuyện sinh phiền muộn; nhưng đáng nhớ vì chuyện trùng hợp mà sẽ khó phai trong tâm trí. Buổi sáng 8 giờ đi làm, con bé 13 tuổi chạy băng qua đường một cách đột ngột, đụng xe... Hai người bị trầy xước, chợt sơn. Con bé bị nặng hơn, được đưa đi viện khám kiểm tra, nhưng rồi ổn! Cùng lúc đó, nhận được tin Sư ông mới vừa mất. Thế là hình ảnh vị Sư già trong quá khứ hiện về. Có thể nói là ngày hôm nay mọi việc không tốt lành. Sự bình tĩnh chỉ phản phất khi trong tâm gợi lên sự vô thường, sự bất toại nguyện; hay cố tư duy là nghiệp bất thiện của mình trổ quả để an ủi trong lúc đó… (Tu pháp môn hên xui, nhưng xin xui vừa vừa thôi! :)

Vị Sư già thường sống đơn lẻ, bầu bạn với cỏ cây hoa lá. Cũng có lẽ Sư ông có cá tính nên cuộc sống tu hành mới “cô sơn độc trú” như vậy. Sư ông thuộc hàng trưởng lão cao hạ nhưng không vì thế mà mình cảm thấy khó gần hay khép nép như bao người khác. Ngược lại, những lúc nhớ cảnh chùa u tịch, những lúc đi làm phước thiện cúng dường hay hành thiền, mình hay mạnh dạng ghé thăm Sư ông, để được đảnh lễ Sư ông, nhưng trong lòng muốn được Sư ông pha trà uống và nghe kể chuyện xưa cũ. Mặc dù không thuộc hàng “tri kỷ” với Sư ông nhưng những lúc như vậy thì Sư ông hay kể chuyện cho nghe. Có lẽ mình bản tánh hay lắng tai nghe kể chuyện một cách chăm chú và hơn nữa lại có phúc phận là được nghe chuyện ngày xửa ngày xưa nhiều. Nếu gợi trúng mạch thì Sư ông kể suốt vài ba giờ đồng hồ mà không biết chán. Từ đó mà mình như được thấy hình bóng chân thật, đạo hạnh của các Ngài cao Tăng trưởng lão hồi xưa, được nghe các sự tích trong đạo ngoài đời với khoảng thời gian xảy ra vài chục năm trước khi mình có mặt trên cõi đời này! Rất ly kỳ, mới lạ và quan trọng là giúp cho tín tâm trong Pháp của mình thêm vững chắc.

Sư ông không phải là một Pháp sư hay thiền sư nổi tiếng cho số đông, sống thầm lặng, làm việc không kể giờ giấc, không có đệ tử thân tín hầu cạnh khi tuổi già ốm đau mặc dầu Sư ông nuôi bệnh đã vài chục năm nay L Có điều, những lời chân tình, mộc mạc của Sư ông đã và sẽ làm cho những kẻ cứng đầu như mình phải thích ứng và mềm dẻo. Một lần Sư ông cầm điếu thuốc lá đang hút dở, chăm chú và trầm mặc vào nó, nói rằng: Có vị cư sỹ Phật tử khuyên Sư bỏ thuốc lá để tốt cho sức khỏe, Sư nói tui đi tu bỏ nhà bỏ cửa, bỏ họ bỏ hàng, không đệ không tử rồi mà còn bảo tui bỏ luôn điếu thuốc nữa à, sao mà đòi hỏi ở người tu nhiều rứa! Hãy để cho tui một cái gì đó để làm bầu bạn nữa chơ! Sức khỏe của tui tui biết, bệnh của tui tui chịu, tui có biểu anh chịu giùm đâu!!!...(Thường thấy người thiện nam tín nữ không lo việc tu hành của mình, cứ lo soi mói việc tu hành của người xuất gia. Yêu cầu ông Sư phải thế này thế kia trong khi họ vô cùng dễ duôi! Trong kinh luật đức Phật khuyên chỉ các bậc đồng phạm hạnh mới có sự chê trách, xin bỏ qua những điều nhỏ nhặt lẫn nhau mà thôi!)

Chiều hôm nay, sau khi sắp xếp mọi việc, con tranh thủ lên đảnh lễ giác linh của Sư ông khi chưa tẩm liệm. Nhìn linh thể của Sư ông như đang trong giấc ngủ bình yên dù biết Sư ông đang rất bệnh nặng trước đó. Vẫn hình dáng và khuôn mặt tươi tỉnh ấy, con đã mãn nguyện để kính cẩn nghiêng mình vái lạy Sư ông lần cuối. Rồi những người thầy và các vị Sư khả kính của mình sẽ lần lượt ra đi, bất ngờ và thinh lặng…

Đời người cơn gió thoảng
Hơi thở tắt rồi đi!
Trăm năm thân thế mộng
Phủi tay cười, vô vi! (Tiễn ông bạn già ra đi, MĐ Triều Tâm Ảnh)

Khuya ngày 5/8/2013,
Thuận Pháp.